tiểu luận về sinh thái công nghiệp cuộc cách mạng công nghiệp lần iii - Pdf 30

Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

1
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
Tóm tắt: Báo cáo bàn về các hiểm hoạ con người đã, đang và sẽ đối mặt trong
thế kỷ 21, mà xuất phát điểm của chúng lại chính từ 2 cuộc cách mạng công
nghiệp(CMCN) lần I và lần II. Phân tích làm rõ các nguyên nhân vì đâu lại dẫn
đến những hệ luỵ tiêu cực cho tương lai trái đất. Từ đó đưa ra các giải pháp sáng
tạo cho một nền công nghiệp mới lấy cảm hứng từ thiên nhiên (hệ sinh thái) tiến
đến một cuộc cách mạng công nghiệp lần III. Cuối cùng, đề xuất một số giải
pháp cho nền công nghiệp sản xuất ở nước ta.
Bao gồm các phần:
I. Đặt vấn đề
II. Tích cực, tiêu cực từ hai cuộc CMCN
III. So sánh giữa hệ sinh thái và nền công nghiệp
IV. Cuộc CMCN lần III và các giải pháp.
V. Ứng dụng cho nước ta như thế nào?
*********************************************
I. Đặt vấn đề
Vũ Trụ của chúng ta là một vũ trụ vật lý. Mọi sự sống và mọi vật quanh ta
đều vận hành theo các định luật vật lý hoàn toàn có thể đoán được. Mối
quan hệ thiết yếu giữa các định luật vật lý, lý thuyết vật lý và những điều kiện
cần thiết cho việc sản xuất, tiêu dùng và sống còn của chúng ta không được
quan tâm cho lắm trong các lớp học hiện nay. Nhưng ta có thể thấy rằng,
nhờ việc quan sát các luật vật lý học mà chúng ta hiểu được những thay đổi
nhỏ của nhiệt độ, áp suất và độ ẩm có thể tạo ra những điều phi thường trong
giới tự nhiên. Với vẻ đẹp, sự đơn giản và tính hiệu quả, các sản phẩm ấy làm
lu mờ những thành quả kỹ thuật biến đổi gen. Động lực ấy thôi thúc chúng
ta thôi tìm hiểu cách thức tự nhiên sử dụng vật lý.
Hơn nữa, nhiều nhà khoa học đã thừa nhận rằng cách đây mấy tỉ năm, sự
sống trên trái đất đã tiến hoá và thích nghi với điều kiện tương đối ổn định.

chất” Mọi thứ đều đến từ mọi thứ; mọi thứ đều làm bằng mọi thứ; mọi thứ
đều biến thành mọi thứ, tất cả những gì tồn tại trong các nguyên tố đều được
làm bằng các nguyên tố”.
II. Tích cực, tiêu cực từ hai cuộc CMCN
Thật lạ lùng khi thấy xã hội hiện đại ít có logic tự nhiên như thế nào. Để
làm mát nhà, các chuyên gia về điều hoà nhiệt độ lại bơm khí lạnh lên, Muốn
làm sạch nước, chúng ta đổ hoá chất vào để tiêu diệt mọi sự sống. Tại sao
lại trả hơn 100 đô la Mỹ cho mỗi kilowatt giờ điện từ một pin gây độc hại
cho môi trường. Một trăm ngàn tấn titan khai thác và tinh chế ở nhiệt độ cao
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

