quản lý nhà nước về tôn giáo lý luận và thực tiễn - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 37 (2011-2014)

Đề tài:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn
TS. Phan Trung Hiền

Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thi
MSSV : 5116021
Lớp: Luật Hành chính K37

Cần Thơ, 11/2014


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
1.

Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1


1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo ................................................. 14
1.1.3.1. Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước ................................................. 14
1.1.3.2. Vai trò của các tổ chức tôn giáo .......................................................... 15
1.1.3.3. Vai trò của người dân ........................................................................... 15
1.1.4. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về tôn giáo ............................................... 15
1.1.4.1. Ý nghĩa về mặt chính trị ....................................................................... 15
1.1.4.2. Ý nghĩa về mặt xã hội ........................................................................... 16
1.1.4.3. Ý nghĩa về mặt kinh tế .......................................................................... 16
1.2. Các tôn giáo ở nước ta hiện nay ..................................................................... 16
1.2.1. Công giáo .................................................................................................... 16
1.2.2. Cao đài ........................................................................................................ 17


1.2.3. Phật giáo Hòa hảo...................................................................................... 18
1.2.4. Hồi giáo ...................................................................................................... 19
1.2.5. Phật giáo ..................................................................................................... 19
1.2.6.Tin lành ....................................................................................................... 20
1.3. Trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam ............................................... 21
1.4. Trách nhiệm của người dân ............................................................................ 21
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ TÔN GIÁO ...................................................................................................... 23
2.1. Trách nhiệm của các tổ chức tôn giáo............................................................ 23
2.1.1. Trách nhiệm trong đăng ký thành lập tôn giáo ........................................ 23
2.1.1.1. Điều kiện chung để thành lập tôn giáo ................................................ 23
2.1.1.2. Đăng ký sinh hoạt tôn giáo................................................................... 24
2.1.1.3. Trách nhiệm trong đăng ký hoạt động tôn giáo ................................... 25
2.1.1.4. Hoạt động tôn giáo của tổ chức sau khi được cấp đăng ký ................ 26
2.1.1.5. Công nhận tổ chức tôn giáo ................................................................. 26
2.1.2. Trách nhiệm trong đào tạo chức sắc nhà tu ............................................. 27
2.1.3. Trách nhiệm trong quản lý tài sản tôn giáo ............................................. 28


...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
...........................................................................................................................................
Cần Thơ, tháng 11 năm 2014



và sự phân cấp trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước; trách nhiệm của các
tổ chức tôn giáo và trách nhiệm của người dân ngày càng thể hiện rõ hơn.

1

Khánh Luynh, kẻ cầm đầu nhà nước Hồi giáo IS là ai?, http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/ke-cam-dau-nhanuoc-hoi-giao-la-ai-3081793.html, [truy cập ngày 08 tháng 11 năm 2014]
2

Điều 24, Hiến pháp năm 2013

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 1

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật dù có phù hợp vẫn tồn tại những thiếu sót,
bất cập. Các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, các phần tử xấu lợi dụng tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, lan
truyền thông tin gây ảnh hưởng đến đời sống người dân, mất trật tự xã hội. Trước tình
hình trên, hệ thống pháp luật về tôn giáo của nước ta cần phải được tăng cường và
hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thực tế. Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề,
cùng với niềm say mê của bản thân đối với lĩnh vực quản lý nhà nước về tôn giáo, tác
giả đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về tôn giáo – Lý luận và thực tiễn” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả tìm hiểu những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tìm hiểu những quy định của pháp luật nước ta về tôn

Chương 1: Khái quát chung về quản lý nhà nước về tôn giáo
Chương này giới thiệu về các cơ sở lý luận chung nhất từ các khái niệm cơ bản đến
quá trình phát triển của việc quản lý nhà nước về tôn giáo qua các giai đoạn. Sau đó
trình bày vai trò của các chủ thể như cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tôn giáo,
người dân,… trong quản lý hoạt động tôn giáo. Cuối cùng sẽ tìm hiểu trách nhiệm của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và trách nhiệm của người dân.
Chương 2: Những quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về tôn giáo
Trọng tâm của chương này là phân tích trách nhiệm của các tổ chức tôn giáo, trách
nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung và thẩm quyền chuyên môn
dựa trên các quy định của pháp luật. Thông qua đó, làm cơ sở để chương 3 so sánh, đối
chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra hướng hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu.
Chương 3: Thực tiễn quản lý nhà nước về tôn giáo và hướng hoàn thiện
Chương này tập trung phân tích tình hình quản lý nhà nước về tôn giáo trên phạm vi cả
nước, đưa ra những mặt làm được và những mặt còn hạn chế của hoạt động quản lý
nhà nước về tôn giáo. Sau đó, hệ thống lại những thuận lợi và bất cập của việc quản lý
nhà nước về tôn giáo để tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp góp phần
hoàn thiện các quy định có liên quan đến việc quản lý nhà nước về tôn giáo.

