quyền của người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
Đề tài:

QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
Ths. Thạch Huôn
Bộ Môn : Luật Thương Mại

Sinh viên thực hiện:
Neáng Sóc Dom
MSSV: 5115789
Lớp: Luật Tư Pháp 1-K37

Cần Thơ, Tháng 12- 2014

1


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
....…………………………………………………………………………………………
Cần Thơ, Ngày…..tháng……năm………

2


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………....………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………....………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………

Cô khoa luật – Đại học Cần Thơ đã trang bị cho tôi những kiến thức để tôi có cách tiếp
cận tốt với vấn đề nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến sự nhiệt tình, tận tâm của người
hướng dẫn tôi, Ths. Thạch Huôn. Thầy đã truyền những kiến thức, những phương pháp
tiếp cận với vấn đề để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn và những lời chỉ bảo của Thầy
không những hữu ích với việc làm luận văn mà còn cho tôi những kinh nghiệm để bước
vào cuộc sống.
Với sự hiểu biết trên lĩnh vực này còn hạn chế, trong quá trình nghiên cứu có thể
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Thầy
Cô và các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng tôi xin chúc tất cả mọi người dồi dào sức khỏe, tràn đầy niềm vui, gặt
hái nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn.

Sinh viên thực hiện
Neáng Sóc Dom
MSSV : 5115789

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
******
BLHS
BLTTHS

Bộ luật hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT

Tòa án nhân dân tối cao
Tiến hành tố tụng.
Trách nhiệm hình sự

TTHS
UDHR
VAHS
VKS

Tố tụng hình sự
Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, 1948
Vụ án hình sự
Viện kiểm sát

VN
XHCN

Việt Nam
Xã hội chủ nghĩa

5


MỤC LỤC
Trang

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 10
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 10
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 11
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 11

6


1.3.1.2. Người chưa thành niên phạm tội với độ tuổi theo từng quốc gia
quy định. .............................................................................................. 26
1.3.2. Chủ thể trách nhiệm ..................................................................... 27
1.3.2.1. Cơ quan tiến hành tố tụng ....................................................... 27
1.3.2.2. Gia đình và các tổ chức khác .................................................. 20
1.4. Ý nghĩa và sự cần thiết của chế định quyền của người chưa thành
niên phạm tội ................................................................................................... 29
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM
TỘI ................................................................................................................ 31
2.1. Các nguyên tắc cơ bản quyền của người chưa thành niên trong pháp
luật pháp quốc tế ............................................................................................. 31
2.1.1. Sự an toàn được đặt lên hàng đầu ............................................... 31
2.1.2. Không bị phân biệt đối xử ............................................................ 32
2.1.3. Lịch sự, và chuyên nghiệp trong đối xử với người chưa thành niên
................................................................................................................ 33
2.1.4. Trước khi xét xử, người chưa thành niên luôn được suy đoán vô
tội............................................................................................................ 33
2.1.5. Người chưa thành niên được đối xử theo quy định pháp luật quốc
gia ........................................................................................................... 35
2.2. Quyền cơ bản của người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật
quốc tế ............................................................................................................... 36
2.2.1.Giai đoạn điều tra .......................................................................... 36
2.2.1.1. Quyền khi tiếp xúc và giao tiếp với cán bộ thực thi ................. 36
2.2.1.2. Quyền được đảm bảo bí mật ................................................... 38
2.2.1.3. Quyền được trình bày quan điểm ............................................ 39
2.2.2. Giai đoạn bị bắt giữ hoặc bị giam giữ .......................................... 40

