TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHOÁ (2011 – 2015)
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP, QUYỀN VÀ
NGHĨA VỤ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
BẢO HIỂM
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Cao Nhất Linh
Bộ môn: Luật thương mại
Cần Thơ, tháng 12, năm 2014
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Giang
MSSV: 5115706
Lớp: Thương mại 1- K37
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, những người bạn của
lớp Luật Thương mại 1 khóa 37 đã quan tâm, động viên, giúp đỡ em tìm kiếm, thu
thập tài liệu, thảo luận với em về những vấn đề còn vướng mắc trong suốt thời gian
làm luận văn. Em rất cảm ơn cha mẹ đã không ngại khó khăn để chăm lo cho em suốt
những năm tháng đại học, cha mẹ đã tiếp thêm nguồn động lực giúp em vượt qua
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Cần thơ, ngày…tháng…năm 2014
Giảng viên hướng dẫn
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
............................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sống trong lịch sử, loài người đã phải chịu đựng và chứng kiến bao hiểm họa, nào
là động đất, núi lửa, bảo lụt, hạn hán, sống thần, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn giao
thông, hỏa hoạn,… Rủi ro, hiểm họa đã xảy ra thường bất ngờ không biết trước về thời
gian, địa điểm, quy mô và mức độ thiệt hại. Chính sự tồn tại của rủi ro cho nên rất cần sự
xuất hiện của bảo hiểm, đây cũng là nguyên nhân cho sự ra đời của bảo hiểm. Đến nay,
trong xã hội hiện đại, mặc dù khoa học kỹ thuật phát triển nhưng không thể loại trừ yếu
tố bất lợi có tính khách quan đó. Dù muốn hay không thì hiểm hoạ, rủi ro đã, đang và sẽ
còn xuất hiện chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, doanh nghiệp và toàn
xã hội. Do đó, bảo hiểm trong hiện đại ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn với nền
kinh tế hiện nay, bảo hiểm không chỉ góp phần xử lý ngăn chặn rủi ro mà còn một trung
gian tài chính, một công cụ phát triển kinh tế quan trọng.
Ngành bảo hiểm nước ta ra đời khá muộn hơn so với các nước khác trong khu vực
và thế giới. Tuy nhiên, kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và cùng với
sự mở cửa của thị trường tài chính Việt Nam, ngành bảo hiểm đã có những bước tiến
đáng kể, không chỉ thực hiện việc huy động vốn cho nền kinh tế mà điều quan trọng là
góp phần bảo đảm sự ổn định tài chính cho các cá nhân, gia đình, cho mọi tổ chức, doanh
nghiệp để khôi phục sản xuất kinh doanh. Bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò
tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc
sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành giàu tiềm năng phát
triển và thu hút rất nhiều lao động.
Những vấn đề về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm, đây
cũng là vấn đề cần được quan tâm. Để cá nhân, tổ chức muốn thành lập Công ty cổ phần
bảo hiểm hiểu rõ hơn pháp luật về thành lập Công ty cổ phần bảo hiểm, ngoài ra, cần biết
được Công ty cổ phần bảo hiểm có những quyền gì và nghĩa vụ ra sao với bên mua bảo
hiểm. Vấn đề này được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ
sung năm 2010) và các văn bản khác có liên quan, đây là một văn bản hết sức là quan
trọng. Đối với những ai đã và đang nghiên cứu, học tập trên lĩnh vực này thì vấn đề về
“Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm”, do điều kiện
về thời gian và thời lượng không cho phép, cho nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu
một loại hình Công ty bảo hiểm đó là Công ty cổ phần bảo hiểm được thành lập từ nguồn
vốn trong nước, không đề cập đến Công ty cổ phần bảo hiểm có nguồn vốn nước ngoài.