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 3

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn

CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO



Ph.Ăngghen , Chống Đuyrinh, Nxb CTQG- Sự thật, Hà Nội năm 1984

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 4

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
- Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thì luôn luôn phải đề
cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của
người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình.
- Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trong cuộc đấu tranh với tự
nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánh mất mình do đó phải dựa
vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hy vọng tuyệt đối, một cuộc đời
thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”, một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại,
tương lai cùng chung sống. Nó gieo niềm hi vọng vào con người, dù có phần ảo tưởng
để yên tâm, tin tưởng để sống và phải sống trong một thế giới trần gian có nhiều bất
công và khổ ải.
Như vậy: Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính
thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo,
nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó được
biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa
khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ,
những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau.4
* Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê nin về tôn giáo:
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tôn giáo là một hiện tượng xã hội
phức tạp liên quan đến đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân, phản ánh hiện

và lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân tin theo. Quán triệt theo tinh thần của chủ
nghĩa Mác- Lê nin, áp dụng thực tế tình hình đất nước ta có thể khái quát tôn giáo qua
các điểm sau:
- Thứ nhất, Tôn giáo còn tồn tại lâu dài, việc khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của
thế giới khách quan không tách rời khỏi công cuộc cải biến cách mạng, khẳng định
bản chất tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa. Chỉ có thông qua công cuộc xây dựng xã hội
mới từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng nhân dân, củng
cố niềm tin của quần chúng, tín đồ các tôn giáo vào chế độ mới thì sẽ khắc phục tâm lý
sùng kính tôn giáo, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của thế giới quan tôn giáo.
- Thứ hai, Cần phân biệt những hoạt động tôn giáo, nhu cầu tôn giáo thuần túy
của nhân dân với những âm mưu lợi dụng tôn giáo, kích động tôn giáo nhằm chia rẽ
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi ngược
lại lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc. Sinh hoạt tôn giáo bình thường là nhu cầu chính
đáng của một bộ phận nhân dân, được pháp luật bảo hộ, Nhà nước tôn trọng và tạo
điều kiện thuận lợi. Mặt khác, những hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật,
tuyên truyền đạo trái phép, xuyên tạc, vu cáo chế độ xã hội chủ nghĩa, chống đối chính
quyền phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật. Dưới chế độ chủ nghĩa xã hội một
mặt vừa phải được đảm bảo nhu cầu sinh hoạt chính đáng của nhân dân, mặt khác phải
tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo. Trong việc giải quyết các vấn đề có liên
quan đến tôn giáo vừa chống cực đoan, đồng thời chống buông lỏng quản lý. Đây là
vấn đề không đơn giản, đòi hỏi phải giải quyết một cách thận trọng, chính xác.
- Thứ ba, Đoàn kết rộng rãi quần chúng có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng,
đoàn kết các tôn giáo và tín đồ các tôn giáo khác nhau lấy mục tiêu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa- một xã hội “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh” làm điểm tương đồng. Sự phát triển về thế giới quan không cản trở
hoặc mâu thuẫn với việc thực hiện đại đoàn kết tôn giáo, đoàn kết người có tín
ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc có tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau. Đảng cũng thể hiện tính ưu việt, tiến bộ, nhân văn của chính sách tôn giáo
trong chế độ xã hội chủ nghĩa.


phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan.
- Tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc: Đây là tư tưởng có vị trí chiến
lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Có thể nói, tư tưởng đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt,
bao trùm trong tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong
cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN ở Việt Nam. Đoàn kết lương- giáo
là đoàn kết những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín
ngưỡng, tôn giáo. Để thực hiện được quan điểm này đòi hỏi phải đặt lợi ích quốc gia,
lợi ích dân tộc lên hàng đầu, đồng thời phải quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần
của đồng bào có đạo, khắc phục những mặc cảm và định kiến.
1.1.1.2 Hoạt động tôn giáo
Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản
lý tổ chức của tôn giáo.8
Theo khái niệm này, ta có thể hiểu hoạt động tôn giáo qua các khía cạnh là truyền
bá giáo lý, giáo luật, lễ nghi, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi và quản lý tổ chức
của tôn giáo.
7
8

