TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI
……
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2011 - 2015
Đề tài:
QUYỀN CỦA NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS TRONG PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn:
ThS. THẠCH HUÔN
Bộ Môn Luật Thương Mại
Sinh viên thực hiện:
PHẠM THỊ VIỆT TRINH
MSSV: 5115948
Lớp: Luật Thương Mại–Khóa 37
Cần Thơ, tháng 12 - 2014
000000000000002222012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
.............................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày … tháng …năm 2014
HIV (Humun Immunodeficiency
Virus)
Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở
người, làm cho cơ thể suy giảm khả
năng chống lại các tác nhân gây bệnh
ICCPR (International Covenant on
Civil and Political)
Công ước quốc tế về quyền dân sự,
chính trị năm 1966
ICESCR (International Covenant on
Công ước về các quyền văn hóa, xã
Economic, Social and Cultural Rights)
hội và kinh tế năm 1966
ILO (International Labour
Organization)
Tổ chức Lao động Quốc tế
IGOs
Tổ chức liên chính phủ
WHO (World Health Organization)
Tổ chức Y tế thế giới
LỜI CẢM ƠN
____
Người viết xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô
của trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là quý thầy cô khoa Luật đã tâm huyết dạy dỗ,
truyền đạt kiến thức nhằm tạo điều kiện cho chúng em được học tập, tìm hiểu thêm
nhiều kiến thức mới, nhiều bài học quý báu trên bước đường tương lai sau này và gần
hơn là phục vụ cho luận văn tốt nghiệp. Và em cũng xin chân thành cám ơn giáo viên
hướng dẫn Th.S Thạch Huôn đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành tốt Luận văn tốt
nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất. Song do mới
bắt đầu làm quen với việc nghiên cứu, viết luận văn cũng như hạn chế về kiến thức và
kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Người viết rất mong
nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn sinh viên để luận văn hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Cần Thơ, ngày… tháng … năm 2014
Người viết
Phạm Thị Việt Trinh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................... 1
2.2.1 Sống hòa nhập với cộng đồng và xã hội. .......................................................... 25
2.2.2 Được điều trị và chăm sóc sức khỏe ................................................................. 27
2.2.3 Học tập, học nghề, việc làm .............................................................................. 31
2.2.4 Được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV/AIDS........................................... 36
2.2.5 Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang điều trị HIV trong giai đoạn cuối .... 38
2.3 Nghĩa vụ của ngƣời nhiễm HIV ............................................................................ 39
2.3.1 Thực hiện các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV sang người khác ........... 39
2.3.2 Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho vợ, chồng hoặc
cho người chuẩn bị kết hôn với mình biết .................................................................. 41
2.3.3 Thực hiện các quy định về điều trị bằng thuốc kháng HIV ............................... 41
2.4. Cơ chế để đảm bảo thực thi quyền của ngƣời nhiễm HIV theo luật quốc tế và
luật quốc gia .................................................................................................................. 43
2.4.1 Cơ chế để đảm bảo thực thi theo luật quốc tế ................................................... 43
2.4.2 Cơ chế đảm bảo thực thi theo luật quốc gia ..................................................... 44
2.5 Thực tiễn quyền của ngƣời nhiễm HIV trong luật quốc tế và luật Việt Nam .. 48
2.5.1 Tình hình thúc đẩy bảo vệ quyền của người nhiễm HIV trong luật quốc tế ..... 48
2.5.2 Việt Nam và thực trạng đảm bảo thực thi quyền của người nhiễm HIV/AIDS . 50
2.5.3 Chế tài để đảm bảo quyền cho người nhiễm HIV ............................................. 52
2.6 Hạn chế và giải pháp để bảo đảm quyền của ngƣời nhiễm HIV/AIDS ............ 56
2.6.1 Hạn chế .............................................................................................................. 56
2.6.2 Giải pháp ........................................................................................................... 57
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 61
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta được sống trong hòa bình, đất nước thì ngày một phát triển,
cuộc sống của mọi người đều được nâng cao. Chúng ta thật sự đã có những giây phút
Nghiên cứu về quyền của người bị nhiễm HIV xuất phát từ quyền con người nói
chung, và những cơ chế bảo vệ quyền của người bị nhiễm HIV trong pháp luật Việt
Nam và pháp luật quốc tế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Với đề tài này người viết đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp để đánh giá tình hình thực tế về quyền của người bị nhiễm
HIV trong xã hội hiện nay. Bên cạnh đó người viết cũng tham khảo số liệu từ nhiều
trang web trên internet, nhằm phân tích một cách khoa học để thấy được tính cấp thiết
và từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp tăng cường hành lang pháp lí để bảo vệ quyền
của người bị nhiễm HIV.