Trên cơ sở lí luận chung về bảo hiểm và Công ty cổ phần bảo hiểm, người viết đi sâu vào
phân tích một số vấn đề liên quan như: điều kiện, thẩm quyền thành lập, quyền và nghĩa
vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm. Qua đó, người viết nhận thấy một số hạn chế của pháp
luật, đồng thời đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về Công ty cổ phần bảo hiểm
ở Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình làm bài nghiên cứu hoàn thiện luận văn, người viết đã sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu sau để giúp hoàn thành tốt luận văn:
Phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành.
Phương pháp so sánh đối chiếu với các văn bản pháp luật.
Phương pháp diễn dịch, tổng hợp các vấn đề đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 2
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
Bên cạnh đó, người viết có tìm hiểu và tham khảo thêm một số loại sách, giáo
trình, các trang web,… để làm sáng toả và giải quyết tốt các vấn đề được đặt ra và để bổ
sung giúp hoàn thiện tốt luận văn.
5. Cấu trúc đề tài
Với đề tài nghiên cứu như trên, ngoài phần lời mở đầu, mục lục, nội dung của luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm và Công ty cổ phần bảo
Bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu đời trong lịch sử nhân loại. Ngay từ thời kì cổ đại,
loài người đã gặp phải nhiều thiên tai, hỏa hoạn,… để khắc phục hậu quả trên, việc hình
thành các quỹ dự trữ lương thực để phòng ngừa khả năng mất mùa hay giặc ngoại xâm đã
được xem như là hình thức sơ khai của hoạt động bảo hiểm. Lúc bấy giờ chưa có một
khái niệm nào về bảo hiểm. Ngày nay trên thế giới, với nền kinh tế thị trường ngày càng
phát triển thì bên cạnh đó lại xuất hiện thêm nhiều rủi ro, cho nên người ta không thể
hình dung nổi một nền kinh tế thị trường mà không có mặt của các đảm bảo của bảo
hiểm. "Rủi ro" là hai từ không ai trong chúng ta muốn nghe tới hay phải nhắc đến. Nhưng
trong cuộc sống hàng ngày, rủi ro là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Người ta thường ví
cuộc sống không có bảo hiểm như “cầu thang không có tay vịn”, đồng nghĩa với việc
gặp nguy hiểm bất cứ lúc nào mà không ai có thể đoán trước được rủi ro. Vấn đề là làm
sao hạn chế được rủi ro và cách khắc phục nó. Chính vì lẽ đó mà bảo hiểm đã phát triển
rộng rãi và thực sự đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với các sản phẩm
hết sức đa dạng, phong phú. Ban đầu, các hoạt động bảo hiểm ra đời là do nhu cầu ổn
định sản xuất, kinh doanh và đời sống với chức năng chủ yếu là phòng ngừa, khắc phục
những rủi ro hoặc tai nạn bất ngờ. Ngày nay, các tổ chức bảo hiểm hoạt động còn với vai
trò như một tổ chức tài chính trung gian, thực hiện chức năng thu hút vốn tiết kiệm trong
xã hội, phục vụ cho nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Bảo hiểm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo quan điểm và góc
độ của người nghiên cứu. Bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã
hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ,…
Theo Dennis Kessler: “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của
1
số ít”.
Theo Monique Gaullier: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người
được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để
cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một
khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo
đối tượng bảo hiểm do những rủi ro đã thỏa thuận gây ra với điều kiện người được bảo
hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”.
Như vậy, có thể thấy hầu hết các định nghĩa đều khẳng định được: Bảo hiểm là một hiện
tượng vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Nhưng dù ở góc độ nào thì bảo hiểm
vẫn phải đảm bảo được các nội dung:
Một là: Bảo hiểm phải là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ của bên bảo hiểm chủ yếu
trên cơ sở thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.
Hai là: Bên bảo hiểm phải cam kết chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
(trong trường hợp bảo hiểm tính mạng) hoặc bồi thường cho bên được bảo hiểm (trong
trường hợp bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự) khi đối tượng được bảo hiểm gặp phải
những tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm gây ra.
