TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 - 2015)
Đề tài:
BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Lê Huỳnh Phương Chinh
Nguyễn Thị Thảo Lan
Bộ môn: Luật Thương mại
MSSV: 5115986
Lớp: Luật Thương mại 2-K37
Cần Thơ, 12/2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
biệt là quý thầy cô Khoa Luật trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức
quý báo để từ đó em có thể vận dụng những kiến thức ấy vào luận văn của mình.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình
hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc giúp em hoàn thành luận văn một
cách tốt nhất.
Xin cảm ơn tất cả bạn bè, những người đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình
thực hiện luận văn của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực
tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những
thiếu soát nhất định mà bản thân chưa thấy được. Em rất mong được sự góp ý của
thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin chúc quý thầy cô trường Đại Học Cần thơ cùng quý thầy cô
Khoa Luật, gia đình, bạn bè lời chúc sức khỏe, thành công trong học tập và lao động
của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Cần thơ, ngày…..tháng…..năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thảo Lan
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Cần thơ, ngày…..tháng…..năm 2014
Giảng viên phản biện
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 2
1.1.4.5. Nguyên tắc thăng bằng ......................................................................... 15
1.2. Những vấn đề cơ bản về bội chi ngân sách Nhà nước .................................... 15
1.2.1. Khái niệm bội chi ngân sách Nhà nước ....................................................... 15
1.2.2. Phân loại bội chi ngân sách Nhà nước ........................................................ 16
1.2.3. Nguyên nhân bội chi ngân sách Nhà nước .................................................. 18
1.2.3.1. Các nguyên nhân khách quan................................................................ 18
1.2.3.2. Các nguyên nhân chủ quan ................................................................... 19
1.2.4. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách Nhà nước ............................................... 19
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ BỘI CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ........................................................................... 22
2.1. Quy định pháp luật về cách thức xác đinh bội chi ngân sách Nhà nước ...... 22
2.1.1. Chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân
sách trung ương của năm ngân sách ........................................................................ 22
2.1.2. Bội chi ngân sách địa phương không được tính vào bội chi ngân sách Nhà
nước ......................................................................................................................... 27
2.2. Quy định pháp luật về các biện pháp điều chỉnh bội chi ngân sách Nhà nước
................................................................................................................................. 29
2.2.1. Tăng thu giảm chi ngân sách Nhà nước ...................................................... 29
2.2.2. Phát hành thêm tiền để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước........................ 32
2.2.3. Vay nợ bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước ................................................ 33
2.3. Nguyên tắc giải quyết bội chi ngân sách Nhà nước ........................................ 39
2.3.1. Không sử dụng cho tiêu dùng ...................................................................... 39
2.3.2. Chỉ sử dụng cho mục đích phát triển ........................................................... 40
2.3.3. Bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn .................... 41
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH BỘI CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .............................. 42
3.1. Nhận xét về thực trạng bội chi ngân sách Nhà nước những năm gần đây.... 42
3.1.1. Những thành tựu đạt được trong quản lý bội chi ngân sách Nhà nước ........ 42
gây ra lạm phát, đe dọa sự ổn định xã hội, tăng gánh nặng nợ nần của quốc gia, đời
sống dân cư. Vì thế, xử lý bội chi ngân sách Nhà nước là việc làm quan trọng bởi đây
là một vấn đề không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến
sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đây là thách thức lớn cho các quốc gia
trong đó có Việt Nam.
Bội chi ngân sách Nhà nước trong những năm qua được sử dụng như một công
cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế, nếu bội chi ngân
sách ở một mức độ nhất định thì nó lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.
Nhưng cho dù bội chi ngân sách Nhà nước ở mức nào đi chăng nữa nó vẫn đòi hỏi
mọi Nhà nước phải có những biện pháp thích hợp để xử lý và kiểm soát vấn đề này.
