Tập tuyển cung nữ là thực trạng tội ác của vua chúa phong kiến
kéo dài hàng nghìn năm. Ngày xưa, các bậc vua chúa tự đặt ra
cho minh quyền được có: Ba trăm mĩ nữ, sáu mươi cung tần.
Hàng trăm thiếu nữ trẻ đẹp được tuyển vào cung
I. DÀN Ý1. Mở bài:- Trong chế độ phong kiến ngày xưa, các bậc vua chúa phương Đống thường tự đặt ra
cho minh cái quyển được đa thô ; ngoài hoàng hậu, cung phi ra cỏn có: Ba tràm mĩ nữ, sáu mươi cung
tần...- Vi vậy, rất nhiều phụ nữ trẻ đẹp phải âm thầm chịu đựng tình cảnh bị bỏ rơi, bị lãng quên trong
cung cấm. số phận bất hạnh của họ đã khiến cho văn nhân thi sĩ cảm thương mà viết ra một sô' tác phẩm,
trong đõ Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều là tiêu biểu nhất.- Đoạn.trích Nỗi sầu oán của người cung
nữ (từ câu 209 đến câu 244) diễn tả tâm trạng đau khổ của người cung nữ bị thất sủng ; phải sống cô đơn
giữa bốn bức tường lạnh giá. Nàng xót xa cho tuổi thanh xuân trôi qua hoài phí và uất ức than thở về
những bất công mà mình phải chịu đựng. Đấy là tiếng nói tố cáo sầu sác tội ác của vua chúa phong kiến
thời ấy. 2. Thân bài:* Kết cấu đoạn trích gồm hai đoạn nhỏ:- Đoạn 1: Bốn khổ thơ đầu: cảnh cung cấm xa
hoa tráng lệ đối lập với tinh cảnh lẻ loi, buồn tủi của cung nữ bị bỏ rơi, bị lãng quên.- Đoạn 2: Năm khổ
thơ còn lại: cảnh sống đày đoạ kéo dài của người cung nữ với nỗi thất vọng nặng nể trong cảnh ngày đêm
ngóng trông, chờ đợi nhà vua.* NỘI dung đoạn trích:+ Cảnh cung cấm xa hoa, đạp đẽ đổi lập với tinh
cảnh lẻ loi, buồn tủi đáng thương.- Tác giả chọn thời điểm là ban đồm để nhân vật dễ dàng bộc lộ tâm
trạng. Bị nhà vua bỏ rơi trong cung quế, người cung nữ suốt năm canh đứng tủi ngồi sáu, khắc khoải chờ
mong và tuyệt vọng:Trong cung quế âm thẩm chiếc bóng,Đêm năm canh trông ngóng lán lán.- Trong tinh
cảnh đó, người cung nữ ý thức rất rõ vé thân phận bất hạnh của mình. Nàng đã bị giết chết khổng phải
bằng gươm đao mà bằng chinh cuộc sống buồn bã và tuyệt vọng, bởi cảnh chiếu chăn lẻ loi, lạnh lẽo...