Tóm lại, bảo hiểm là hoạt động tạo lập quỹ tiền tệ (hay còn gọi là quỹ bảo hiểm)
của bên bảo hiểm chủ yếu từ phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và sử dụng quỹ đó để
bù đắp những thiệt hại. Việc khắc phục được những thiệt hại sẽ đảm bảo cho quá trình
sản xuất diễn ra bình thường. Điểm đáng chú ý ở đây là bảo hiểm đã trở thành quy luật đi
2
Phan Thị Cúc, Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 22.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 5
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
vào đời sống và nó mang tính chuyên môn cao và bên trong còn tiềm ẩn một mối quan hệ
kinh tế, đó là mối quan hệ kinh tế giữa những người đóng góp vào quỹ bảo hiểm và
người sử dụng và quản lý quỹ bảo hiểm. Trong tương lai mối quan hệ này sẽ được củng
người tham gia bảo hiểm khi các sự cố bảo hiểm xảy ra.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 6
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
Tóm lại, việc nghiên cứu đặc điểm của bảo hiểm có ý nghĩa thiết thực đến việc
quản lý, tổ chức triển khai nghiệp vụ bảo hiểm, đến phương thức hình thành và phân phối
sử dụng quỹ bảo hiểm.
1.1.3 Bản chất của bảo hiểm
Bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho
tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu. Nói cách khác, bảo hiểm hoạt động dựa
trên quy luật số đông. Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một “sự đóng góp của số
đông vào bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng
đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Như vậy, thực chất mối
quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo hiểm và
người được bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm
trong cùng một cộng đồng bảo hiểm xoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo
hiểm, một hình thức đặc biệt của các khoản dự trữ bằng tiền.
Theo quan điểm kinh tế, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính quan trọng. Bảo hiểm
là một hình thức đặc biệt của việc tạo lập và sử dụng các khoản dự trữ bằng tiền.
“Các mối quan hệ kinh tế nảy sinh gắn với việc tạo lập và phân phối quỹ bảo hiểm
được thể hiện ở hai mặt:
- Mặt thứ nhất: Chúng nảy sinh trong quá trình đóng góp phí bảo hiểm để hình
thành quỹ bảo hiểm.
- Mặt thứ hai: Chúng nảy sinh trong quá trình sử dụng quỹ bảo hiểm.”3
Trong đó, những người tham gia bảo hiểm sẽ đóng góp vào khoản tiền của họ vào
không bằng nhau, nghĩa là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với
số tiền như nhau. Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia bảo
hiểm không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức
thiệt hại thực tế và điều kiện bảo hiểm. Điều đó cũng có nghĩa là, phân phối trong bảo
hiểm không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm nhưng
không tổn thất thì không phân phối (trừ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí).
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung việc tuyệt đối hoá vai trò của kinh
tế Nhà nước và kinh tế tập thể nói chung và sự độc quyền Nhà nước trong lĩnh vực bảo
hiểm đã làm cho các mối quan hệ của bảo hiểm trở nên đơn giản và việc sử dụng quỹ bảo
hiểm trở nên kém hiệu quả. Sự chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường hiện nay đã tạo
tiền đề khách quan và cơ sở vững chắc cho các hoạt động bảo hiểm.
Bên cạnh đó, việc hình thành một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần sẽ làm
cho các mối quan hệ kinh tế (trong đó các mối quan hệ thuộc bảo hiểm) sẽ trở nên đa
dạng, phức tạp. Bảo hiểm, ở mọi góc độ (doanh nghiệp, sản phẩm, quản lý Nhà nước,
hiệp hội,…) bức thiết phải được xây dựng và hoàn thiện nhanh chóng nhằm phát huy
chức năng vốn có của mình: Bảo vệ con người, bảo vệ tài sản, của cải vật chất của xã hội.
1.1.4 Vai trò và sự cần thiết của bảo hiểm trong đời sống kinh tế quốc dân
Như chúng ta đã biết, bảo hiểm đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm nay.
