Nghị luận xã hội về Thơ văn từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ
XIX
September 12, 2014 - Chuyên mục: Văn mẫu THPT - Tác giả: qt
Đề bài: Thơ văn từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX chan chứa tấm lòng nhân đạo với nội dung đòi quyền sống
cho con người, trước hết là quyền sống của người phụ nữ. Đồng thời nó biểu dương những giá trị nhân bản mới. Hãy
dùng những tác phẩm đã học phân tích vì chứng minh nhận định trên.
Có thể nói thơ văn từ nửa sau thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX chứa chan tấm lòng nhân đạo với nội dung đòi quyền sống cho con
người, trước hết là quyền sống cho người phụ nữ. Đồng thời nó biểu dương những giá trị nhân bản mới. Những tác phẩm mới của
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Phạm Thái trong giai đoạn này đã chứng minh điều đó.
Như chúng ta đã biết, thế kỉ XVIII là thế kỉ đánh dấu sự suy tàn của chế độ phong kiến. Triều đình nhà Lê sau một thời kì phát
triển rực rỡ đã trở về quỹ đạo cũ, mọi rường cột của chế độ phong kiến bắt đầu bị lung lay, không còn đủ khả năng để ổn định xã
hội nữa. Cuộc sống con người lâm vào tình trạng bế tắc, đặc biệt là thân phận khổ đau của người phụ nữ. Cho nên chúng ta không
ngạc nhiên khi các nhà văn, nhà thơ trong thời kì này đều sáng tác về con người và đề cao người phụ nữ.
Lần đầu tiên trong nền văn học Việt Nam, Phạm Thái thề hiện cái “tôi” của mình trong văn thơ thật mạnh mẽ và chân thật. Đối
với Phạm Thái, cuộc đời con người sinh ra là để hưởng lạc, hưởng những niềm vui chính đáng của cuộc sống, chứ không gò ép
mình vào trong khuôn khổ. Phạm Thái ca ngợi cả những lạc thú mà lẽ ra trong chùa chiền không nên có. Những hình ảnh: “vãi
già đong đưa, ra vào tiểu gái lẳng lơ…” đối với Hồ Xuân Hương thì điều đó đáng khinh, nhưng đối với Phạm Thái, ông không
đay nghiên mà còn ca ngợi. Và cùng lần đầu tiên Phạm Thái viết văn tế – một loại văn bản trang trọng ưa dành ai điếu cho những
trang tuấn kiệt, những người già cả tạ thế… Thế nhưng họ Phạm lại dùng văn tế để khóc người yêu là Trương Quỳnh Như. Trong
xã hội phong kiến lúc bấy giờ, con cái chết trước cha mẹ đã là một tội “bất hiếu” rồi, đằng này Trương Quỳnh Như lại chết một
cái chết “vì người tình” thì thật là một chuyện “tày đình”. Thế nhưng Phạm Thái lại ca ngợi, khóc thương, gọi Trương Quỳnh
Như là “nương tử” và còn xưng hô “mình”, chứng tỏ ông đề cao quyền sống của người phụ nữ, ca ngợi phụ nữ, bất chấp lễ giáo
phong kiến. Cùng với Phạm Thái, tiếng nói của Hồ Xuân Hương là tiếng nói bênh vực phụ nữ. Bà căm ghét chế độ“nam quyền”
đã bóp nghẹt đời sống người phụ nữ, bà dám công khai nói đến tình yêu nam nữ, kết quả của mối tình cao đẹp:
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối thiếp xin mang…
Đứa con trong bụng, thiếp cam chịu, mặc cho miệng đời cười chê, chỉ cần chàng hiểu thiếp… Có người phụ nữ không mav chồng
chết, bà thông cảm nỗi đau ấy khi nghe tiếng khóc:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng
Nín đi kẻo thẹn với non sông.
Hồ Xuân Hương an ủi người phụ nữ bất hạnh bởi chính bà đã từng trải qua nỗi bất hạnh. Bà thông cảm sâu sắc với người phụ nữ,
Không có tâm lòng nhân đạo sâu sắc đối với con người thì làm sao Nguyễn Du thấy được “đòn gánh tre chín rạn hai vai”? Đặc
biệt trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, bằng những chứng cứ không thể chối cãi, Nguyễn Du đã nói lên tiếng lòng mình: hãy
cứu vớt lấy con người, cứu lấy người phụ nữ!
Đau đớn thay phận đàn bà.
Và ông đau đớn đến tận tim óc khi chứng kiến cảnh người kĩ nữ trở về già sống bơ vơ:
Ngẩn ngơ khi trở về già
Chồng con đâu tá, biết là cậy ai?
Vấn đề quyền sống, Nguyễn Du đặt ra cho con người, đặc biệt là người phụ nữ, nói như Xuân Diệu là: “Được đặt ra như lửa
châm nhà đã cháy, như ngàn chuông treo trên sợi chỉ mảnh, như thòng lọng đã siết vào cổ con người”. Đồng thời Nguyễn Du
cũng là người đề ra những giá trị nhân bản mới qua hình ảnh Thúy Kiều trong truyện Kiều, ông công khai ca ngợi nàng Kiều tìm
đến tình yêu:
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
và:
Xắn tay mở khóa động đào. đế đến với người yêu. Rỏ ràng, Nguyễn Du đã thề hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình đối với
mọi kiếp người, nhất là người phụ nữ. Nguyễn Du là người “nhìn xa trông rộng” nhất trong các tác giả ở giai đoạn này.
Tóm lại, nếu như nền văn học Việt Nam thế kỉ XI – XV thể hiện rõ “hào khi Đông A”, thì nền văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ
XVIII đầu thế kỉ XIX lại chứa chan tấm lòng nhân đạo với nội dung đòi quyền sống cho con người, nhất là người phụ nữ. Đồng
thời, nó biểu dương những giá trị nhân bản mới. Chúng ta cần trân trọng những tác giả, những nhà “nhân đạo chủ nghĩa” trong
giai đoạn này, đồng thời cần phải phát huy mở rộng những giá trị ấy, đưa nền văn hóa Việt Nam phát triển rực rỡ hơn cho xứng
đáng với truyền thống của nó.
Read more: />xix/#ixzz3me2zzHrm