Võ Thị Bích Thủy, Tạp chí Khoa học chính trị, số tháng 5/2001
Khoản 5, Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 7

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn

giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước
công nhận.11
9

Khoản 3, Điều 4 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004
Khoản 4, Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004

10

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 8

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, tu
viện,…thuộc tổ chức tôn giáo.
Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: học viện, trường
Cao đẳng, trường Trung cấp Phật học, Đại chủng viện của Công giáo, Viện Thánh
kinh thần học của Đạo Tin lành,…
1.1.1.5 Tín đồ tôn giáo
Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận.12
Theo khái niệm này, có thể hiểu muốn trở thành tín đồ của một tôn giáo phải có
niềm tin vào tôn giáo đó và điều quan trọng là phải được tôn giáo đó thừa nhận.
Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2011 nước ta có hơn 25 triệu
tín đồ của hơn 30 tổ chức thuộc 13 tôn giáo khác nhau, chiếm khoảng 1/4 dân số nước
ta. Trong xu thế các tổ chức tôn giáo ngày một tăng lên, đồng nghĩa với việc số lượng
tín đồ và số người tin tưởng vào tôn giáo cũng tăng theo.

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
thấy được trách nhiệm của của cơ quan nhà nước trong việc quản lý hoạt động tôn
giáo.
1.1.2 Lược sử về quản lý nhà nước về tôn giáo
Tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm vì thế quá trình quản lý nhà nước về tôn giáo
sẽ gặp nhiều khó khăn, bất cập. Tùy từng giai đoạn, mà việc quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo được thực hiện dựa trên các văn bản pháp luật phù hợp với từng
thời kỳ phát triển của đất nước. Có không ít các văn bản điều chỉnh về vấn đề quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu tác giả
chia thành hai giai đoạn như sau: (i) Giai đoạn trước Pháp lệnh về tôn giáo 2004; (ii)
Giai đoạn từ Pháp lệnh về tôn giáo 2004 có hiệu lực cho đến nay.
1.1.2.1Giai đoạn trước Pháp lệnh về tôn giáo 2004
Trước khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực (ngày 15/11/2004) các văn
bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo chỉ dừng lại ở hình thức nghị định của Chính phủ; các Nghị định
26/1999/ NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 1999 về các hoạt động tôn giáo, Nghị định
22/2004/ NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2004 Về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công
tác tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân các cấp nhìn chung còn thiếu sót, nội dung thiếu rõ
ràng, mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu các biện pháp đảm bảo thực hiện. Các quy định về
trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo còn
rườm rà, nhiều nội dung quản lý thiếu quy định cụ thể, gây khó khăn cho người quản
lý lẫn đối tượng thực hiện, không đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay.
1.1.2.2 Giai đoạn từ Pháp lệnh về tôn giáo 2004 có hiệu lực cho đến nay
Pháp lệnh 21/2004/ PL-UBTVQH11 Ngày 18 tháng 6 năm 2004 Về tín ngưỡng,
tôn giáo là Pháp lệnh đầu tiên trong thời kỳ đổi mới quy định về hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo của nước ta. Để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, Nghị định số 22/ CP Ngày 01
tháng 3 năm 2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh (gọi

theo hiến chương, điều lệ của tổ chức. Nhà nước không can thiệp mà chỉ đặt ra các
điều kiện về tư cách công dân, có tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc và nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật của Nhà nước. Sau khi phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu
cử, suy cử, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về những người được phong, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử. Đối với trường hợp
phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử công dân Việt Nam vào các chức
danh tôn giáo do nước ngoài quyết định thì ngoài các điều kiện về tư cách công dân
còn phải có sự thỏa thuận trước của Ban Tôn giáo Chính phủ14.
- Việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc trong tổ chức tôn giáo: Đây cũng là một
quy định mới và được xem là công việc nội bộ của các tôn giáo. Nhà nước chỉ yêu cầu
khi thực hiện, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm thông báo với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý.
- Về việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của nhà tu hành, chức sắc: Nghị
định số 26/1999/NĐ-CP trước đây quy định khá chặt chẽ. Theo đó, chức sắc, nhà tu
hành khi thuyên chuyển phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân nơi đi và nơi đến chấp
thuận. Cũng về vấn đề này, Pháp lệnh đã quy định thông thoáng hơn, chỉ cần thông
báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đi và đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp huyện
nơi đến.
- Về hội đoàn tôn giáo: Trong Nghị định số 26/1999/NĐ-CP và các văn bản pháp
luật liên quan đến tôn giáo, vấn đề hội đoàn không được đề cập một cách trực tiếp.
14