3
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
bị ném vào bãi rác khi chúng ta thải những dao cạo “dùng một lần”. Tất cả
các thành tựu trên đều là các sáng chế trong các cuộc cách mạng công
nghiệp. Mặc dù, chúng ta không hoàn toàn phủ nhận vai trò của hai cuộc
cách mạng công nghiệp, thứ đã đưa nền văn minh loài người phát triển rực
rỡ sau trong 300 năm gần lại đây, sau hơn 50.000 năm trong hang động. Các
thành tự chúng ta có thể kể đến như là:
Thành tựu của Cách mạng công nghiệp
- Năm 1733 John Kay đã phát minh ra "thoi bay". Phát minh này đã làm người thợ
dệt không phải lao thoi bằng tay và năng suất lao động lại tăng gấp đôi.
- Năm 1764 James Hagreaves đã chế được chiếc xa kéo sợi kéo được 16 - 18 cọc
suốt một lúc. Ông lấy tên con mình là Jenny để đặt cho máy đó.
- Năm 1769, Richard Arkwright đã cải tiến việc kéo sợi không phải bằng tay mà
bằng súc vật, sau này còn được kéo bằng sức nước.
- Năm 1779 Cromton đã cải tiến máy với kĩ thuật cao hơn, kéo được sợi nhỏ lại
chắc, vải dệt ra vừa đẹp vừa bền
- Năm 1785, phát minh quan trọng trong ngành dệt là máy dệt vải của linh
mục Edmund Cartwright. Máy này đã tăng năng suất dệt lên tới 40 lần.

- Ô nhiễm không khí, việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu
không khí. Ví dụ về các khí độc là cacbon mônôxít, điôxít lưu huỳnh, các
chất cloroflorocacbon (CFCs), và ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và
xe cộ. Ôzôn quang hóa và khói lẫn sương (smog) được tạo ra khi các ôxít
nitơ phản ứng với nước trong không khí (chính là sương) xúc tác là ánh
sáng mặt trời.
- Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước
rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước
ngầm.
- Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm lượng
vượt quá giới hạn thông thường)do các hoạt động chủ động của con người
như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa
học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều, hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa
ngầm. Phổ biến nhất trong các loại chất ô nhiễm đất là hydrocacbon, kim
loại nặng, MTBE, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và các hydrocacbon clo
hóa.
[2]

- Ô nhiễm phóng xạ từ việc sử dụng nguyên liệu hạt nhân.
- Ô nhiễm tiếng ồn, bao gồm tiếng ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn công
nghiệp
- Ô nhiễm sóng, do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình tồn tại
với mật độ lớn.
- Ô nhiễm ánh sáng,hiện nay con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng
một cách lãng phí ảnh hưởng lớn tới môi trường như ảnh hưởng tới quá
trình phát triển của động thực vật…
Chúng ta đã từng say sưa xen lẫn khiếp sợ khi xem các bộ về ngày tận thế,
và cầu trời cầu phật cho mình không phải rơi vào một thế giới đầy chết chóc
như vậy. Như một cơn ác mộng chỉ có trong đầu óc bất bình thường của các
tiểu thuyết gia khoa học viễn tưởng, mô tả sự hủy diệt của nền văn minh do

thế giới và vô số các cuộc chiến lớn nhỏ khác. Những tai hoạ trên theo Phật
chính là Quả của cái nhân thiếu hiểu biết(Si) của loài người. Lời phật dạy suy
cho rộng ra quả là có lý.
Tóm lại, qua những vấn đề được nêu ra, chúng ta nhận thấy rằng cuộc
cách mạng công nghiệp lần 1 và lần 2 đã thực hiện xong nhiệm vụ trong lịch
sử phát triển của loài người. Nó không còn khả năng giúp loài người giải quyết
các bài toán hiện nay. Muốn giải các bài toán này cần phải phát minh ra các
quy luật phát triển mới. May mắn thay, chúng ta đã tìm ra quy luật đó, nó có
sẵng trong tự nhiên. Việc xây dựng một hệ thống công nghiệp mới lấy cảm
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