2.4.4. Về sự tham gia tố tụng của các chủ thể khác ............................... 64
2.4.5. Về chế độ đối với phạm nhân chưa thành niên............................ 65
2.5. Thực tiễn và một số giải pháp kiến nghị nhằm bảo vệ cơ chế quyền
của người chưa thành niên phạm tội ........................................................... 66
2.5.1. Thực trạng liên quan vấn đề quyền người chưa thành niên phạm
tội............................................................................................................ 66
2.5.1.1. Về yêu cầu đối với người tiến hành tố tụng ............................. 67
2.5.1.2. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và vấn đề giám hộ đối
với người chưa thành niên ................................................................... 68
2.5.1.3. Việc đảm bảo quyền bào chữa................................................. 69
2.5.1.4. Vấn đề bảo đảm bí mật, riêng tư người chưa thành niên ......... 70
2.5.1.5. Vấn đề áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội...........................................................................................61
2.5.2. Hạn chế và giải pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp người chưa thành niên phạm tội ........................................... 71
2.5.2.1. Hạn chế trong việc bảo vệ quyền người chưa thành niên phạm
tội ........................................................................................................ 71
8


2.5.2.2. Một số giải pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền người chưa
thành niên phạm tội ............................................................................. 74
KẾT LUẬN ................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

9


LỜI MỞ ĐẦU

chỉ với những quy định trong ĐƯQT mà nước CHXHCNVN là thành viên, mà còn phù
hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc.
Qua những vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng chúng ta cần nghiên cứu, đánh giá
chính xác hiệu quả của pháp luật trong việc áp dụng đối với NCTNPT để đề ra những
10


quy định phù hợp vừa giúp nâng cao hiệu quả của pháp luật, vừa làm giảm được vi
phạm của NCTN và đặc biệt quyền của NCTN được bảo vệ chính đáng và phù hợp. Do
đó, việc nghiên cứu đề tài “Quyền của người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật
quốc tế và pháp luật Việt Nam” là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết nhằm đáp ứng
phần nào yêu cầu của thực tiễn đó.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Người viết cố gắng nghiên cứu một cách tương đối toàn diện các quy định pháp
luật quốc tế cũng như pháp luật trong nước hiện hành về quyền của NCTNPT, qua đó
phân tích một cách cụ thể và so sánh chi tiết liên quan chế định này. Đồng thời người
viết tìm hiểu thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp, thông qua đó phát hiện và
nêu ra một số vấn đề bất cập trong quy định hiện hành và đề ra phương hướng, giải
pháp và kiến nghị nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTNPT.
3. Phạm vi nghiên cứu
Quyền của NCTN được bảo vệ dưới cả hai góc độ: người phạm tội hoặc người bị
hại . Trong phạm vi bài viết này người viết chỉ tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn
xoay quanh quyền của đối tượng là NCTNPT. Cụ thể nội dung nghiên cứu bao gồm: lý
luận liên quan quyền của NCTNPT, những quy định của pháp luật có liên quan, phân
tích đánh giá những bất cập từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực để khắc phục và
góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền của NCTNPT.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đã đặt ra, người viết sử dụng một số kiến thức đã
học, thu thập và tổng hợp các tài liệu, các văn bản pháp luật trong nước và pháp luật
quốc tế, một số tạp chí chuyên ngành liên quan đến đề tài. Đồng thời, vận dụng kết hợp

và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Bên cạnh đó, Học giả Nguyễn Bá Diến cho rằng:
QCN là các khả năng của con người được đảm bảo bằng pháp luật (luật quốc gia và
luật quốc tế) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị vật chất, văn hóa và
tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết
định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật.5 Bên cạnh định
nghĩa QCN với tư cách là phạm trù luật học còn có một số định nghĩa phổ biến trong
giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta : Nhân quyền (hay QCN) là những
năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng
nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế.6
Như vậy nhìn ở gốc độ nào và ở cấp độ nào thì QCN cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực
1

/>Office of High commissoner for Human Right – OHCHR
3
OHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New
York and Geneva, 2006, trang 1.
4
Xem Đồng Văn Hồ, “Nguồn gốc của khái niệm nhân quyền và diễn biến lịch sự của nó”, Tạp chí Thế giới tri
thức (Trung Quốc), số 13-1992.
5
Nguyễn Bá Diến (1993), Về quyền con người - trong tập chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân", Tập
1, Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 30 - 56.
6
Học viện CTQG Hồ Chí Minh (1993), Tập bài giảng lý luận về Quyền con người, Nxb Sự thật, Hà Nội.
2