Do nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu
đối với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Ngày nay, sự giao lưu kinh tế giữa
các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểm cũng càng mở rộng. Hoạt động của bảo hiểm
thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trong điều kiện kinh tế
hàng hóa phát triển với nhiều thành phần kinh tế, số lượng Công ty bảo hiểm ngày càng
tăng, tầm hoạt động không ngừng được mở rộng, đã vượt qua lãnh thổ của mỗi quốc gia.
Điều đó đã chứng tỏ được rằng bảo hiểm có một vị trí khá quan trọng và vai trò rất to lớn
trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò của bảo hiểm nổi bật ở những điểm sau:
Thứ nhất, bảo hiểm giữ vai trò trung tâm trong các chức năng của nền kinh tế hiện
đại.
4
trước một cách có ý thức mà các cơ sở sản xuất có thể xây dựng lại một cơ sở vật chất,
máy móc thiết bị đã bị cháy, bị động đất, bị mất cắp,…
Vai trò của bảo hiểm thể hiện trên nhiều phương diện. Bù đắp thiệt hại, khắc phục
tổn thất là vai trò chủ yếu của bảo hiểm, là tiền đề cho bảo hiểm ra đời. Ngoài ra, bảo
hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư
vào những lĩnh vực khác. Như vậy, trên phạm vi rộng trên toàn bộ nền kinh tế - xã hội,
bảo hiểm đóng vai trò như công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu
dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế. Đặc biệt, tạo cho người dân an tâm sản xuất,
không ngại đầu tư, kinh doanh và sản xuất.
Thứ ba, bảo hiểm đóng vai trò trung gian tài chính trong hệ thống tài chính quốc
gia.
Với sự phát triển ngày càng tăng cao của nền kinh tế, cuộc sống con người và cả
trong việc kinh doanh ngày càng gặp nhiều rủi ro, tổn thất. Để đối phó với những vấn đề
trên đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải bỏ ra một khoản tiền lớn lập quỹ dự phòng. Thay vì
người dân phải bỏ ra một khoản tiền lớn để lập quỹ thì người dân sẽ đóng cho các Công
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 9
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
ty bảo hiểm một khoản phí nhỏ hơn mà vẫn đảm bảo mức độ an toàn tương đối về khả
năng tài chính và có thể dùng tiền đó để nâng cao đời sống hoặc đầu tư kinh doanh.
Thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các Công ty bảo hiểm đã tập trung lượng tiền phân
tán rải rác thành những quỹ tiền tệ khá lớn. Quỹ bảo hiểm đã trở thành một định chế tài
chính trung gian quan trọng và cũng là một mảng đậm nét góp phần khắc họa vai trò của
Công ty bảo hiểm trong kinh tế thị trường. Với vai trò trung gian tài chính, Công ty bảo
hiểm thực hiện các hoạt động thu hút, tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi, chuyển hóa vốn
Nguyễn Tiến Hùng, Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, Nxb Tài chính, Tp. Hồ Chí Minh, 2007, tr. 20-21.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 10
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Là một loại dịch vụ đặc biệt và với vai trò
trung gian tài chính quan trọng, cho nên bảo hiểm không được tiến hành một cách qua
loa, tự do, mà phải dựa trên cở sở một số nguyên tắc cơ bản, theo giáo trình nguyên lý
bảo hiểm thì gồm có những nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: Chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (fortuity not
certainty)
Theo nguyên tắc này, nhà bảo hiểm chỉ bảo hiểm rủi ro, tức là bảo hiểm một sự
cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của người
tham gia bảo hiểm hoặc của người được bảo hiểm và không thể biết trước. Nhà bảo hiểm
không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường
những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc
chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra. Cụ thể trong thực tế, một người biết rằng con tàu không
đảm bảo chất lượng, không đủ khả năng đi biển, thế nhưng họ dẫn cố tình đi dù biết rằng
họ chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm. Trong tình huống này, thì Công ty bảo hiểm sẽ có quyền
từ chối chi trả bảo hiểm vì đấy là tai nạn mà chủ tàu đã biết xảy ra. Nhà bảo hiểm cũng
không bảo hiểm cho những sự việc đã xảy ra. Ví dụ: Anh A sau một đợt kiểm tra tổng thể
sức khỏe, đã phát hiện bản thân bị nhiễm HIV, ngay sau đó anh A đã mua bảo hiểm sức
khỏe cho mình. Trong trường hợp này nếu Công ty bảo hiểm phát hiện ra anh A đã bị
bệnh trước khi giao kết hợp đồng bảo hiểm thì có quyền không trả tiền bảo hiểm cho anh
A. Thậm chí, có thể bị tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu có yêu cầu của một trong
bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tai nạn và cũng không được nhận bảo
hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.8 Ngoài ra, trong trường hợp người
được bảo hiểm khi biết những thay đổi có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm như: Thay
đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng thêm
rủi ro,… thì người được bảo hiểm phải nhanh chống và kịp thời thông báo cho bên bảo
hiểm biết.