5. Kết cấu của đề tài
Lời mở đầu
Nội dung: 2 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quyền của ngƣời nhiễm HIV/AIDS
Chƣơng 2: Thực trạng về quyền của ngƣời nhiễm HIV/AIDS trong pháp luật
quốc tế và pháp luật Việt Nam
Kết luận
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS
____
Loài người đang phải đối mặt với HIV/AIDS, một đại dịch chưa từng thấy trong lịch
sử. Chính sự hiện diện của HIV/AIDS đã làm cho cuộc sống của nhân loại gặp nhiều hệ
lụy như sức khỏe, tuổi thọ bị giảm, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, suy sụp về tinh
thần. Bên cạnh đó HIV/AIDS còn khiến cho người nhiễm bệnh bị hạn chế một số quyền
không thể tách rời.
Khái niệm về quyền công dân cũng ra đời từ lâu trong lịch sử, được sử dụng rộng rãi
trong xã hội tư sản. So với khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân mang
tính xác định hơn, gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định.
1
United Nations, Freequently Asked Quesntions on a Human Rights – based Approach to Development
Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr.8.
Cũng do vậy nội dung, số lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường
không giống nhau. Đương nhiên không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền
công dân. Theo từ điển bách khoa thì quyền công dân là quyền được làm công dân của
một cộng đồng xã hội, chính trị hoặc quốc gia. Quyền công dân ở các quốc gia trên thế
giới thường quy định các chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các
văn bản pháp luật, đặc biệt là trong Hiến pháp – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất.
Quyền công dân gắn liền với một quốc gia nhất định, được pháp luật của mỗi quốc gia
ghi nhận. Nói về quyền công dân theo PGS.TS. Trần Ngọc Đường có đúc kết quan niệm
về quyền công dân như sau: “Quyền công dân là quyền con người, là những giá trị gắn
liền với một nhà nước nhất định và được nhà nước đó bảo hộ bằng pháp luật của mình
đối với người mang quốc tịch của nước mình, thể hiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa
mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể.”
Quyền con người và quyền công dân là những khái niệm không đồng nhất cả về mặt
chủ thể lẫn nội dung, quyền con người mang ý nghĩa rộng hơn, nó bao hàm cả quyền
công dân nhưng nó không thay thế được quyền công dân. Ngược lại, khái niệm quyền
công dân cũng không chứa đựng hết khái niệm quyền con người.
Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết với
nhau, tuy nhiên hai khái niệm này có sự khác biệt nhất định. Về nội hàm thì khái niệm
“quyền con người” rộng hơn khái niệm “quyền công dân”. Cụ thể quyền con người là
HIV/AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, viết tắt từ Acquired
Immunodeficiency Syndrome hay từ Acquired Immune Deficiency Syndrome của tiếng
Anh; còn gọi là SIDA theo cách viết tắt từ Syndrome d'ImmunoDéficience Acquise của
tiếng Pháp) hay bệnh liệt kháng là một hội chứng của nhiều bệnh nhiễm trùng (ví dụ:
lao, viêm phổi, nấm), mà người nhiễm HIV gặp phải do hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn
thương hoặc bị phá hủy nặng nề. Các bệnh này được gọi là các bệnh nhiễm trùng cơ
hội. AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV. Tuy nhiên, mỗi người
khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tùy theo loại bệnh nhiễm trùng cơ
hội mà người đó mắc phải, và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người.
Hội chứng: nhóm các biểu hiện (triệu chứng) như: sốt, tiêu chảy, sụt cân, nổi hạch...
do một căn bệnh nào đó gây ra.