6
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
hứng từ các hệ thống sinh thái tự nhiên là một giải pháp không phải mới,
nhưng trong đó chưa vô tận các ý tưởng từ vô số các loại động vật, thực vật,
vi sinh vật…
III. So sánh giữa hệ sinh thái và nền công nghiệp
Trong một hệ sinh thái, dựa vào các lý thuyết sinh học chúng ta đều biết
rằng các sinh vật trong tự nhiên, do sự thay đổi hoàn cảnh, môi trường
sống(hiểu theo nghĩa rộng), cũng gặp nhiều vấn đề và chúng giải quyết bằng
cách thay đổi tập tính, hành vi hoặc đột biến gien, tức là thực hiện các phép
thử khác so với quá khứ. Chọn lọc tự nhiên đào thải các phép thử sai, giữ lại
các phép thử đúng là lời giải và chỉ có sinh vật giải quyết được các vấn đề của
mình mới sống sót, tiến hoá và phát triển đến ngày nay.
Cũng vì sau nhiều lần thử và sai mới có lời giải, chỉ có cá thể, giống loài
nào có khả năng thử với số lượng lớn và đa dạng mới thích nghi được với sự
thay đổi và được chọn lọc tự nhiên giữ lại. VD: Để chắn chắn thụ thai, trong
mỗi mililít tinh dịch của người đàn ông phải có khoảng 3 triệu tinh trùng trở
lên. Ít hơn số lượng này bài toán có nguy cơ không có lời giải.
Tất cả các phép thử trên đều hướng đến một hệ sinh thái mới được tiếp

thiêu hủy chỉ giảm khối lượng vì nước trong đó bốc hơi. Ngoại trừ nước ra, đa
số các thành phần của rác đều tồn lại.
Hằng năm ở Hoa Kỳ, ước tính chi phí dành riêng cho việc vận chuyển
rác đến các bãi chứa lên đến con số gây sửng sốt là 50 tỉ đô la. Nếu cộng thêm
chi phí thu gom, chuyên chở, phân loại và vứt bỏ chất thải từ ngành xây dựng,
nông nghiệp, khai thác quặng mỏ và công nghiệp thì phí tổn quá mức khó tin
được là một ngàn tỉ đô la. Như vậy, số tiền chi cho rác hàng năm nhiều hơn
gói kích thích kinh tế năm 2008 của cả nước Mỹ, và cũng nhiều hơn thâm hụt
ngân sách to lớn ở châu Âu do chính phủ các nước này phải bơm số tiền tương
đương vào các ngân hàng suy yếu. Trong khi những khoản tiền hỗ trợ hàng
ngàn tỉ này được coi là một hoạt động hữu ích cho nền kinh tế quốc gia, thì
rõ ràng việc quản lý rác quá tốn kém quả là vô ích và tạo ra những việc làm
chẳng khi nào nên xếp vào loại thân thiện với môi trường. Sử dụng đất làm
chỗ chứa rác là điều bất hợp lý. Không thể chấp nhận nước rỉ độc hại và chi
phí ngăn chặn nó – một chi phí mà toàn xã hội phải trả, chứ các công ty không
được yêu cầu phải khấu trừ vào lợi nhuận của họ.
CHÀO ĐÓN RÁC THẢI NHƯ THẾ NÀO
Có lẽ chúng ta sẽ hiểu việc thải rác không phải là vấn đề chúng ta phải
giải quyết. Nếu một sinh vật không tạo ra rác, rất có thể nó không còn sống
hoặc ít ra cũng mắc bệnh rất nặng. Vấn đề cần xử lý ở đây là chúng ta đã
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

8
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
phung phí rác mà chúng ta thải ra. Bạn hãy lưu ý rằng quá trình biến đổi rác
thành thực phẩm vừa tiêu dùng vừa sản xuất năng lượng cho những ứng dụng
thương mại cũng như trong gia đình thì các hệ sinh thái không bao giờ cần nối
điện. Không một thành viên nào của hệ sinh thái phải sử dụng nhiên liệu hóa
thạch hay điện lưới để có đầu ra; và cũng không một hệ thống tự nhiên nào
lại xả rác. Trong tự nhiên, chất thải từ quá trình này luôn là chất dinh dưỡng,