Sở dĩ, có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc
người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi
ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa
vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và
quyết định thái độ của mình đối với rủi ro là nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo
hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu,... Do
đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách
đầy đủ, trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến
đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp
đồng.
Nguyên tắc 3: Quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest)
Quyền lợi có thể được bảo hiểm được tạo lập cho một tổ chức, một cá nhân nếu tổ
chức hay cá nhân này có lợi ích kinh tế hợp pháp bị tổn hại khi đối tượng bảo hiểm chịu
ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quyền lợi có thể được bảo hiểm (lợi ích có thể được bảo
hiểm) được hình thành từ các căn cứ như là: Quyển sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng hợp pháp đối với tài sản; quyền về nhân thân, quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, cấp
dưỡng; quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Đối với người có quyền lợi có thể được bảo
hiểm là người có quan hệ với đối tượng bảo hiểm và được pháp luật công nhận. Đó có thể
là người chủ sở hữu của tài sản, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận
cầm cố tài sản.9 Những người này có quyền ký kết hợp đồng bảo hiểm cho tài sản và
7
Phan Thị Cúc, Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 31.
Phan Thị Cúc, Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 32.
để trục lợi. Tức là, số tiền bảo hiểm bồi thường những tổn thất xảy ra không vượt quá số
tiền bảo hiểm tối đa ghi trong hợp đồng và cũng không được lớn hơn thiệt hại thực tế.
Còn với người được bảo hiểm thì không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn
thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng
chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại. Nguyên tắc bồi thường
phụ thuộc chủ yếu vào việc đánh giá tài chính, cũng như khi xem xét giá trị sinh mạng
hoặc bồi thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính xác.
Nguyên tắc 5: Thế quyền (subrogation)
Theo từ điển Bách khoa toàn thư, ta hiểu “Thế quyền là quyền của một người, sau
khi bồi thường cho người khác theo một nghĩa vụ pháp lý, có thể thay thế vị trí của người
đó, cũng như hưởng mọi quyền lợi hợp pháp của người đó bất chấp quyền lợi của người
đó đã được thực thi hay chưa”.
Theo định nghĩa trên thì nguyên tắc thế quyền được hiểu, sau khi Công ty bảo
hiểm đã giải quyết khiếu nại cho người được bảo hiểm và một bên khác phải chịu trách
nhiệm đối với chi phí tổn thất, thì bên thứ ba này không được trốn tránh nghĩa vụ tài
10
11
Phan Thị Cúc, Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 32.
Phan Thị Cúc, Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Nxb Thống kê, Tp. Hồ Chí Minh, 2008, tr. 32.
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 13
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
chính của mình. Vì vậy, sau khi thanh toán bồi thường cho khiếu nại, Công ty bảo hiểm
muốn đó. Người ta đã nhận thấy rằng tỉ lệ rủi ro, tổn thất ngẫu nhiên ngoài ý muốn xảy ra
với tỉ lệ rất thấp, nhưng rất khó để triệt tiêu tuyệt đối, cần phải có nguồn quỹ quyên góp
dự phòng sẵng để kịp thời giúp người dân hoặc tổ chức không may bị tổn thất do thiên
tai, dịch họa, tai nạn, hỏa hoạn,… và mọi sự bất cẩn đưa tới. Như vậy, rủi ro, tổn thất
ngoài ý muốn, nếu được càng đông người quan tâm thì sự bất hạnh của người đó giảm
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 14
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
thiểu một cách chủ động và tự giác nhờ có cá nhân và tổ chức biết đứng ra quyên góp quỹ
dự phòng. Cách xử lý đó dựa trên ý niệm “Cộng đồng hóa rủi ro, hiểm họa”.