12


1.1.3. Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội
1.1.3.1. Khái niệm người chưa thành niên
“Người chưa thành niên” không phải là một khái niệm mới, nó được sử dụng phổ
biến dùng trong nhiều ngành khoa học nhưng mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi ngành khoa
học có khái niệm về NCTN khác nhau. Luật học nghiên cứu NCTN để xác định quyền
7

PGS.TS. Trần Ngọc Đường: “ Bàn về Quyền con người, Quyền công dân” (Sách tham khảo), NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2004, tr.22.

13


và nghĩa vụ, trách nhiệm của họ khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Bên cạnh khái
niệm này chúng ta còn bắt gặp các khái niệm “vị thành niên”, “trẻ em”.
 Khái niệm NCTN theo Pháp luật hiện hành của một số nước khác
Nghiên cứu về NCTN các nhà tâm lý học trên thế giới đã đưa ra nhiều ý kiến,
quan niệm khác nhau. Chẳng hạn như G.Stanley cho rằng thời kỳ chưa thành niên là
thời kỳ quá độ từ trẻ em chuyển lên người lớn; là thời kỳ gắn liền với những xung đột,
xáo trộn tâm trạng. Nhà tâm lý học Erik. Erikson cho rằng thời kỳ chưa thành niên diễn
ra ở giai đoạn thứ năm trong tám giai đoạn của cuộc đời con người.8
NCTN là những người chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, chưa có đầy đủ
quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Để xác định một người nào đó ở giai đoạn nào
trong cuộc đời, người ta thường căn cứ vào độ tuổi. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định
độ tuổi cụ thể của NCTN. Thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc tuổi chưa thành niên
cũng có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau như : E.Spranger cho rằng tuổi chưa thành
niên bắt đầu từ 14 tuổi và kết thúc khi được 17 tuổi; Còn D.B.Bromley và
Đ.B.Encônhin thì cho rằng tuổi chưa thành niên bắt đầu từ 11 tuổi và kết thúc khi 15
tuổi; từ 12 đến 15 tuổi (J.piagie) hay có sự phân biệt giữa nam và nữ như: nam là từ 14
đến 16 tuổi, nữ là từ 11 đến 13 tuổi (Buhler); nam 12 đến 17 tuổi, nữ 12 đến 15 tuổi
9
Vũ Dũng, Tâm lý học tuổi vị thành niên, Tạp chí Tâm lý học, số 4/1998, trang 12-21.
10
Quy tắc số 2.2 của Quy tắc Bắc Kinh

14


 Khái niệm NCTN theo Pháp luật Việt Nam hiện hành
Ở VN, trước đây thường sử dụng khái niệm “trẻ em”, “vị thành niên” để chỉ
những người dưới 18 tuổi. Xét về định tính,11 khi đề cập đến thuật ngữ “trẻ em” thông
thường chúng ta liên tưởng đến hình ảnh ngây thơ, bột phát còn NCTN là những đối

Định tính : xác định theo tính chất, theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), NXB văn hóa –
Thông tin Tp.HCM, 1999, tr.643.
12
Nguyễn Lân (2006), Từ điển Từ và Ngữ tiếng việt, NXB tổng hợp TP.HCM, tr.2030, 1688. Vị thành niên là
người chưa đến tuổi trưởng thành. Thanh niên là người được pháp luật là đã trưởng thành và phải hoàn toàn chịu
trách nhiệm về việc làm của mình.