Vì thực tế cho thấy, bội chi ngân sách Nhà nước không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ
gây tác hại xấu đến nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Nếu bội chi ngân sách
được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào sẽ dẫn tới bùng nổ lạm phát, mà tác
hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập và của cải một cách ngẫu nhiên,
gây biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế. Để hạn chế được tình
trạng lạm phát thì Nhà nước chủ trương đi vay nợ, tuy cách làm này không gây ra lạm
phát trước mắt nhưng nó lại giảm khả năng chi tiêu cho Chính phủ, tăng thêm gánh
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
1
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
nặng nợ nần trong tương lai. Còn nếu tăng thu ngân sách Nhà nước mà chủ yếu là
tăng thuế thì sẽ dẫn đến tình trạng ảm đảm của nền kinh tế…Tuy có nhiều cách để bù
đắp bội chi ngân sách Nhà nước nhưng phải xử lý cách nào nguồn nào cho hợp lý thì
đây là một vấn đề nan giải bởi mỗi biện pháp đều có những ưu nhược điểm khác
Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn của mình, người viết đã
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như sau: tổng hợp, phân tích, đánh
giá, thống kê, thu thập tài liệu, trên cơ sở những dữ liệu tìm được như: sách, báo, tạp
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
2
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
chí, internet và những số liệu thực tế liên quan đến vấn đề bội chi ngân sách Nhà
nước.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về ngân sách Nhà nước và bội chi ngân sách
Nhà nước
Trong chương 1 người viết tìm hiểu về lý luận chung về Ngân sách Nhà nước
và bội chi ngân sách Nhà nước như khái niệm, phân loại, nguyên nhân, tác động để
người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Chương 2: Quy định pháp luật về điều chỉnh bội chi ngân sách Nhà nước
Chương này người viết nêu lên cách thức xác định bội chi ngân sách Nhà nước
giúp chúng ta biết được khi nào thì Nhà nước mới thực sự bội chi. Đồng thời, đưa ra
một số giải pháp để điều chỉnh tình trạng bội chi Ngân sách Nhà nước.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp điều chỉnh bội chi ngân sách Nhà nước
ở Việt Nam hiện nay
Trong chương này người viết nêu lên tình hình bội chi ngân sách Nhà nước
Một là, do ngân sách là một phạm trù kinh tế, vậy nên, ngân sách Nhà nước sẽ
được xem xét về mặt bản chất và cả về phương diện vật chất.
Xét về mặt bản chất, ngân sách Nhà nước thể hiện hệ thống các quan hệ kinh
tế được hình thành trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn vốn tiền
tệ phục vụ cho các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy Nhà nước. Điều này xuất phát từ
mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân sách Nhà nước với Nhà nước. Ngân sách Nhà nước
vốn hình thành từ việc Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để tham gia
vào hoạt động phân phối của cải trong xã hội, vốn được tạo nên từ nhiều chủ thể khác
nhau cùng tồn tại trong xã hội. Do vậy, ngân sách Nhà nước thể hiện mối quan hệ xã
hội giữa Nhà nước và các chủ thể khác nhau trong quá trình phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị.
Xét về phương diện vật chất, trên thực tế, ngân sách Nhà nước tồn tại dưới
dạng vật chất là quỹ tiền tệ tập chung lớn nhất của Nhà nước. Quỹ tiền tệ này gắn liền
với việc đảm bảo cho chức năng, nhiệm vụ của tất cả các cơ quan chính quyền Nhà
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
4
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
nước các cấp. Đó là nguồn vốn, kinh phí hay những khoản tiền cụ thể mà Nhà nước
tập trung được vào tay mình sau khi tham gia vào quá trình phân phối của cải trong
xã hội.
Hai là, xuất phát từ việc ngân sách vốn là một trong những phạm trù pháp lý,
trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, các khoản thu chi của Nhà nước được công
khai và thể chế thành pháp luật nhằm tránh hiện tượng lạm quyền. Ngân sách Nhà
nước trở thành phạm trù pháp lý. Điều này được thể hiện thông qua việc hình dung
ngân sách Nhà nước là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước, là bảng dự toán toàn
5
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Ngân sách Nhà nước chỉ có giá trị trong thời hạn một năm, hay còn gọi là
“năm ngân sách” (Financial Year). Ở Việt Nam, hiệu lực về thời gian của ngân sách
Nhà nước được xác định rõ là một năm được bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc
vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.4
1.1.2. Đặc điểm ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước có những đặc điểm riêng biệt mà không phải loại ngân
sách nào cũng có được, những đặc điểm này dùng để phân biệt với ngân sách gia
đình, ngân sách các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể khác.