Suy giảm miễn dịch: Hệ miễn dịch là hệ thống phòng ngự bảo vệ cơ thể chống lại các
mầm bệnh từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, suy giảm miễn dịch là tình trạng hệ miễn dịch
trở nên yếu, giảm hoặc không có khả năng chống lại sự tấn công của các tác nhân gây
bệnh.
HIV là căn bệnh khó điều trị và nó mang lại hệ lụy vô cùng đáng sợ, người nhiễm
HIV ngoài phải chịu những căn bệnh quái ác mà HIV mang lại họ còn phải chịu sự kỳ
thị, xa lánh của mọi người, bị mọi người khinh thường... Người nhiễm HIV cũng chỉ là
nạn nhân của xã hội, họ đâu có tội tình gì mà phải gánh chịu những tổn thương cả về vật
chất, lẫn tinh thần. Người nhiễm HIV cũng là con người, họ có quyền được đối xử như
một con người, ngoài những quyền mà một công dân bình thường có, thì người nhiễm
HIV có thêm được những quyền riêng, đó có thể coi là ưu đãi của xã hội, thể hiện sự
cảm thông và chia sẻ bớt những đau thương, tạo thêm lòng tin trong cuộc sống cho
những số phận không may bị nhiễm HIV/AID.
Theo từ điển tiếng Việt thì “ Quyền là điều mà pháp luật hay xã hội công nhận cho
được hưởng, được làm, được đòi hỏi.”
Mỗi người được sinh ra đều có nhân quyền hay còn gọi là quyền con người, đây là
những đặc quyền vốn có, tự nhiên của con người và chỉ con người mới có; là những khả
3
hưởng những quyền lợi khác nhau. Sự không giống nhau này tạo nên sự đa dạng, phong
phú cho các nhóm quyền con người.
Khi nói về quyền con người, trong công ước quốc tế, phần mở đầu cho các quyền
dân sự, chính trị (ICCPR) ghi rõ: “Tất cả mọi người đều có quyền sống; Quyền bình
đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng”. Từ “tất cả” ở đây
có nghĩa là không trừ một ai, mỗi một con người từ khi mới được sinh ra là họ mặc
nhiên có được những quyền mà họ xứng đáng được hưởng. Quyền con người của cá
nhân được chia làm 5 nhóm sau: quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Trong
4
Chỉ thị số 12- CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan
điểm, chủ trương của Đảng ta”.
Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, quyền con người nằm trong các chế định quyền và
nghĩa vụ.
Khác với quyền con người, quyền của người nhiễm HIV sẽ được pháp luật quy định
khác, bởi về cơ bản chủ thể của hai quyền này hoàn toàn khác nhau. Chủ thể của quyền
con người là mọi cá nhân được sinh ra, còn chủ thể quyền của người nhiễm HIV chỉ
riêng người nào bị nhiễm HIV mới có thể hưởng những đặc quyền dành riêng cho họ.
Nói như vậy không có nghĩa là hai quyền này hoàn toàn khác nhau, suy cho cùng quyền
của người nhiễm HIV cũng chính là quyền con người, nhưng có thêm chế định dành
riêng cho người nhiễm HIV mà thôi.
Người nhiễm HIV cũng là cá nhân được sinh ra trong một nước, họ có quyền của
một công dân bình thường được có. Mặc dù nhiễm HIV là có nhiều nguyên nhân như:
tiêm chít ma túy; quan hệ tình dục bừa bãi, không an toàn; từ mẹ sang con….nhìn chung
thì có nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, có người thì đáng trách, nhưng
như những đứa trẻ sơ sinh mới lọt lòng mẹ đã mang trong mình căn bệnh quái ác này thì
sao, họ đáng thương hơn đáng trách. Chúng ta không gì vậy mà chúng ta kì thị tước đi
nhiễm HIV/AIDS vào con đường cùng, không lối thoát, xã hội đã đưa họ vào bóng tối
của cuộc đời, từ đó làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng, bởi họ sẽ tìm cách che
giấu tình trạng nhiễm bệnh của mình, tệ hơn nữa là họ trả thù xã hội, khiến cho nhiều
người cùng bị nhiễm bệnh giống mình.