15


1.1.3.2. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
NCTNPT là một hiện tượng, một thực tế tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Quy tắc Bắc Kinh đã có quy định ngắn gọn về vấn đề này, theo đó “ NCTNPT là trẻ em
hay thanh thiếu niên bị cáo buộc, hay bị kết luận là đã phạm tội”.13 Bên cạnh đó, Quy
tắc còn định nghĩa “phạm tội” là bất cứ hành vi (hành động hoặc không hành động) nào
bị pháp luật xử phạt tùy theo từng hệ thống pháp luật.14 Như vậy khái niệm trên được
xây dựng một cách thẩn trọng để có thể áp dụng trong các hệ thống pháp luật khác
nhau. Mỗi quốc gia đều giải quyết vấn đề NCTNPT theo những mức độ, cách thức khác
nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện, tập quán, pháp luật của mỗi nước.
Ở VN, để một NCTN được xem là phạm tội thì phải thỏa các điều kiện dưới đây:
 Trước hết, họ phải là NCTN
Vấn đề này đã được người viết phân tích ở mục 1.1.3.1. Để xem xét NCTN có
phải là người phạm tội hay không, cần xem xét về độ tuổi. Tuổi chịu TNHS của
NCTNPT được chia thành hai nhóm tuổi: nhóm thứ nhất, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi, nhóm này phải chịu TNHS về mọi tội phạm mà không cần biết họ phạm tội cố ý
hoặc vô ý. Và nhóm thứ hai là từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo đó người trong
nhóm tuổi này phải chịu TNHS với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng.15
BLHS cũng căn cứ vào lỗi và mức độ nguy hiểm của tội phạm để quyết định có
tội hay không có tội. Với mức nguy hiểm của tội phạm có sự phân định với những mức

điều khiển hành vi của mình.”
 Đã thực hiện hành vi mà Luật Hình sự quy định là tội phạm
Sau khi đáp ứng các điều kiện trên (là NCTN, đủ tuổi chịu TNHS, có năng lực
TNHS) và người đó phải thực hiện hành vi mà hành vi đó được PLHS quy định là tội
phạm thì mới được xem là NCTN phạm tội. Tức là người đó đã thực hiện ít nhất một
hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được BLHS hiện hành bảo vệ.
 Cuối cùng là hành vi phạm tội thực hiện bởi NCTN phải là hành vi có lỗi
Lỗi là thái độ chủ quan của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý. NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là
người phạm tội phải chịu TNHS khi hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ được thực
hiện do có lỗi. Tuy nhiên, do khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội trong hành
vi của mình, cũng như khả năng điều khiển hành vi ở các lứa tuổi của NCTN khác
nhau, nên đánh giá về mức độ lỗi của NCTN đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do
họ thực hiện cũng khác nhau.
Như vậy, theo tinh thần của điều luật và những phân tích nêu trên có thể định
nghĩa NCTNPT ( theo pháp luật VN ) như sau : “NCTNPT là người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi, đã thực hiện hành vi phạm tội, thỏa mãn các điều kiện chủ thể của tội
phạm, tức là họ phải có năng lực TNHS, trong đó từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với
trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, đặc biệt nghiêm trọng hoặc từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi đối với mọi tội phạm.”
1.1.4. Khái niệm quyền của người chưa thành niên phạm tội
“Quyền” được hiểu theo góc độ pháp lý là điều mà pháp luật công nhận cho
người có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Một hoạt động mà các quốc gia
trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật liên
quan đến NCTNPT tuân thủ theo đúng luật quốc tế về QCN.
Hiện nay vẫn chưa có khái niêm cụ thể về “quyền của người chưa thành niên
phạm tội”. Trên cơ sở tiếp thu từ các khái niệm có liên quan, theo quan điểm của người
viết, chúng ta có thể hiểu rằng: “ Quyền của NCTNPT là quyền được bảo vệ và hưởng
một số quy định đặc biệt hơn so với người đã thành niên phạm tội khi NCTN tham gia
vào các thủ tục thủ tục tố tụng do việc thực hiện những hành vi trái PLHS bị coi là tội