sẽ thấy một thực tế phong phú và đa dạng. Càng phong phú chừng nào, nó
càng có nhiều đầu ra hơn với số đầu vào ít hơn và tính đa dạng cũng sẽ lớn
hơn. Các hệ sinh thái không phát triển thành cơ chế độc quyền với một ít
đấu thủ chi phối tất cả. Chúng phô bày những đặc tính gần với điều kiện thị
trường mà nhà sáng lập kinh tế học hiện đại Adam Smith đã đề xuất; hàng
ngàn đấu thủ điều chỉnh chính xác hoạt động của mình, như thể có một
bàn tay vô hình hướng họ đến sự phân phối và sử dụng nguồn lực tốt nhất.
ĐỘ BỀN VỮNG
Rất thường khi ngành công nghiệp tìm thấy những chất tự nhiên thay thế
các sản phẩm hiệu quả nhưng độc hại, rồi sản xuất những chất ấy theo phương
thức truyền thống “đun nóng, tăng áp” , tạo ra một dấu chân carbon quá lớn.
Hay khi ngành công nghiệp đã tìm thấy những giải pháp sinh học, nhưng để
chắc chắn đạt được những kết quả “có thể dự đoán trước” , họ lại dừng
phương pháp nhân dòng vô tính và thủ thuật biến đổi gen. Như vậy, việc lấy
cảm hứng từ tự nhiên để tìm những hợp chất thay thế sản phẩm tiêu chuẩn
của thị trường đòi hỏi nhiều hơn một sự thay đổi đơn thuần từ hợp chất này
sang hợp chất khác . Hợp chất và hệ thống sản xuất phải mô phỏng các quá
trình tự nhiên để đạt tới sự hội tụ ở trạng thái bền vững theo mong muốn. Hệ
sinh thái cung cấp một cẩm nang dựa vào vật lý và tự nhiên cho việc lựa chọn
vật liệu và phương pháp sản xuất.Trên cơ sở đó, nó đề xướng một dòng thác
sáng tạo và tái tạo, một dòng thác của những đổi mới khả thi. Như vậy, chúng
ta có được sản phẩm lâu bền, hoạt động sản xuất và hệ thống tổng thể bền
vững. Về mặt lợi ích kinh tế , điều ấy dẫn đến những sản phẩm những quy
trình và mô hình kinh doanh có sức cạnh tranh, vượt xa những hoạt động kinh
doanh cũ.
IV. Cuộc CMCN lần III và các giải pháp.
Chúng ta có thể tóm gọn lại các dấu hiệu cho thấy sự kết thúc của cuộc
cách mạng công nghiệp lần 2:
- Sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, biểu hiện là sự liên tục tăng giá dầu
mỏ. Đòi hỏi còn người phải tìm các loại nguyên liệu mới.

Chúng ta có thể nhận ra rằng, năm trụ cột trên mô phỏng một hệ sinh thái
tự nhiên. Trong đó các nhà ở, nhà máy, công trình kiến trúc có sự trao đổi
thông tin (nhờ internet), năng lượng và vật chất( nhờ hệ thống liên kết vd:
mạng điện). Đặc biệt hơn chúng ta sử dụng các nguồn năng lượng dồi dào
trong như gió, ánh sáng… Như vậy các công trình, các phương tiện của chúng
ta không còn dựa trên quy tắc 1 chiều : Thu năng lượng và xã chất thải. Tất
cả như được sống thật sự trong một vòng tuần hoàn khép kín.
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