Muốn giảm nguy cơ bị lây nhiễm bệnh cho bản thân và an toàn cho xã hội thì cách
tốt nhất chúng ta phải biết cảm thông, giúp đỡ và tìm cách ngăn chặn sự kỳ thị, phân
biệt đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS. Kể từ khi xuất hiện tình trạng
kỳ thị, phân biệt đối xử đối với nhóm người dễ bị tổn cũng như đối với người bị nhiễm
HIV thì song song đó cũng đã xuất hiện nhiều văn kiện quốc tế được ban hành chứa
đựng những cam kết về HIV/AIDS với nội dung đề cập đến vấn đề kỳ thị và xóa bỏ kỳ
thị, phân biệt đối xử với những người sống chung với HIV/AIDS và người thân của họ.
Một số văn bản pháp lý tiêu biểu có thể kể đến như: Các hướng dẫn quốc tế về
HIV/AIDS và quyền con người (1996), Tuyên bố về Những hành động then chốt để tiếp
tục thực hiện Chương trình Hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển
(1999), Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc (2000), Tuyên bố cam kết về
HIV/AIDS – Khủng hoảng toàn cầu, hành động toàn cầu (2001)…
1.2.2 Các văn bản pháp lý về quyền của người nhiễm HIV
Vì quyền con người nói chung cũng như quyền của người bị nhiễm HIV/AIDS nói
riêng thì nguồn của luật quốc tế điều chỉnh cũng là một. Bởi vì Luật quốc tế về quyền
con người (international human rights law) có thể được hiểu là “Một hệ thống các quy
tắc, tiêu chuẩn và tập quán pháp lí quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền tự do
cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại”.5
Trong các văn kiện được ban hành để bảo vệ quyền lợi cho người nhiễm HIV thì
phải nói đến Hiến chương của Liên Hợp Quốc, bởi Hiến chương đã dành không ít đoạn,
mục để khẳng định mục tiêu đẩy lùi tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử, thúc đẩy tôn
trọng các quyền tự do cơ bản của nhóm người dễ bị tổn thương, cũng như nhóm người
bị nhiễm HIV/AIDS. Các quyền của nhóm người này được pháp điển hóa trong nhiều
công ước quốc tế về nhân quyền như:
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948
5
bệnh nhân AIDS và 2149 người tử vong do AIDS.6 Từ khi HIV lây truyền sang Việt
Nam thì bắt đầu xuất hiện tình trạng kì thị, phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV. Vì
sự nguy hiểm của căn bệnh và sự thiếu hiểu biết về HIV/AIDS của người dân nên dẫn
đến tình trạng xa lánh của cộng đồng đối với người bị nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó,
chính sự kì thị của cộng đồng đã khiến cho người nhiễm HIV bị hạn chế một số quyền
cơ bản mà đáng lẽ ra mọi công dân đều phải được hưởng công bằng như nhau.
Xác định rõ HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính
mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của dân tộc, tác động trực tiếp đến sự
phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của
đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác phòng, chống HIV/AIDS từ
rất sớm. Ngay sau khi Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 52- CT/TW
ngày 11/3/1995 về lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS, ngày 31/5/1995, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng
6
“ Việt Nam hưởng ứng ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS 2013” nguồn: http://www.impe-qn.org.vn/impeqn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=944&ID=6892, [ngày truy cập 20/9/2014]
suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Bộ Y tế và các bộ, ngành có liên quan đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để
hướng dẫn thi hành.7
Từ khi Pháp lệnh được ban hành, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về
phòng chống HIV/AIDS đã được nhiều tỉnh, thành phố đặc biệt coi trọng và quan tâm
chỉ đạo thực hiện tuy nhiên hiệu quả đem lại vẫn chưa được như mong muốn. Hoạt
động tư vấn, xét nghiệm HIV chưa đáp ứng được nhu cầu. Quy định bí mật thông tin
liên quan đến người nhiễm HIV được thực hiện khá nghiêm ngặt, nhưng cũng đã làm
nảy sinh một số khó khăn trong công tác quản lý, chăm sóc và giúp đỡ cho người nhiễm
HIV. Sự phân biệt đối xử với người nhiễm vẫn còn tồn tại. Ngành y tế còn lúng túng
trong việc tiếp nhận và điều trị bệnh nhân AIDS do khó khăn về giường bệnh, trang
thiết bị, thuốc.8
bản Hiến pháp, “quyền con người” vẫn là chế định tiêu biểu của từng thời kì. Ở mỗi
Hiến pháp các quyền công dân nói chung và quyền của nhóm người dễ bị tổn thương
nói riêng và cụ thể hơn là nhóm người bị nhiễm HIV nói riêng nó không bị trùng lặp,
không sao chép của Hiến pháp trước mà tính hoàn chỉnh của các bản Hiến pháp phát
triển theo thời gian, từng giai đoạn lịch sử, nó kế thừa có chọn lọc và cho đến nay Hiến
pháp năm 2013 đã tương đối hoàn thiện. Giờ đây quyền con người, quyền công dân
phải được quy định bằng Hiến pháp, bằng Luật – những hình thức văn bản pháp lý cao
do Quốc hội quy định.