Từ thời cổ xa xưa cũng đã từng có chế độ giúp đỡ lẫn nhau theo kiểu bảo hiểm
như vậy. Mãi cho đến thời đại gần đây, khi sản xuất xã hội ngày càng phát triển mạnh
mẽ, đồng thời theo đà phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng lưu thông hàng hóa tiền tệ,
trước những đòi hỏi cấp bách phân tán rủi ro trong quá trình sản xuất trao đổi hàng hóa,
hoạt động bảo hiểm với tư cách dịch vụ tài chính đã ra đời. Nói tóm lại, bảo hiểm ra đời
khi có rủi ro phát sinh, tức là những tổn thất làm thiệt hại đến những lợi ích, tài sản, sức
khỏe, tính mạng con người,…
1.2.1 Lịch sử phát triển của bảo hiểm trên thế giới
Những tài liệu nghiên cứu về lịch sử nền văn minh thế giới đã ghi nhận dấu ấn
phôi phai của hoạt động cộng đồng hóa rủi ro. Khoảng 4000 năm trước Công nguyên,
những người thợ dẻo đá ở Ai Cập đã lập ra các quỹ tương hỗ để giúp đỡ, chia sẽ rủi ro
cho những người hoạn nạn12. Ngoài ra, những người Ba-Bi-Lon đã đưa ra các quy tắc tổ
chức các phương tiện vận tải bằng xe kéo để phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị
cướp cho các thương gia cùng nhau chia sẽ bớt những mất mát, hư hỏng. Những người
Trung Hoa cổ đại thời vua Chu vào khoảng 500 trước Công nguyên cũng đã sử dụng kĩ
đầu tiên trong ngành bảo hiểm. Sau đó là sắc lệnh của Philippe e Bourgogne năm 1458,
những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558.
Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng
hóa. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào
nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội. Mở đường cho sự phát triển này là luật 1601
của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth, sau đó là Chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn
và Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng
hải.13
Sau bảo hiểm hàng hải là sự ra đời của các loại bảo hiểm khác. Trước hết cần nói
đến là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn. Năm 1667, Công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra
đời, được đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 02/9/1666, hỏa
hoạn kéo dài trong nhiều ngày và đã hủy diệt khoản 13.200 căn nhà trong đó có hơn 100
nhà thờ trong vòng bốn ngày liên tiếp. Điều đó đã để lại một sự thiệt hại quá lớn không
thể cứu trợ được. Trong hoàn cảnh đó, các nhà chức trách thành phố Luân Đôn đã nghĩ ra
việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo
hiểm hỏa hoạn. Đó là những cơ sở cho ra đời các Công ty bảo hiểm hỏa cháy ra đời. Năm
1684, Công ty bảo hiểm cháy Friendly Society Fire Office được thành lập, Công ty hoạt
động trên nguyên tắc tương hỗ với hệ thống phí bảo hiểm cố định, người được bảo hiểm
phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Sau đó, nhiều Công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra
đời ở nước Anh như là: “Amicable (1696); Sun (1710); Union (1714); Westminister
(1717),…14 Do ảnh hưởng của vụ hỏa hoạn đầu tiên ở Luân Đôn, năm 1786, ở nước
Pháp, Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên được thành lập đó là: “Company L’assurance
Centree L’incendie” và “Company Royade” (năm 1788).15 Bảo hiểm nhân thọ cũng đã
được ghi nhận hình thành rất sớm, vào năm 1583 ở Anh quốc, năm 1759 ở Hoa Kỳ.