vấn đề quan tâm của cộng đồng quốc tế. Như ta đã biết, “Quyền của NCTNPT ” là một
bộ phận nhỏ cấu thành “quyền trẻ em”. Do đó để biết rõ lịch sự phát triển của chế định
quyền của NCTNPT chúng ta cần tìm hiểu thông qua lịch sử hình thành “quyền trẻ
em”.
Từ lâu trẻ em đã được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất và
được các nhà nước quan tâm bảo vệ về mọi mặt, kể cả khi trẻ em có hành vi lệch lạc.
Từ thề kỷ XIV, ở Châu Âu đã xuất hiện những dự án công cộng dành cho trẻ em (bệnh
viện spedale Degli Innocenti ở Florent, Italia). Hoặc cũng thời kì này ở Châu Á, Bộ luật
Hồng Đức còn có quy định thể hiện sự khoan hồng đối với NCTNPT.
18


Mặc dù vậy, trong thời kỳ trước đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em về cơ
bản xuất phát từ các gốc độ tình thương, lòng nhân đạo và sự che chở chứ không phải
dưới gốc độ nghĩa vụ bảo vệ quyền. Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời kỳ trước về cơ
bản chưa mang tính phổ biến, và ràng buộc về nghĩa vụ với mọi đối tượng trong xã hội.
Phải đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “ quyền trẻ em” mới được đề cập sau
một loạt biến cố quốc tế lớn. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) đã khiến rất
nhiều trẻ em ở Châu Âu bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tình cảnh đó đã thúc
đẩy hai tổ chức cứu trợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thụy Điển năm 1919.
Vào năm 1923, bà Eglantyne Jebb – người sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ em của nước Anh
năm 1919 – đã soạn thảo một bản Tuyên bố gồm 7 điểm, trong đó kêu gọi thừa nhận và
bảo vệ các quyền của trẻ em. Vào năm sau (1924), bản Tuyên ngôn này được Hội Quốc
Liên thông qua. Sự kiện này có thể coi là mốc đánh dấu thời điểm thuật ngữ “quyền trẻ
em” lần đầu tiên được nêu chính thức trong pháp luật quốc tế.
Sau khi thành lập LHQ đã đưa vấn đề quyền trẻ em phát triển lên một bước ngoặc
mới. Với mệnh đề mở đầu phổ biến trong UDHR và hai công ước về các quyền dân sự,
chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 là mọi người có quyền hoặc
bất cứ người nào đều có quyền… Điều 24: Công ước về các quyền chính trị-quân sự
năm 1966 (VN gia nhập năm 1982) nêu rõ “Mọi trẻ em, không phân biệt chủng tộc,

yêu cầu đối với quản lý các cơ sở giam giữ NCTN như hồ sơ tài liệu; môi trường vật
chất và nơi ăn ở; giáo dục đào tạo nghề và việc làm… được quy định rõ ràng và chi tiết.
 Các bình luận của Ủy ban quyền trẻ em (UN Committee on the Right of the
Child) đưa ra những hướng dẫn thực hiện và lưu ý đối với việc thực thi CRC liên quan
đến tư pháp NCTN, và quyền tham gia của trẻ em trong đó bao gồm tham gia các hoạt
động tư pháp.
Những văn kiện pháp lý nêu trên có cùng đặc điểm là chuyên dành cho bảo vệ trẻ
em trong lĩnh vực tư pháp; nhưng đề cập đến những khía cạnh khác nhau, có mức độ
phổ biến và ảnh hưởng khác nhau. Quy tắc Bắc Kinh và Quy tắc Havana phổ biến hơn
và thường xuyên được viện dẫn hơn. Song các văn bản pháp lý nêu trên có mối quan hệ
tương trợ, cùng nhau tạo nên những khuôn khổ và chuẩn mực cho việc bảo vệ quyền trẻ
em trong lĩnh vực tư pháp nói chung, quyền của NCTNPT nói riêng. CRC có hiệu lực
bắt buộc, tạo ra những trách nhiệm chính thức đối với 193 quốc gia.
Ngoài những văn kiện pháp lý chuyên dành cho trẻ em, có nhiều các công ước
quốc tế khác về QCN cũng có thể viễn dẫn như:
- Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (United Nations 1948);
- Các quy tắc về tiêu chuẩn tối thiểu trong việc đối xử với tù nhân (United Nations
1955);
-