1.4 Các quyền của ngƣời nhiễm HIV/AIDS
1.4.1 Các quyền cơ bản
Cũng như các công dân bình thường khác, những người không may mang trong
người căn bệnh HIV/AIDS hay nói một cách rộng hơn là nhóm người dễ bị tổn thương
trong xã hội đều có quyền được hưởng các quyền cơ bản của công dân. Ngoài ra, họ còn
được hưởng thêm nhiều chế độ, nhiều quyền ưu tiên hơn những người khác, bởi họ đã
phải quá đau khổ và thiệt thòi hơn nhiều người trong xã hội.
Trước khi đề cập đến quyền của người bị nhiễm HIV thì ta cần biết thế nào là nhóm
người dễ bị tổn thương (vulnerable groups) khái niệm về nhóm người này vẫn thường
được thấy nói đến ở các văn kiện pháp lý quốc tế và trong các hoạt động nghiên cứu về
quyền con người trên thế giới. Tuy chưa có khái niệm chính thức về nhóm người dễ bị
tổn thương nhưng qua quá trình hoạt động và nghiên cứu từ các nguồn tài liệu và thực
tiễn thì ta có thể hiểu “nhóm người dễ bị tổn thương là những nhóm, cộng đồng có vị thế
về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên
hay bị vi phạm các quyền con người và bởi vậy họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so
với những nhóm, cộng đồng người khác”.9
Một số nhóm người dễ bị tổn thương mà ta thường thấy trong luật nhân quyền như
phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, và trong đó có nhóm người bị nhiễm HIV. Chính vì
nhóm người bị nhiễm HIV cũng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội nên
quyền của người nhiễm HIV/AIDS có các quyền cơ bản sau:
- Quyền được sống
- Quyền được chăm sóc sức khỏe
lệ, thủ tục thực hiện quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân trong mọi lĩnh vực.
Cũng như quyền con người thì quyền của nhóm người dễ bị tổn thương, cụ thể là
quyền của nhóm người bị nhiễm HIV/AIDS đều cũng được bình đẳng trước pháp luật,
không bị phân biệt đối xử với mọi trường hợp và bất kể cá nhân nào.
Ở nhiều nơi trên thế giới cũng như ở nước ta hiện nay, sự kỳ thị và phân biệt đối xử
với những người nhiễm HIV vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi và biểu hiện công khai hoặc
ngấm ngầm, vô đạo đức hoặc tế nhị, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, dưới nhiều hình thức
và mức độ khác nhau.
Theo khoản 4, Điều 2 và khoản 5, Điều 2 của Luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra
hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006, thì ta có thể
hiểu:
Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người khác vì
biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người
nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV.
Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược
đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ
người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị
nghi ngờ nhiễm HIV.
10
Điều 16, Hiến pháp năm 2013.
Như vậy, kỳ thị là thái độ, còn phân biệt đối xử là hành vi hoặc hành động cụ thể đối
với người nhiễm HIV. Kỳ thị là tiền đề của phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV.
Muốn chống phân biệt đối xử phải bắt đầu từ việc chống kỳ thị với người nhiễm HIV.
Cũng cần lưu ý rằng kỳ thị và phân biệt đối xử không chỉ xảy ra với những người nhiễm
HIV, mà còn xảy ra đối với cả những người thân và gia đình họ.