Điều 20, Nghị định số 26/1999/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 19 tháng 4 năm 1999 về các hoạt động tôn giáo

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 11

SVTH: Phạm Thị Thi


phù hợp với pháp luật mỗi bên, pháp luật và thông lệ quốc tế.
- Về hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành nước ngoài tại Việt Nam; sinh
hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam: Đây là một trong những nội dung
mới của Pháp lệnh. Theo quy định của Pháp lệnh thì chức sắc, nhà tu hành là người
nước ngoài được phép giảng đạo tại cơ sở tôn giáo của Việt Nam sau khi được Ban
Tôn giáo Chính phủ chấp thuận. Khi giảng đạo phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và
tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo. Đối với người nước ngoài vào Việt Nam được
GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 12

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
mang theo xuất bản phẩm tôn giáo và đồ dùng việc đạo để phục vụ nhu cầu của bản
thân; được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo như những tín đồ của
Việt Nam; được mời chức sắc tôn giáo là người Việt Nam đến thực hiện lễ nghi tôn
giáo cho mình; phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và tôn trọng quy định của tổ chức tôn
giáo Việt Nam.
- Về việc đình chỉ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo: Đây là cơ sở pháp lý quan
trọng cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo khi vi phạm một trong các trường hợp như xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường; xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác hoặc có những hành vi vi phạm
pháp luật nghiêm trọng khác.
Ngày 04/02/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg
Về một số công tác đối với đạo Tin lành để giải quyết những vấn đề còn tồn tại và mới
nảy sinh trong những năm gần đây liên quan đến sinh hoạt tôn giáo của người dân theo
đạo Tin lành, làm cho người dân theo tín ngưỡng, tôn giáo yên tâm, gắn bó với cộng

1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.3.1 Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước là chủ thể đại diện cho nhân dân quản lý tất cả các mặt
của đời sống xã hội nói chung và quản lý hoạt động tôn giáo nói riêng với vai trò như
sau:
- Thứ nhất, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý hoạt động tôn
giáo:

15

+ Chính phủ ban hành các Nghị định như: Nghị định 26/1999/NĐ-CP Về các
hoạt động tôn giáo; Nghị định 22/2004/NĐ-CP Về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công
tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp; Nghị định 22/2005/NĐ-CP Hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định 92/2012/NĐ-CP Quy
định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo,…
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 134/2009/QĐ-TTg Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc
Bộ Nội vụ.
+ Thông tư của Bộ Nội vụ số 04/2010/TT-BNV ngày 20 tháng 5 năm 2010
Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Ban Tôn giáo
trực thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
+ Các văn bản khác
- Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp tham gia quản lý hoạt động tôn
giáo như sau:
+ Hoạt động của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ; Ban Tôn giáo
trực thuộc Sở Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương.
+ Thẩm quyền cấp đăng ký hoạt động tôn giáo của cơ quan quản lý nhà nước về
tôn giáo ở Trung ương đối với tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh,

lợi dụng tôn giáo để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Phát huy vai trò
lãnh đạo của các tổ chức tôn giáo, nhất là vai trò của các chức sắc để làm thất bại âm
mưu của địch, góp phần bảo vệ đất nước, ổn định đời sống xã hội.
1.1.3.3 Vai trò của người dân
Người dân có vai trò rất quan trọng trong việc phản ánh hoạt động của các tổ
chức tôn giáo. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả chia vai trò của người dân làm hai
loại:
- Thứ nhất, người dân là tín đồ thuộc các tổ chức tôn giáo: Đây là bộ phận có vai
trò đặc biệt quan trọng vì họ hiểu rõ hơn hết hoạt động của tôn giáo mà mình đang
theo. Khi phát hiện tổ chức tôn giáo có hành vi lợi dụng tôn giáo để trục lợi, mục đích,
tôn chỉ, đường hướng hành đạo trái với quy định của pháp luật về tôn giáo thì các tín
đồ sẽ kịp thời tố giác với chính quyền địa phương.
- Thứ hai, người dân là người ở xung quanh các tổ chức tôn giáo: Khi phát hiện
các tổ chức tôn giáo có các hoạt động trái pháp luật, xâm phạm đến lợi ích cá nhân, lợi
ích công cộng thì người dân xung quanh khu vực có tổ chức tôn giáo hoạt động sẽ
thông báo với chính quyền địa phương để có biện pháp xử lý kịp thời.
1.1.4. Ý nghĩa của quản lý nhà nước về tôn giáo
1.1.4.1 Ý nghĩa về mặt chính trị
Khi các tôn giáo hoạt động ổn định, phát triển thì vai trò quản lý của Nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo cũng được nâng cao, góp phần củng cố niềm tin và sự tín
GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 15