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (United Nations 1966a);
Công ước chống tra tấn và đối xử hoặc hình phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc làm hèn
hạ (United Nations 1984);

Những công ước quốc tế không chuyên dành cho trẻ em nêu trên mặc dù không
đặc biệt liên quan như những văn kiện chuyên dùng cho trẻ em nhưng có những đóng
góp trong việc làm sáng tỏ những vấn đề nhất định về quyền trẻ em trong lĩnh vực mà
người viết đang nghiên cứu.

20

làm giảm bớt số lượng các vi phạm pháp luật và tội phạm do NCTN thực hiện hay hỗ
trợ quá trình tái hòa nhập cộng đồng của người chưa thành niên.17
Về xu hướng áp dụng nhiều hơn các biện pháp có tính chất trấn áp. Trong thời
gian gần đây, tội phạm vị thành niên ở Pháp có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tội phạm
có tính chất băng nhóm. Các nghiên cứu mới nhất đều khẳng định tội phạm vị thành
niên có hướng trẻ hóa, tái phạm nhiều lần ngày càng cao mà nguyên nhân chính là tâm
17

Viện khoa học xét xử, tlđd.

21


lý coi thường pháp luật, không sợ bị trừng phạt bởi pháp luật.18 Chính vì vậy, trong hai
dự luật của các nhà lập pháp của Pháp đã đưa ra quy định có tính chất cứng rắn hơn như
: cho phép các cơ quan THTT áp dụng biện pháp đưa người phạm tội ra xét xử ngắn
nhất 19 hay hạn chế việc áp dụng những biện pháp cảnh cáo hoặc giao về cho cha mẹ
hay người thân thích mà cho phép áp dụng biện pháp cách ly môi trường phạm tội đối
với trẻ em từ 10 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đối với NCTN tái phạm nhiều lần từ 16 tuổi trở
lên không áp dụng nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt20, còn đối với người dưới 16 tuổi tái
phạm nhiều lần, Tòa án vẫn có thể áp dụng nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt, nhưng phải
bằng những căn cứ có sức thuyết phục.
Ở Mỹ, hệ thống luật pháp vị thành niên cũng luôn gây tranh cãi. Rất nhiều người
tự do lập luận rằng có các vị thành niên phải được hưởng những quyền theo Hiến pháp
áp dụng cho người lớn và chỉ trích hệ thống luật pháp vị thành niên vì tính gia trưởng
và độc đoán.21 Những ngưởi bảo thủ thì chỉ trích gắt gao tính khoan dung của hệ thống
pháp luật vị thành niên, chỉ rằng nam giới 21 tuổi có tỉ lệ phạm tội cao nhất. Bất chấp
sự chỉ trích, hệ thống luật pháp vị thành niên vẫn tồn tại vẫn tồn tại do chưa có sự nhất
trí về một phương án thay thế. Theo thông lệ quốc tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với trẻ em cũng như đối với NCTN dù