1.4.2.1 Nguyên nhân của kỳ thị và phân biệt đối xử
Chương trình phối hợp phòng chống AIDS của Liên Hợp Quốc (UNAIDS) và Tổ
đối xử công bằng của cộng đồng hơn là những người bị nhiễm bệnh do tiêm chít ma
túy hay hành nghề mại dâm.
Với tâm lý lo sợ bị nhiễm bệnh như hiện nay thì mọi người nghĩ rằng tránh xa
không tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS là cách tốt nhất để phòng ngừa bệnh.
Do truyền thông không đầy đủ và phù hợp.
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…chia sẻ
những kĩ năng và kinh nghiệm lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường
hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức tiến tới thay đổi hành vi và thái độ phù hợp với
nhu cầu của cá nhân, của nhóm, của xã hội (trích từ truyền thông lý thuyết và k năng
cơ bản của PGS.TS Nguyễn Văn Dững). Như vậy truyền thông là phương tiện cung cấp
thông tin tốt nhất, nhanh nhất cho công đồng, nếu một khi truyền thông cung cấp những
thông tin sai, không đầy đủ và phù hợp thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn với nhận thức của
người dân.
Trong một thời gian dài trước đây, việc tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS là hù
dọa bằng hình ảnh chết chóc, đầu lâu xương chéo, hình ảnh người bị lở loét toàn thân,
gầy dơ xương… tạo ra cảnh hãi hùng. Ngoài ra, truyền thông còn đưa những thông tin
không cụ thể, không giải thích rõ ràng nhất là đường lây truyền và đường không lây
truyền HIV/AIDS, chưa quan tâm đầy đủ đến phổ biến pháp luật quy định về phòng
tránh HIV/AIDS cho người dân hiểu, không làm rõ được tầm quan trọng của việc chăm
sóc người nhiễm bệnh.
Chính việc tuyên truyền như vậy đã khiến mọi người sợ hãi, xa lánh và đây cũng
chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người
nhiễm HIV/AIDS.
Do sự bất bình đẳng về giới
Một thực tế hiện nay cho thấy phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS bị kỳ thị nặng hơn nam
giới khi bị nhiễm, bởi thứ nhất là do những giả định phổ biến là lây nhiễm HIV là do
thực hiện hành vi trái đạo đức (ma túy, mại dâm… ), thứ hai là quan niệm cho là người
phụ nữ phải thuần phong mỹ tục, phải biết giữ gìn đạo đức gia đình và xã hội, nam giới
có thể làm những điều mình thích, theo đuổi những ham muốn của bản thân nhưng phụ
Sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS gây ra nhiều hậu
quả, tác động xấu tới chương trình phòng chống HIV/AIDS; Làm hạn chế quyền của
người nhiễm HIV được hiến pháp và pháp luật bảo hộ, trong đó có quyền được sống
hòa nhập với cộng đồng, quyền được chăm sóc sức khỏe, tiếp cận và sử dụng các dịch
vụ y tế, quyền được đi học, quyền được làm việc và được tiếp cận với các chính sách
xã hội…mặc dù cho hệ thống văn bản pháp luật nước ta như Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 – nay được thay bởi Hiến pháp 2013, Luật bảo vệ sức
khỏe nhân dân 1989 và Pháp lệnh phòng chống HIV 1995 của Việt Nam – nay được
thay bởi Luật phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, đều khẳng định người nhiễm
HIV/AIDS có quyền bình đẳng trước pháp luật.
Ảnh hƣởng đến cá nhân ngƣời nhiễm.
Khi sự kỳ thị và phân biệt đối xử xảy ra, người nhiễm HIV có xu hướng không
muốn tiết lộ thân phận của mình, khiến họ luôn sống trong sự lo lắng, căng thẳng, vụng
trộm và tự cô lập mình. Hậu quả là người nhiễm không nhận được sự chăm sóc và hỗ
trợ tinh thần cần thiết, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của họ. Những người nhiễm bị phân
biệt đối xử thường cảm thấy tuyệt vọng và suy nhược nhanh chóng. Kỳ thị và phân biệt
đối xử làm cho họ suy sụp cả về thể chất lẫn tinh thần, suy kiệt nhanh hơn và thời gian
sống ngắn hơn. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu người nhiễm được chăm sóc tốt, được
cộng đồng và gia đình hỗ trợ, họ có thể sống có ích trong nhiều năm, vẫn có khả năng
lao động và làm ra của cải vật chất cho xã hội.