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
nhiệm của các tổ chức tôn giáo vào Nhà nước. Thông qua đó, Nhà nước cũng thể hiện
được năng lực quản lý của mình đối với hoạt động tôn giáo nói riêng và các mặt của

Trần Thắng, Ban Tôn giáo Chính phủ, Vai trò của các chức sắc tôn giáo phát huy khối đại đoàn kết dân tộc,

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/2657/Dong_Thap_Vai_tro_cua_chuc_sac_ton_giao_phat_huy
_suc_manh_khoi_dai_doan_ket_dan_toc, [truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014]

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 16

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
khoảng 9.000 giáo họ, 26 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là: giáo tỉnh Hà Nội (10 giáo
phận), giáo tỉnh Huế (6 giáo phận), giáo tỉnh thành phố Hồ Chí Minh (10 giáo phận).
Đứng đầu 3 giáo tỉnh là Tổng giám mục, đứng đầu giáo phận là giám mục.
Đạo Công giáo thờ “Thiên Chúa Ba Ngôi”. Để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, đạo
Công giáo đã xây dựng 6 Đại chủng viện là nơi đào tạo linh mục, nơi cung cấp nguồn
giáo sĩ chủ yếu cho Giáo hội. Trong qua trình tồn tại và phát triển của mình, Công giáo
đã có ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa cũng như đời sống xã hội Việt Nam. Thực
hiện chủ trương tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước,
đồng bào Công giáo đã nghiêm chỉnh chấp hành và xây dựng đất nước giàu mạnh
hơn.17
1.2.2 Cao đài
Đạo Cao đài hay Đại Đạo Tam kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa do Ngô Văn
Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc sáng lập năm 1926, với trung tâm là Tòa
Thánh Tây Ninh. Hiện nay đạo Cao đài là một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam
với số lượng 2,4 triệu tín đồ. Trước năm 1975, đạo Cao đài tổ chức theo mô hình ba
đài gồm: Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài. Sau năm 1975, các phái Cao
đài không hoạt động theo mô hình cũ mà xây dựng tổ chức thành chính đạo theo hai

giáo



Việt

Nam,

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1217/Khai_quat_ve_lich_su_truyen_giao_va_phat_trien_dao_
Cong_giao_o_Viet_Nam, [ truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014 ].

GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 17

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài
đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước.18
1.2.3 Phật giáo Hòa hảo
Phật giáo Hòa Hảo là một trong những tôn giáo lớn ở nước ta hiện nay, ra đời ở
Nam bộ vào năm 1939 do ông Huỳnh Phú Sổ quê ở làng Hòa Hảo, quận Tân Châu,
tỉnh Châu Đốc (nay là thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) sáng lập nên.
Năm 1999, đạo Phật giáo Hòa Hảo được công nhận tư cách pháp nhân. Hiện nay, Phật
giáo Hòa Hảo có gần 1,3 triệu tín đồ (theo thống kê của Vụ Các Tôn giáo khác – Ban
Tôn giáo Chính phủ), có mặt ở 24 tỉnh, thành phố nhưng tập trung đông ở các tỉnh,
thành phố Tây Nam bộ. Về tổ chức, Giáo Hội Phật giáo Hòa Hảo có hai cấp: cấp toàn
đạo có tên gọi là Ban Trị sự Trung ương Phật Giáo Hòa Hảo; cấp cơ sở xã, phường, thị