Cuối thế kỷ XIX, cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí,
hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện và phát triển rất nhanh như bảo hiểm tai nạn,
bảo hiểm vỡ kính, bảo hiểm mưa đá và băng tuyết, bảo hiểm ô tô, bảo hiểm máy bay, bảo
hiểm trách nhiệm dân sự,… Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tếxã hội và ngành bảo hiểm đang giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc
gia, nhất là các nước phát triển.16
Công ty bảo hiểm nào được thành lập. Điều đó cho ta thấy, hoạt động bảo hiểm ở nước ta
ít nhiều cũng đã có những bước phát triển ngay từ thời thực dân Pháp. Cho tới khi miền
Bắc được giải phóng, đất nước bị chia cắt, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở miền Nam
khá phát triển dưới chế độ Ngụy quyền.
Ở miền Nam trước năm 1975, có hơn 52 Công ty trong và ngoài nước đã triển
khai các loại hình nghiệp vụ khá đa dạng như bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm chuyên chở,
bảo hiểm xe tự động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm tai nạn lao động,... Các Công ty hoạt
động khá mạnh mẽ, đáp ứng được phần nào nhu cầu về bảo hiểm trên toàn thị trường
miền Nam. Các Công ty bảo hiểm trong nước thường được thành lập dưới dạng Hội vô
danh và Hội tương hỗ. Các Công ty nước ngoài thành lập ở Việt Nam dưới hình thức
Công ty chi nhánh. Hầu hết các Công ty đều đặt trụ sở chính ở Sài Gòn. Mạng lưới trung
gian bảo hiểm là môi giới và đại lý bảo hiểm được sử dụng phổ biến để kinh doanh bảo
hiểm trên phạm vi toàn miền Nam. Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy,
cạnh tranh lành mạnh, các Công ty bảo hiểm đã sớm thành lập hiệp hội nghề nghiệp bảo
hiểm của mình. Hiệp hội có chức năng thông tin tư vấn, đào tạo, tạo ra một môi trường
hợp tác. Việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm được thực hiện thông qua Bộ
Tài chính. Các văn bản pháp luật điều chỉnh như Luật bảo hiểm cũng sớm ra đời. Ngoài
ra, Hội đồng tư vấn bảo hiểm quốc gia cũng đóng vai trò khá quan trọng. Sau năm 1975,
một số Công ty bảo hiểm tư nhân ở miền Nam đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào
Công ty bảo hiểm Việt Nam.
Ở miền Bắc trước năm 1975, hoạt động bảo hiểm chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra
đời của Bảo Việt. Để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, Chính
phủ đã ký Quyết định 1979/CP ngày 17-12-1964 cho phép thành lập Công ty Bảo hiểm
Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt
chính thức đi vào hoạt động. Đây cũng là Công ty bảo hiểm Nhà nước duy nhất đại diện
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 17
SVTH: Nguyễn Thị Giang
nghiệp Môi giới Bảo hiểm. Nhằm cụ thể hóa hai Nghị định này ngày 20 tháng 08 năm
2001 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 72 - Hướng dẫn thi hành Nghị định số 43 và
Thông tư này được thay thế bằng Thông tư số 99/2004/TT - BTC - Hướng dẫn thi hành
Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 của Chính phủ qui định chế độ tài chính
đối với Doanh nghiệp Bảo hiểm và Doanh nghiệp Môi giới Bảo hiểm. Tiếp đó, ngày 28
tháng 08 năm 2001 Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 71 - Hướng dẫn thi hành
Nghị định số 42 và Thông tư số 98/2004/TT - BTC - hướng dẫn thi hành Nghị định 42,
Thông tư này thay thế thông tư 71/2001/TT - BTC.
17
Phạm Văn Thống, Quy chế pháp lý của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, , [ngày truy cập 13-9-2014].