1.1.2.1. Ngân sách Nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị
của Nhà nước và được tiến hành theo luật định
Ngân sách Nhà nước là một bảng kế hoạch tài chính khổng lồ cần phải có sự
biểu quyết thông qua của Quốc hội trước khi nó được đưa vào áp dụng trong thực tế.5
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của ngân sách Nhà nước. Việc ban hành,
sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ một khoản thu, chi nào của ngân sách Nhà nước cũng chỉ
có một cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước – Quốc hội quyết định. Mặt khác
tính quyền lực của Nhà nước đối với ngân sách Nhà nước còn thể hiện ở chỗ Chính
phủ không thể thực hiện thu, chi ngân sách một cách tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở
pháp lý đã được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực của Nhà
nước ban hành. Bởi vì:
Quá trình tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước (thu ngân sách Nhà nước) chính là
quá trình phân phối lại lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể tham gia phân
cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội Nhà nước đã sử dụng để
quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một
phần thu nhập của mình cho Nhà nước với tư cách là một chủ thể. Với quyền lực tối
cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành
viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo
lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là
các thành viên trong xã hội. Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ
lợi ích kinh tế đó, nghĩa là thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các
công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành
viên trong xã hội. Do vậy, muốn có ngân sách Nhà nước đúng đắn, lành mạnh thì
phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một cách khách quan, phải dựa trên
cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích cho các thành viên trong xã
hội. Một ngân sách Nhà nước lớn mạnh phải đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến
khích phát triển sản xuất kinh doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dưỡng
nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng tăng.
Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước gắn chặt với quyền
lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những
nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của ngân sách Nhà
nước. Các hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở
những luật lệ nhất định. Đó là các Luật thuế, các chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn định
6
Ebook, http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-boi-chi-ngan-sach-ly-luan-thuc-tien-va-giai-phap-39531/, [ngày truy
cập: 22/7/2014].
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
7
giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng
thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước), wikipedia
Bách khoa toàn thư mở,
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_l%C6%B0%E1%BB%A3ng_qu%E1%BB
%91c_gia, [ngày truy cập 27/7/2014].
8
Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị
thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định
(thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm), wikipedia Bách khoa toàn thư mở,
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95ng_s%E1%BA%A3n_ph%E1%BA%A9m_n%E1%BB%99i_%C4
%91%E1%BB%8Ba, [ngày truy cập 27/7/2014].
9
Th.S Phương Thị Hồng Hà, Giáo trình quản lý ngân sách Nhà nước, NXB Hà Nội 2006, tr.8 – 9.
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
8
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
1.1.2.3. Ngân sách Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không “hoàn trả
trực tiếp” là chủ yếu
Sự chuyển giao thu nhập của xã hội vào quỹ ngân sách Nhà nước chủ yếu
thông qua hình thức thuế. Đó là hình thức thu – nộp bắt buộc, không mang tính “hoàn
trả trực tiếp”. Có nghĩa là mức thu nhập mà người nộp chuyển giao cho Nhà nước
không hoàn toàn dựa trên mức độ lợi ích mà người nộp thuế thừa hưởng từ những
dịch vụ và hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng
trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước.
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
Nhà nước. Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào ngân sách Nhà nước và phần
để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được
phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ cho các nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội.10
1.1.3. Vai trò ngân sách Nhà nước
1.1.3.1. Huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước
Đây là vai trò truyền thống của ngân sách Nhà nước trong mọi mô hình kinh
tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện
nhiệm vụ của mình. Ngân sách Nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu
tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, sản xuất kinh doanh, tạo tư liệu sản xuất…
Nhà nước huy động nguồn tài chính thông qua công cụ thuế, lệ phí, lợi tức của
Nhà nước, các khoản vay trong nước hoặc nước ngoài, viện trợ từ các nước, tổ chức
trên thế giới.
1.1.3.2. Điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,
kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi
vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều
kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.
Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư
cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt
trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn
kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các
doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ
cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài
chính thông qua thuế, ngân sách Nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu
nguồn tài chính giữa các vùng kinh tế, thông qua việc hướng dẫn, kích thích hay hạn
chế sản xuất, tiêu dùng bằng các chính sách thuế, tài chính, ngân sách Nhà nước có
thể điều tiết thu nhập của các chủ thể khác nhau trong xã hội, xử lý mối quan hệ giữa
tích lũy, đầu tư và tiêu dùng, điều chỉnh giá cả, ổn định thị trường, chống lạm phát.11
1.1.3.4. Giải quyết các vấn đề xã hội
Trong việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất toàn xã hội, ngân sách Nhà
nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, hàng năm Chính phủ vẫn có sự
chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp nhất. Chúng ta có thể nhận thấy
điều đó thông qua các loại trợ giúp cho dân cư có thu nhập thấp, có hoàn cảnh đặc
biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho
các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện nước…); các khoản chi phí thực hiện các
chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình chống dịch bệnh, mù chữ…
Trong giai đoạn hiện nay, khi mô hình tập trung bao cấp không còn được áp
dụng việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ
máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y
11
Nguyễn Hữu Tài, Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, NXB thống kê Hà Nội năm 2002, tr.49.
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
11
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
tế, văn hóa vẫn có ý nghĩa quyết định và đặt ra yêu cầu đối với Nhà nước. Việc thực
hiện các nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về Nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận.
Việc sử dụng những dịch vụ kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
12
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch”. Nguyên tắc
nhất niên làm cho nền tài chính công của quốc gia dân chủ hơn, trong đó nhân dân có
quyền tham gia vào việc quản trị nền tài chính của đất nước thông qua người đại diện
của mình là Quốc hội. Vì thế, sau khi hình thành, nó được các nước có nền dân chủ
phát triển sớm áp dụng và trở thành nguyên tắc cơ bản của nền tài chính công ở hầu
hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nguyên tắc này tạo điều kiện cho Quốc hội và công chúng kiểm soát tình hình
thu, chi tài chính công được điều đặn và sát thực. Mỗi năm Chính phủ thu bao nhiêu
và chi vào cái gì để Quốc hội và công chúng đề phải biết. Thực hiện nguyên tắc này
sẽ làm gia tăng quyền lực mạnh mẽ của Quốc hội trong việc kiểm soát Chính phủ.
Đồng thời, phải xác định thời gian khởi đầu và kết thúc để giúp cho Chính phủ tổng
kết và đánh giá tình hình tài chính của quốc gia, qua đó có biện pháp điều chỉnh kịp
thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Nói chung, sự giới hạn
ngân sách Nhà nước hàng năm với dự toán các khoản thu, chi chặt chẽ nhằm làm cho
nền tài chính công trở nên minh bạch và quản lý có trật tự.
Tuy nhiên việc quyết định và thực hiện ngân sách Nhà nước chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khác nhau mà pháp luật cũng như các dự toán ngân sách của mỗi
quốc gia không thể nào dự liệu hết được, vì thế vẫn luôn luôn tồn tại các trường hợp
phá vỡ nguyên tắc. Đối với nguyên tắc nhất niên, có thể tồn tại một số trường hợp
phá vỡ nguyên tắc, đó là các trường hợp Quốc hội không thể họp được mỗi năm một
lần như khi có chiến tranh hoặc thiên tai gây ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng và kéo
khoản thu và chi không được phép bù trừ cho nhau mà phải thể hiện rõ ràng từng
khoản thu và mỗi khoản chi trong mục lục ngân sách Nhà nước được duyệt, không
được phép dùng riêng một khoản thu cho một khoản chi cụ thể nào mà mọi khoản thu
đều được dùng để tài trợ cho mọi khoản chi. Khi áp dụng nguyên tắc này cần tính đến
việc phải tuân thủ nguyên tắc: các khoản đi vay để bù đắp bội chi ngân sách Nhà
nước không được sử dụng để chi tiêu dùng mà chỉ được sử dụng để chi cho đầu tư
phát triển. Tức là nếu phát sinh bội chi thì số vay nợ để bù đắp bội chi không được
phép vượt quá số tiền dành cho chi đầu tư phát triển, cũng có nghĩa là nếu có phát
sinh bội chi thì không được phép sử dụng tiền vay nợ bù đắp bội chi vào mục đích chi
thường xuyên. Nếu sử dụng tiền vay nợ vào chi thường xuyên thì khả năng xảy ra phá
sản quốc gia là rất lớn.
1.1.4.4. Nguyên tắc công khai, minh bạch
“Dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách Nhà nước, ngân
sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách Nhà nước
hổ trợ phải công bố công khai. Quy trình, thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, hoàn lại các
khoản thu, cấp phát và thanh toán ngân sách phải được niêm yết rõ ràng tại nơi giao
dịch”.14
Nguyên tắc công khai minh bạch xuất phát từ xu hướng mở rộng chế độ dân
chủ trong hệ thống chính trị. Người dân có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước, ngược
lại họ có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai, minh bạch tình hình thu, chi ngân
sách Nhà nước để đánh giá mức độ hiểu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền
14
Điều 13 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002.