GVHH: TS. Phan Trung Hiền

Trang 18

SVTH: Phạm Thị Thi


Đề tài: Quản lý nhà nước về tôn giáo – lý luận và thực tiễn
1.2.4 Hồi giáo
Hồi giáo là một tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất thế giới. Ở Việt Nam, chủ
yếu chỉ có người Chăm theo Hồi giáo với số lượng tín đồ khoảng 100.000 người, được
chia thành hai dòng rõ nét là Chăm Islam và Chăm Bàni. Người ta cho rằng Hồi giáo
đã được truyền vào Việt Nam đầu tiên là khoảng thế kỷ 10,11 ở cộng đồng người
Chăm. Đồng bào Chăm Islam và Chăm Bàni có niềm tin tôn giáo sâu sắc vào thượng
đế Allah và giáo lý là kinh Coran. Tuy nhiên niềm tin đó lại có sự khác nhau khi thực
thi giáo luật Hồi giáo giữa hai dòng: Chăm Islam thực hiện giáo luật trọn vẹn mang
tính chính thống, yếu tố tôn giáo sâu sắc hơn; Chăm Bàni thực hiện giáo luật mang
tính tượng trưng, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tôn giáo Bàlamon và tín ngưỡng bản địa,
có yếu tố dân tộc vượt trội.
Theo khảo sát, đến năm 2009 số lượng cơ sở thờ tự của Hồi giáo là 79 cơ sở. So
với trước năm 1975, số lượng cơ sở thờ tự của Hồi giáo tăng, nhiều cơ sở được trùng
tu, sửa chữa khang trang. Từ năm 2003 (thực hiện chủ trương của Đảng về công tác
Hồi giáo), Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
thành lập tổ chức của các cộng đồng Hồi giáo giúp cho công tác quản lý nhà nước ở
địa phương đối với Hồi giáo tốt hơn, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của bà
con tín đồ.
Ngày nay, đời sống của tín đồ Hồi giáo được nâng cao rõ rệt. Cùng với chính
sách quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của tín đồ Hồi giáo đã làm củng cố thêm niềm tin, ý thức tự nguyện thực hiện chính

Hàng ngàn ngôi chùa từ thành thị đến nông thôn được trùng tu, tôn tạo; hàng vạn pho
tượng cổ, hoành phi, câu đối,..được chăm sóc, giữ gìn. Đó là những công trình kiến
trúc, những tác phẩm mỹ thuật mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.21
1.2.6 Tin lành
Tin lành là một tôn giáo có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam, so
với các tôn giáo khác thì Tin lành truyền vào muộn hơn cả. Hiện nay, Tin lành đã trở
thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống văn hóa, xã hội của nước ta.
Hiện nay, chưa có một số liệu thống kê chính xác nào về số người theo đạo tin lành từ
phía các cơ quan nhà nước. Theo ước tính có khoảng 1,5 triệu người theo đạo Tin
lành. Đến tháng 10 năm 2006, khi Ban Tôn giáo Chính Phủ hướng dẫn các tổ chức Tin
lành thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, cả nước có vài chục tổ chức, hệ phái
Tin lành tồn tại độc lập. Có thể kể đến một số hệ phái như: Hội Thánh Tin lành Việt
Nam (miền Nam), Hội Thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Giáo Hội Cơ đốc Phục
Lâm Việt Nam, Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam,… trong đó, Hội Thánh Tin lành
Việt Nam (miền Nam) là Hội thánh gốc của Hội thánh Tin lành Việt Nam do Hội
Truyền Giáo (CMA) truyền vào năm 1911.
Đạo Tin lành có hai sinh hoạt về mặt tổ chức là Bồi linh và Hội đồng. Tin lành
thờ chúa Giêsu và lấy Kinh thánh làm Giáo lý. Hiện nay, Tin lành có mặt ở khắp các
địa phương trên cả nước (trừ Ninh Bình và Quảng Bình), tín đồ theo đạo Tin lành tập
trung chủ yếu ở Tây Bắc và Tây Nguyên. Đạo Tin lành tham gia tích cực vào các hoạt
động xã hội, nhất là các lĩnh vực từ thiện nhân đạo, lấy đó làm phương tiện mở rộng
ảnh hưởng. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của đạo Tin lành đã dẫn đến nhiều
sự thay đổi, thậm chí xung đột về văn hóa giữa những người theo đạo Tin lành và
người dân xung quanh, chính điều đó đã tạo cho các thế lực thù địch có cơ hội lợi dụng
đạo Tin lành để chia rẽ đoàn kết dân tộc…

21

Võ Văn Tường, Tổng quan về Phật giáo Việt Nam, http://www.vncgarden.com/bai-gioi-thieu-cua-vo-van-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status