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 18
SVTH: Nguyễn Thị Giang
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
Cùng với việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 175/QĐ – TTg ngày
tháng 8 năm 2003 - Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt
Nam đến năm 2010. Đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoạch định và ổn
định chiến lược kinh doanh trong tương lai. Mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm toàn
diện, tăng tỉ trọng doanh thu phí bảo hiểm/GDP (2,5% vào năm 2005 và 2,4% vào năm
2010); bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận những sản phẩm bảo hiểm đạt
tiêu chuẩn quốc tế đang đòi hỏi nỗ lực từ nhiều phía mà trước hết là Nhà nước và các
doanh nghiệp bảo hiểm có mặt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
1.3 Khái quát chung về Công ty cổ phần bảo hiểm
Đề tài: Pháp luật về thành lập, quyền và nghĩa vụ của Công ty cổ phần bảo hiểm
Bảo hiểm con người: Đối tượng của các loại hình này chính là tính mạng, thân thể,
sức khỏe của con người. Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện
mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được
bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do
người bảo hiểm trả. Như là, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm lao động, bảo hiểm tai nạn
hàng khách, bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên,…
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do
ràng buộc của các quy định trong luật dân sự. Theo đó, người được bảo hiểm phải bồi
thường bằng tiền cho người thứ ba những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự
vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình. Chẳng hạn là, bảo hiểm trách nhiệm
dân sự lái xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự
chủ hãng hành không,…
Thứ hai, bảo hiểm là ngành kinh doanh có nguồn vốn lớn:
Công ty cổ phần bảo hiểm ngày nay được rất nhiều người tin tưởng tham gia vào
các hợp đồng bảo hiểm, thu hút ngày càng lớn nguồn vốn. Hiện các Công ty cổ phần bảo
hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn. Nguồn vốn của Công ty cổ phần bảo hiểm
bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu được, lãi đầu tư,… Trong đó, vốn điều lệ phải
đảm bảo không được thấp hơn vốn pháp định do luật quy định.
Thứ ba, hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải có dự phòng bảo hiểm:
Công ty cổ phần bảo hiểm phải trích lập dự phòng bảo hiểm, bởi lẽ điều cần thiết
trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty cổ phần bảo hiểm là
phải luôn duy trì khả năng thanh toán. Khi có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Công ty
cổ phần bảo hiểm phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng
thanh toán bằng dự phòng bảo hiểm, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng tài
chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và phương án khôi phục.
Nếu không khôi phục được khả năng thanh toán, đồng nghĩa với việc Công ty cổ phần
bảo hiểm sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Thứ tư, hoạt động kinh doanh bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh
các Công ty cổ phần bảo hiểm cũng thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước như
mọi Công ty khác hoạt động trong nền kinh tế. Với các khoản đóng góp đó, cũng giúp
cho ngân sách Nhà nước một phần nào tăng lên.
Đặc biệt, Công ty cổ phần bảo hiểm không những làm tăng thu cho Ngân sách mà
còn làm giảm chi tiêu cho Ngân sách Nhà nước. Cụ thể, để giúp Nhà nước giảm bớt chi
tiêu những khoản lớn để bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu
cống, nhà xưởng, công trình,… thì Công ty cổ phần bảo hiểm đã thực hiện tốt khâu
phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tài sản cộng đồng, giảm đến mức thấp nhất
những thiệt hại đáng tiếc, điều đó cho ta thấy bảo hiểm cũng đã góp một phần không ít
vào Ngân sách Nhà nước. Mặc khác, với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng
góp, Công ty cổ phần bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo
hiểm cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp khó khăn để họ khôi phục đời sống, sản
xuất kinh doanh. Như vậy, ngoại trừ trường hợp tổn thất có tính thảm họa, mang tính xã
hội rộng lớn thì Nhà nước không cần phải chi ra để trợ cấp cho những tổn thất thuộc
phạm vi bảo hiểm.
1.3.4.2 Về khía cạnh tài chính
Thứ nhất, đối với người tham gia bảo hiểm:
GVHD: TS. Cao Nhất Linh
Trang 21
SVTH: Nguyễn Thị Giang