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
14
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
này Nhà nước cần nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước quy định
các khoản thuế bắt buộc các tổ chức dân cư đóng góp, bên cạnh đó là các khoản thu
khác như phí, lệ phí, bán tài sản trong nước, vay nợ trong và ngoài nước,…tạo nên
15
16
GS. TS Dương Thị Bình Minh, Tài chính công, NXB Tài chính năm 2005, tr.44.
Khoản 1, Điều 8 Luật ngân sách Nhà nước năm 2002.
GVHD: ThS. Lê Huỳnh Phương Chinh
15
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Lan
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
các khoản thu của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước cũng có những khoản chi cần thiết
về quân sự, nhà tù, công trình công cộng, chi thường xuyên, chi đầu tư phát
triển,...tạo nên các khoản chi của Nhà nước. Thu là tiền đề và giới hạn của chi do đó
vấn đề cân đối ngân sách Nhà nước vô cùng quan trọng. Nếu tổng thu ngân sách Nhà
nước lớn hơn hoặc bằng với tổng chi thì đó là kết quả thật lý tưởng. Ngân sách Nhà
nước sẽ thặng dư được sử dụng để chi đầu tư phát triển hoặc tăng dữ trữ tài chính và
không được sử dụng để chi thường xuyên. Điều này sẽ xảy ra nếu tổng các khoản chi
của Nhà nước lớn hơn tổng các khoản thu? Lúc đó, bội chi ngân sách nhà Nước sẽ
xuất hiện.17
Bội chi ngân sách Nhà nước trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng
là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách Chính phủ) lớn hơn
các khoản thu, phần chênh lệch chính là bội chi ngân sách. Theo quy định của Luật
Ngân sách Nhà nước mà cụ thể tại Khoản 1, Điều 4 Nghị định 60/2003/NĐ-CP quy
Bội chi ngân sách Nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp
+ Bội chi do chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ
kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ:
khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm
xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế
phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng lên tương
ứng, điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách Nhà nước.
Hai loại bội chi trên được nảy sinh từ quan điểm của tài chính công hiện đại.
Quan điểm này cho rằng một phần ngân sách Nhà nước có tính chất cơ cấu hay chủ
động, được xây dựng cho những chính sách chủ động (như các loại thuế, các khoản
chi an sinh xã hội, chi quốc phòng…) Song một phần lớn của ngân sách Nhà nước lại
mang tính chất chu kỳ hay bị động do ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào tình trạng
của chu kỳ kinh doanh (ảnh hưởng đến tổng thuế được động viên, ảnh hưởng đến
những khoản trợ cấp xã hội nếu nền kinh tế bị đình đốn). Việc phân biệt hai loại bội
chi trên có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách
tài chính, khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến
bội chi ngân sách như thế nào giúp cho Chính phủ có những biện pháp điều chỉnh
chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
Theo thời gian: Bội chi ngân sách Nhà nước gồm: Bội chi ngân sách Nhà nước
trong ngắn hạn và bội chi ngân sách Nhà nước trong dài hạn.
+ Bội chi ngân sách Nhà nước trong ngắn hạn (còn gọi là tạm thời thiếu hụt
ngân sách). Tình trạng này xảy ra do nguồn thu chậm hoặc do nhu cầu chi (thanh toán
lương, chi trả nợ, lãi vay…) trong cùng thời điểm trong khi đó, nguồn thu thuế lại
đươc tiến hành theo từng đợt dẫn đến mất cân đối tạm thời về quỹ ngân sách, là việc
nhà nước không có khả năng chi trả tại một thời điểm nhất định trong năm ngân sách.
Thông thường tình trạng này sẽ được giải quyết bằng cách bù đắp bằng vay
ngắn hạn và tạm ứng từ quỹ dự trữ tại thời điểm nào đó trong năm. Tạm thời thiếu hụt
ngân sách có thể xảy ra ở tất cả các cấp ngân sách, từ ngân sách Trung ương cho đến
ngân sách địa phương.
+ Bội chi ngân sách Nhà nước trong dài hạn: là tình trạng thiếu hụt ngân sách