Quang Trung là anh hùng dân tộc vĩ đại của dân ta ở thế kỷ
XVIII. Lễ hội gò Đống Đa diễn ra hằng năm tưởng nhớ công lao
to lớn của vua Quang Trung, tinh thần quyết thắng của dân tộc
ta.
Lúc bấy giờ, Nguyễn Huệ - Bắc Bình Vương đóng quân tại Phú Xuân, ông là người dữ tướng, tóc xoăn,
da sần, mắt sáng như chớp có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối. Mọi người sợ ông đến nỗi không dám
nhìn thẳng vào mắt ông. Ngày 24 tháng 11. Nguyễn Văn Tuyết được lệnh của Ngô Văn Sở và Ngô Thì
Nhậm chạy trạm vào Nam cấp báo cho Nguyễn Huệ biết về việc Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, mở
đường cho Tôn Sĩ Nghị kéo hai mươi chín vạn quân sang xâm lược nước ta. Xem ra chúng là một đạo
quân ô hợp, kinh thường nước ta. Trước thế giặc ồ ạt như vậy, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm bèn cho
quân rút lui, quân thuỷ đóng ở vùng Biện Sơn, quân bộ đóng ở vùng Tam Điệp, nghĩa là ta đã mất đất
nước từ vùng cửa ải Lạng Sơn đến kinh thành Thăng Long.
Tại Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân đi cướp bóc, giết người, bắt nhân dân phải nộp trâu, bò, có nơi
phải nộp cò để nuôi ngựa. Chúng bắt nhân dân ta phải xây nhà và thành luỹ cho chúng. Còn Lê Chiêu
Thống, ông được nhà Thanh phong là An Nam Quốc Vương nhưng thực ra chỉ là bù nhìn. Nhân dân
thành Thăng Long nói với nhau rằng: từ khi nước Nam có đế có vương đến nay, chưa từng thấy một ông
vua nào đê hèn như thế.
Về phần Nguyễn Huệ, sau khi nghe tin xong thì tức giận lắm, ông giận đến nỗi mắt ông có thể đốt cháy
mọi vật. Ông họp các tướng sĩ lại và tự mình thân chinh đi đánh giặc. Các tướng sĩ đều ngăn cản, khuyên
ông hãy ban lệnh ân xá khắp trong ngoài để yên kẻ phản trắc và giữ được lòng người, rồi đánh quân
Thanh cũng chưa muộn. Nghe lấy làm phải, ngày 25 tháng chạp, năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ lập đàn
trên núi Bân, tế thần sông thần núi, chế ra áo cổn mũ miện. Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là
Quang Trung, vẻ mặt ông cương trực mà thẳng thắn, oai phong lẫm liệt. Lễ xong, Quang Trung hạ lệnh
xuất quân, tự mình đốc suất binh lính. Ngày 29 tháng chạp đến Nghệ An, ông có hỏi qua ý của Nguyễn
Thiếp và được biết rằng: không quá mười ngày có thể dẹp được quân Thanh ra khỏi bờ cõi. Nghe vậy,
Quang Trung mừng thầm, ông cho tập cuộc duyệt binh. Những hàng quân thẳng tắp, tay cầm cờ, gươm
giáo, vũ khí rất chỉnh tề. Trong khuôn mặt mỗi người thể hiện ý chí chiến quyết thắng để bảo vệ đất nước
hoà bình yên ổn, ý chí quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm. Lời nói ông sang sảng mà đầy hào khí, tuyên
bố với ba quân ý chí đánh tan quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập, giử gìn văn hoá và những phong tục tập
quán lâu đời của nhân dân. Ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc, khiến quân thù phải hiểu rằng nước Nam là
nước anh hùng có chủ, không ai có thể xâm chiếm được. Quang Trung nói xong, thì các quân sĩ đồng loạt
ba tấn công vào đồn Đống Đa, được nhân dân địa phương ủng hộ, quân ta giáp chiến, đốt lửa thiêu cháy
doanh trại. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống khiếp sợ, thắt cổ tự tử. Quân Thanh tháo chạy về phía đông
trông thấy đạo quân thứ tư càng khiếp sợ, bèn tìm lối tắt nhưng bị đạo quân thứ năm chặn đường. Hết hồn
vía, quân Thanh bèn chốn xuống làng Quỳnh Đô, bị voi quân ta giày đạp, chết hàng loạt. Tôn Sĩ Nghị
nghe tin cấp báo thì bàng hoàng mất vía, thật là tướng từ trên trời rơi xuống, quân chui dưới đất lên. Sợ
mất mặt, Tôn Sĩ Nghị vội vã bỏ trốn quân sĩ nghe tin thì hoảng hốt tranh nhau qua cầu, xô đẩy nhau rơi
xuống nước mà chết. Khi cầu gãy, quân lính rơi xuống sông làm nước sông Nhị Hà bị tắc nghẽn, về phần
vua Lê, đang chăm chú mải mê yến tiệc, nghe tin liền chạy trốn. Trời nhá nhem tối thì đến kịp chỗ của
Tôn Sĩ Nghị. Trưa mồng 5 Tết Kỉ Dậu, Quang Trung cùng đoàn quân tiến thẳng vào Thăng Long giữa
muôn ngàn tiếng reo hò của nhân dân.
loigiaihay.com