Hiến pháp đầu tiên năm 1946 có quy định “…trẻ em được săn sóc về mặt giáo
dưỡng”; “Nhà nước thực hiện nền sơ học cưỡng bức và không học phí, học trò nghèo
được Chính phủ giúp đỡ” và điều đó cũng được kế thừa qua các Hiến pháp năm 1959,
1980,1992, 2013 các quyền trẻ em ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và phát triển.
Từ khi VN ký Công ước CRC, hàng loạt luật mới ra đời như Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em (1991), Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), Luật Bảo vệ sức
khỏe nhân dân (1989) đã nhấn mạnh xã hội với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, trừng
phạt nghiêm khắc đối với vi phạm quyền trẻ em. Mặc dù vậy, quyền và luật không phải
là những khái niệm đồng nghĩa. Việc thực hiện quyền trẻ em trên thực tế vẫn đang
đứng trước nhiều khó khăn thách thức.
Sau khi ký CRC, các quyền trẻ em trong Công ước đã được cụ thể hóa vào hệ
thống pháp luật VN ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, như trong Bộ luật Dân sự,
BLTTHS, BLHS, Bộ luật lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, Pháp lệnh về bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em… Riêng BLTTHS và BLHS, quyền của trẻ em hay
NCTNPT được quy định cụ thể, đầy đủ và rõ ràng hơn.
1.2.2.2. Sự phát triển của chế định quyền của người chưa thành niên phạm tội qua
các giai đoạn
 Trong thời kỳ phong kiến ( Thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX)
PLVN thời kỳ phong kiến tuy là pháp luật của giai cấp cầm quyền song cũng có
những quy định thể hiển tính nhân đạo, bảo đảm cho quyền của NCTN được thực hiện.
Pháp luật thời kì này quy định độ tuổi chịu TNHS là từ 15 tuổi trở lên, người từ 15 tuổi
trở xuống chỉ phải chịu trừng phạt khi phạm tội nghiêm trọng – Tội thập ác. Trẻ em từ
7 tuổi trở xuống được tha miễn hoàn toàn. Như vậy, Quốc Triều Hình Luật không quy
định mức độ khoan hồng chung cho các độ tuổi, mà qui định các mức độ khoan hồng
khác nhau tuỳ theo độ tuổi cụ thể. Có thể thấy, đường lối chung trong việc xử lý
NCTNPT trong Bộ luật Hồng Đức là hạn chế việc áp dụng các chế tài hình sự và vạn
bất đắc dĩ buộc phải áp dụng chúng.
 Trong thời kỳ Pháp thuộc
Thoát khỏi hệ tư tưởng phong kiến, PLHS VN thời kỳ này đã có ghi nhận tiến bộ
dành cho NCTN. PLHS không có một quy phạm chung về độ tuổi bắt đầu phải chịu

cho bị can, bị cáo là NCTN được xét xử một cách công bằng, khách quan. Đây là cơ sở
cho sự hình thành và phát triển các chế định liên quan đến quyền của NCTNPT.
Tại miền Bắc XHCN, mặc dù chưa có bộ luật TTHS, song các chế định về thủ tục
đặc biệt giải quyết những vụ án mà bị can, bị cáo là NCTN đã được ban hành với nhiều
hình thức khác nhau như thông tư, bản tổng kết kinh nghiệm của TANDTC. Những văn
bản này không chỉ đề cập đến nguyên tắc chủ yếu khi xét xử NCTNPT mà còn bao gồm
các chế định về bào chữa, đại diện gia đình…khi giải quyết vụ án NCTN.
Tóm lại, do chưa có Bộ luật TTHS nên hoạt động xét xử NCTNPT nói riêng vẫn
phải dựa vào các bản án lệ, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cơ bản
và quan trọng nhất là đặc nền móng cho sự phát triển của chế định về quyền của
NCTNPT trong các giai đoạn sau.

24


 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất với sự
thông qua BLTTHS năm 1988
Đến năm 1985, BLHS đầu tiên của nước CHXHCNVN ra đời. Những vấn đề về
NCTNPT được quy định cụ thể trong chương VII gồm 11 Điều. Những quy định này
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa những sai lầm để trở thành những công dân có ích
cho xã hội. Không áp dụng hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình đối với
NCTNPT. Trong bối cảnh lịch sử mới, cần thiết phải có những bộ luật, luật có tính hệ
thống, hiệu lực ổn định trong thời gian dài. Với những cố gắng, nỗ lực của các nhà làm
luật, ngày 28/6/1988 BLTTHS VN được thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/1/1989 thay
thế cho các văn bản pháp luật đơn lẻ trước đây về thủ tục VAHS nói chung và thủ tục
xét xử vụ án mà bị cáo là NCTN nói riêng.
 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai với việc
ban hành BLTTHS năm 2003
BLTTHS năm 1988 là BLTTHS đầu tiên của nước CHXHCNVN, có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/1/1988. Bộ luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status