11
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
Các giải pháp đột phá có thể thực hiện
 Xoá bỏ hoang mạc
Nhờ hiểu rõ các quy luật của tự nhiên, chúng ta sẽ phục hồi lại những gì
thế hệ trước đã gây ra cho tự nhiên. Những sa mạc, thảo nguyên, những vùng
đất chua sẽ trở thành các rừng rậm nhiệt đới nhờ các quy luật vật lý, luật cộng
sinh giữa các loài sinh vật, giúp cây cối có thể phát triển trong điều kiện khó
khăn. Vd: sự kết hợp giữa thông Caribe và nấm mycorrhiza đã biến vùng thảo
nguyên khô cằn Vichada ở Columbia trở lại thành rừng mưa như xưa. Hoặc
Isareal, một nước không có lợi thế về tự nhiên đã áp dụng các thành tự khoa
học vào sản xuất nông nghiệp trên sa mạc, không chỉ đủ ăn trong nước mà
còn xuất đi các nước khác.
 Xoáy nước thay cho hoá chất.
Các hệ thống tự nhiên không giải quyết vấn đề nhiễm khuẩn bằng các trận
mưa hoá chất có tính huỷ diệt. Chúng ta có thể học cách tự làm sạch của
các dòng sông. Lợi dụng vật lý và nhu cầu dinh dưỡng của các họ vi khuẩn
khác nhau. Chuyển động cuồn cuộn của các dòng liên tục tạo ra các xoáy
nước. Một xoáy nước làm tăng áp suất ở trung tâm của nó đến mức độ sức
ép và lực ma sát trong phạm vi nanomet chọc thủng màng vi khuẩn. Rồi các
loài vi khuẩn ấy trở thành mồi cho loài khác ở đấy sông. Thức ăn phân kết
Ích lợi:
- Tạo vòng tuần hoàn vật chất và tạo việc làm
- An ninh lương thực
- Giảm lượng ruồi ở các vùng khác(vì ruồi tập trung hết ở đây)
- Bảo vệ môi trường.
 Khám phá các khả năng mới về năng lượng.
Thiên nhiên khai thác 6 nguồn điện: Nhiệt, ánh sáng, lực ma sát, áp suất,
từ trường và những hệ thống sinh hoá. Lực từ trường góp phần lớn vào
việc sản xuất điện trên toàn thế giới. Những nhà máy điện, cho dù là nhiệt
điện, thuỷ điện, hay hạt nhân tất cả đều ứng dụng hiện tượng cảm ứng
Ruồi
Chất thải
lò mổ
Dòi
Thức ăn
cho cá
Enzim chữa
vết thương
Ngâm nước
muối
Để nhả enzim
Thức ăn
cho chim
cút
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

13
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III

dựng một nền công nghiệp mới. Nguyên nhân nằm ở lợi ích quốc
gia.
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

14
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
CƠ HỘI
Song song với khó khăn luôn là các cơ hội mở ra, dưới đây là những
có hội có được từ cuộc CMCN lần III:
1. Tạo ra vô số công ăn việc làm mới.
2. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
3. Ngăn chặn cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3.
4. Đảm bảo sự phát triển bền vững của cả hành tinh.
V. Ứng dụng cho nước ta như thế nào?
Hiện nay, nước ta khá nổi tiếng với việc xuất khẩu cà phê và gạo trên toàn
thế giới. Hai hoạt động xuất khẩu trên để lại trong nước ta một lượng chất thải
khá lớn bao gồm, vỏ trấu, thân cây lúa và thịt hạt café. Mặc khác, Khi chuyển
sang thế kỷ XXI , nấm đã vượt qua cà phê , trở thành mặt hàng trao đổi nhiều
thứ hai trên thế giới. Thiết nghĩ, nước ta có một nguồn nguyên liệu rất lớn từ
phế thải của 2 mặt hàng chủ đạo có thể dùng trồng nấm, trong khi đó giá nấm
và nhu cầu sử dụng nấm đang tăng lên rất nhanh vì sự nhận thức được giá trị
dinh dưỡng và giá trị thuốc của nấm. Theo một thống kê mới đây: mỗi người
Mỹ dùng 175 gram nấm/ năm; người Canada gấp đôi người Mỹ và mỗi người
Hồng Kông đạt con số khá ấn tượng 13.6 kg/năm, nêu người Mỹ ăn như
Canada hay Hồng Kông thì đây chính là một cơ hội to lớn cho Viêt Nam. Giờ
đây, một cơ hội mới xuất hiện làm tăng thêm giá trị của cả hai: nấm trồng trên
chất thải cà phê, trấu và rơm. Phần lớn chất thải phát sinh ở nông trại sau khi
lấy hạt, được gọi là “thịt quả”. Việc pha chế cà phê tạo ra dòng thải thứ hai
gọi là “bã”. Từ khi hạt cà phê rời nông trại cho đến lúc nấu xong bình cà phê
, 99.8% sinh khối bị thải bỏ và chỉ có 0.2% được người uống cà phê hấp thụ.