Qua lời than trách của nàng, hình ảnh nhà vua hiện lên đúng lả một kẻ bạc tinh: Khoảnh làm chi bấy chúa
xuân, Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi... Người cung nữ bổi hổi, nuối tiếc khi nhớ lại những ngày đầu
được vua sủng ái. Còn giờ đây, nàng đã thực sự bị quên lãng.- Sự tương phản giữa khung cảnh xa hoa
tráng lệ nơi cung vàng điện ngọc với cuộc sống bất hạnh của các cung nữ càng làm cho hình ảnh của họ
trở nên nhỏ bé đến tội nghiệp:Lầu đãi nguyệt / đứng ngồi dạ vũ,Gác thừa lương thúc / ngủ thu
phong.Phòng tiêu / lạnh ngắt như đồng,Gương loan / bẻ nửa, dải đổng / xẻ đôi...- Những tiện nghi đầy đủ,
đẹp trở nên trớ trêu. vô nghĩa khi ngươi cung nữ thêm sầu thêm tủi.- Những câu thơ tiếp theo miêu tả
cuộc đày ải. kéo dài trọng cung cấm. Người cung nữ mong mòi sự có mặt của nhà vua đến mức gần như
tuyệt vọng: Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm... Lầu Tẩn, chiểu nhạt vẻ thu, Gối loan tuyết đóng, chăn củ
giá đông...+ Cảnh sóng buồn tủi kéo dài và nỗi thất vọng nặng nể.- Nỗi sáu có lúc lên tới điểm đỉnh, biến
hay oán trách, không một cảm xúc nào của nàng ở mức độ bình thường mà tất cả đều gay gắt, mãnh
liệt:Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm,Vẻ bâng khuâng hổn bướm vẩn vơ.Thâm khuê vắng ngắt nhu tờ,Của
châu gió lọt, rèm ngà sương gieo.Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ. Dấu dương xa đám cỏ quanh co.Lầu
Tẩn, chiều nhạt vẻ thu,Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.Năm khổ thơ tiếp theo miêu tả cuộc đày ải
kéo dài với những thất vọng nặng nề trong cảnh ngày ngóng đêm trông, đau đáu chờ đợi nhà vua của
người cung nữ. Nỗi sầu có lúc lên dến điểm đỉnh, biến thành tâm trạng u uất, bức bối tưởng như nghẹt
thở:Lạnh lùng thay giấc cô miên,Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u. Giấc ngủ cô đơn lạnh lùng đáng
thương biết mấy! Nón hương đốt lên để cho không khí trong tiêu phòng ấm áp, thơm tho nhưng chỉ đem
lại cho người cung nữ cảm giác vắng lặng, tịch mịch. Bóng đèn thắp lên cót để ánh sáng xua bớt
bóng'đêm nhưng chỉ gây cho nàng cảm giác thâm u, tăm tối. Cảm giác tịch mịch, thâm u không phải dược
tạo ra bởi mùi hương hay bóng đồn mà chính là từ nỗi buồn chán, tuyệt vọng của người cung nữ. Đêm
nào nàng cũng chỉ sổng với cái bóng của minh:Tranh biếng ngắm trong đó tố nữ,Mặt buồn trông trên cửa
nghiễm lâu.Một mình đứng tủi ngồi sầu,Đã than với nguyệt lại rầu với hoa!Đoạn thơ cứ nhắc đi nhắc lại
cái bóng dáng cô độc, lủi thủi đáng thương của người cung nữ. Nỗi đau đớn, khắc khoải khiến nàng mệt
mỏi, rã rời cả thể xác lẫn tâm hổn. Trong nỗi buồn dai dẳng ấy chứa đựng sự hờn trách, tức tói và uất
hận:Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,Ngán trâm chiểu, bước lại ngẩn ngơ.Hoa này bướm nỡ thờ 0,Để
gầy bông thắm, đổ xơ nhuỵ vàng.Lời oán trách không nhẹ nhàng như của người chinh phụ trong Chinh
phụ ngâm: Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ ? mà đay nghiến và hằn học:Giết nhau chẳng cái lưu
cầu,Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!Cay đắng trước sự thật phũ phàng, người cung nữ đã phải buông
lời chỉ chiết: Giết nhau bàng cái u sầu, độc chưa. Câu thơ vừa như một tiếng nghiến răng căm giận, vừa là
lời tố cáo đanh thép sự tàn ác của chế độ da thê, chế độ cung tần mĩ nữ tàn bạo thời phong kiến bởi nó đã
cướp đi quyền sống tự do, cướp đi hạnh phúc của bao nhiêu cô gái trẻ dẹp. Chúng không giết những
người cung nữ bằng dao, bằng kiếm mà bằng cách để cho nỗi cô đơn huỷ hoại tâm hồn và cuộc sống của
họ. Người xưa dùng thành ngữ Ễ' giết người không dao (lể chỉ những hành động giết người tinh vi nhất,
tàn bạo nhất. Chính những thú ăn chơi trác táng cùng thói vô tinh đến tàn nhẫn của vua chúaphong kiến
đã đẩy hàng ngàn người cung nữ tội nghiệp vào bi kịch "dở sống, dở chết” đó. 'Người phụ nữ trong xã hội
xưa thường ít khi trực tiếp thể hiện lòng minh, nhưng nỗi đau xót và sự tủi hờn cao độ đã khiến người
cung nữ phải thốt ra tâm sự sâu kín nhất, kể cả ý muốn bứt phá để thoát khỏi cảnh sống giam hãm: đoạ