Làm giảm vai trò của gia đình và cộng đồng trong chăm sóc ngƣời nhiễm
HIV/AIDS.
Hiện nay, người nhiễm HIV/AIDS vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong
cuộc sống do tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử gây nên. Người nhiễm HIV/AIDS rất
cần sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội, nếu bị kỳ thị và phân biệt đối xử thì họ gần như mất
hết chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần, làm cho họ mất hết lòng tự trọng và bị dồn vào
“ngõ cụt” bỏ đi lang thang.
Một số trường hợp của người nhiễm HIV/AIDS khi bị gia đình và xã hội đối xử
công dân phải được hưởng. Pháp luật Việt Nam và luật quốc tế đều đưa ra những chế
định nhằm để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho người nhiễm HIV, bên cạnh đó còn
đưa ra quy định để bảo vệ cho người bị nhiễm trước sự kỳ thị của cộng đồng.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS
TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
____
Tình hình hiện nay, người bị nhiễm HIV/AIDS ngày càng bị xã hội kỳ thị và phân
biệt đối xử nặng nề. Trước thực trạng này, luật pháp của các quốc gia trên thế giới trong
đó có Việt Nam đã đưa ra các văn bản pháp luật nhằm quy định về quyền của người
nhiễm HIV/AIDS. Người nhiễm HIV/AIDS vẫn có quyền và nghĩa vụ như mọi công
dân khác. Thực hiện tốt quyền đối với người nhiễm bệnh, sẽ giúp họ sống có ích hơn và
nâng cao chất lượng cuộc sống.
2.1. Quyền của ngƣời nhiễm HIV đƣợc quy định trong pháp luật quốc tế
2.1.1 Các Hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người năm 1996
Các hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người năm 1996 được thông
qua tại Hội nghị tư vấn quốc tế lần thứ hai về HIV/AIDS và quyền con người, do Cao
ủy Liên Hợp Quốc / Trung tâm Quyền con người và Chương trình về HIV/AIDS của
Liên Hợp Quốc (UNAIDS) đồng tổ chức ở Geneva trong các ngày 23-25/9/1996, nhằm
hỗ trợ các quốc gia xác lập một cách ứng xử với HIV/AIDS mang tính tích cực và dựa
trên quyền, điều mà sẽ tạo hiệu quả trong việc giảm thiểu sự lây truyền và ảnh hưởng
của đại dịch, trong khi vẫn bảo đảm sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con
người.
Theo văn kiện này thì những chủ thể chủ yếu sử dụng Hướng dẫn này sẽ là các nhà
nước, những nhà lập pháp, nhà hoạch định chính sách của chính phủ, bao gồm các quan
chức tham gia những chương trình phòng chống AIDS quốc gia và quan chức của các
bộ ngành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động,
Bộ Phúc lợi Xã hội và Bộ Giáo dục. Những đối tượng hưởng lợi khác sẽ là các tổ chức
tế về xóa bỏ tất cả những hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước về xóa bỏ
tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979; Công ước về chống tra
tấn và các hình thức trừng phạt, đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm
1984; và Công ước về quyền trẻ em năm 1989. Nhiều văn kiện khu vực, chẳng hạn như
Công ước châu Mỹ về quyền con người; Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền và tự
do cơ bản của con người; Hiến chương châu Phi về quyền của các dân tộc và của con
người cũng bao gồm các nghĩa vụ quốc gia có thể áp dụng trong bối cảnh HIV/AIDS.
Thêm vào đó, một số công ước và khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
cũng đặc biệt liên quan đến vấn đề HIV/AIDS, chẳng hạn như các văn kiện của ILO về
11
Các hướng dẫn quốc tế về HIV/AIDS và quyền con người,1996
http://hr.law.vnu.edu.vn/abipoly_478/270/cac-huong-dan-quoc-te-ve-hivaids-va-quyen-con-nguoi-1996, [ngày
truy cập 22/10/2014].