lẫn việc cấy bào tử
đều chỉ cần nước
nóng
ÍT metan HƠN
Bã cà phê sử dụng
nén không phân
hủy ở bãi rác và ít
thải khí nhà kính
hơn
NHANH HƠN
Caphein khiến
nấm mọc nhanh
hơn
ÍT đồng cỏ hơn
Thân nấm còn lại
sau thu hoạch là
thức ăn lý tưởng
cho gia súc
RẺ HƠN
Nguyên liệu miễn
phí
ÍT đốn cây hơn
Cà phê là một loại
cây gỗ cứng và
thay thế cây sồi
rất tốt
BỔ DƯỠNG
HƠN
Nấm giàu protein,
lại không có

đã làm hoen ố việc độc canh cà phê trong nhiều thập kỷ. Hơn nữa, cà phê với
tính cách là một nông sản hàng hóa chỉ đem lại sinh kế cho chủ nông trại và
cộng đồng của họ khi giá thị trường cao. Ở thời điểm cà phê hạ giá xuống dưới
một ngưỡng nhất định , chủ nông trại, gia đình và cộng đồng của họ phải chịu
khổ. Những lần sụt giá đáng kể , cái nghèo lại đến khủng khiếp đến nỗi nhiều
người trồng cà phê ở Tây Nguyên đã cày lấp bụi cà phê, trở lại tình trạng canh
tác tự cung tự cấp và vài con bò trên mảnh đất của họ và ít có cơ may, và thậm
chí không bao giờ có cơ may kiếm đủ sống nữa. Mất khả năng nuôi gia đình và
không được chuẩn bị làm việc gì khác để cứu họ khỏi đói, người chủ vườn cà
phê cùng vợ co mình dưới các khoản nợ, tìm những việc làm lương thấp với một
tương lai u ám.

Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

17
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
Nấm
Học phần : SINH THÁI CÔNG NGHIỆP

18
Cuộc cách mạng công nghiệp lần III
KẾT LUẬN:
Các nền văn minh xuyên suốt lịch sử đã trải qua những khoảnh khắc quyết
định nhận thức được thời điểm họ buộc phải thay đổi hướng đi một cách triệt
để nhằm đáp ứng một tương lai mới hoặc đối mặt với viễn cảnh sụp đổ. Một số
nền văn minh có khả năng biến đổi theo thời gian, một số khác thì không. Tuy
nhiên, trong quá khứ, hậu quả khi các nền văn minh sụp đổ chỉ giới hạn trong
không gian và thời gian mà không ảnh hưởng đến toàn thể các loài. Điều khiến
cho thời kỳ này khác biệt chính là xác suất ngày càng tăng của sự thay đổi định
tính trong nhiệt độ và cấu tạo của Trái đất do biến đổi khí hậu mang lại, điều
này có thể khơi mào sự tuyệt chủng hàng loạt của các loài động thực vật và cùng
với đó là khả năng tuyệt diệt quy mô lớn của chính loài người.
Nhiệm vụ trọng yếu trước mắt của chúng ta là khai thác các nguồn vốn công,
vốn thị trường, và đặc biệt là vốn xã hội của loài người để thực hiện sứ mệnh
chuyển dịch thế giới sang nền kinh tế Cách mạng công nghiệp thứ ba và kỷ
nguyên hậu carbon. Một sự chuyển đổi ở quy mô này sẽ đòi hỏi một bước nhảy
vọt đồng thời đến với ý thức sinh quyển. Chỉ khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ như
một gia đình toàn cầu mở rộng không chỉ bao gồm loài người mà còn tất cả
những người bạn đồng hành khác trong hành trình tiến hóa trên Trái đất, chúng
ta mới có thể cứu cộng đồng sinh quyển chung và phục hồi hành tinh này cho
các thế hệ tương lai.
Tài liệu Tham khảo:
- The Blue Economy (GS.TS Gunter Pauli)
- Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần III (Jeremy Rifkin)
- http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_c%C3%B4n
g_nghi%E1%BB%87p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status