biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
------------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011 - 2015
ĐỀ TÀI:

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Trần Hồng Ca
Bộ môn Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Đoàn Văn Sung
MSSV: 5116016
Lớp Luật Tư pháp 2 – K37

Cần Thơ, tháng 11/2014


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật này. Em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến Quý Thầy, Cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ. Đặc biệt,
em xin chân thành cảm ơn Cô Trần Hồng Ca đã tạo điều kiện và tận tình, chu đáo
hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Cô Trần Hồng Ca và sự cố
gắng của bản thân để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do thời gian


Cần Thơ, ngày…..tháng…..năm 2014


NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................
......................................................................................................................................................

Cần Thơ, ngày…..tháng…..năm 2014



1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn tạm giam .....................................................4
1.1.2. Đặc điểm của biện pháp tạm giam ....................................................................5
1.1.3. So sánh biện pháp tạm giam và hình phạt .......................................................7
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giam .................................9
1.2.1. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra và xử lý tội phạm .............10
1.2.2. Đảm bảo trật tự an toàn xã hội ........................................................................11
1.3. Lƣợc sử phát triển của quy định tạm giam từ năm 1945 đến nay.................11
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960..........................................................11
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988 ............................................................13
1.3.3. Giai đoạn năm từ năm 1988 đến năm 2003..................................................14
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2003 đến nay .......................................................................16

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

CHƢƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TẠM GIAM
2.1. Đối tƣợng và căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam ...........................................18
2.1.1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam ...................................................18
2.1.2. Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam ..............................................................19
2.2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam .........................................................28
2.2.1. Giai đoạn điều tra ...............................................................................................28
2.2.2. Giai đoạn truy tố .................................................................................................29
2.2.3. Giai đoạn xét xử sơ thẩm ..................................................................................29
2.2.4. Giai đoạn xét xử phúc thẩm ............................................................................30

3.1.2.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................46
3.1.3. Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam .....................................................47
3.2. Một số đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện
pháp ngăn chặn tạm giam ..............................................................................................48
3.2.1. Căn cứ tạm giam.................................................................................................48
3.2.1.1. Về mặt pháp lý ..............................................................................................48
3.2.1.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................51
3.2.2. Thời hạn tạm giam ............................................................................................51
3.2.2.1. Về mặt pháp lý ..............................................................................................51
3.2.2.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................52
3.2.3.Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam ......................................................53
KẾT LUẬN ............................................................................................................................56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, tiến
hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tham gia sâu rộng vào hội nhập quốc tế
và quá trình toàn cầu hoá, mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm đa phương
hoá và đa dạng hoá, làm cho thế và lực của nước ta được củng cố vững chắc hơn, kinh
tế có sự phát triển và tương đối bền vững, đời sống về vật chất và tinh thần của nhân
dân không ngừng được cải thiện. Cùng với những thành tựu của sự nghiệp đổi mới thì
tình hình tội phạm cùng các tệ nạn xã hội ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng và


SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

nhiệm vụ trọng phải thực hiện để có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật, từng bước năng
cao khả năng công tác của các cán bộ tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ
quan có thấm quyền đã tập trung xây dựng, hoàn thiện các chế định pháp lý liên quan
đến hoạt động tố tụng hình sự, trong đó có chế định tạm giam trong tiến hành tố tụng
nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp
mà chủ yếu là chú trọng đến việc đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đảng của công
dân. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ: “Xác định rõ căn cứ tạm
giam, hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp
đổi tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam”.
Vì vậy, để tìm hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về biện pháp ngăn chặn tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Người viết chọn đề tài “Biện pháp ngăn chặn
tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam” để nghiên cứu nhằm tìm ra những
phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về biện pháp
tạm giam trong thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài “Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự
Việt Nam” người viết mong muốn làm rõ những quy định của pháp luật về biện pháp
ngăn chặn tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. Đồng thời, người viết
cũng nghiên cứu tình hình áp dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự. Thông
qua đó tìm ra những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình áp dụng biện pháp này.
Từ đó, người viết đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm khắc phục những mặt
hạn chế này và góp phần nâng cao hiểu quả áp dụng biện pháp tạm giam cũng như bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

tụng hình sự Việt Nam
Chương này người viết tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm biện pháp ngăn
chặn tạm giam, và so sánh với hình phạt. Đồng thời, người viết cũng tìm hiểu mục
đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với cơ quan tiến
hành tố tụng và cộng đồng, xã hội. Cuối cùng, trình bày về lược sử phát tr iển của quy
định tạm giam từ năm 1945 cho đến nay.
Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về
biện pháp ngăn chặn tạm giam
Trọng tâm của chương này là phân tích những quy định của pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về biện pháp tạm giam. Cụ thể, người viết sẽ trình bày về: Đối
tượng, căn cứ, thẩm quyền, thời hạn tạm giam áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam,
thủ tục ra lệnh tạm giam và một số quy định có liên quan. Từ đó, làm cơ sở để cho
Chương 3 so sánh, đối chiếu giữa l ý luận và thực tiễn để tìm ra hướng hoàn thiện cho
vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Những hạn chế và hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam hiện hành về biện pháp ngăn chặn tạm giam
Chương này người viết tập trung phân tích những hạn chế, xất phát từ quy định
của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Sau đó, đưa
ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam.

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

3

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam


áp dụng biện pháp tạm giam 2 đối với bị can, bị cáo cần tuân thủ các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự trước khi thi hành. Cụ thể khoản 3 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự
1

Hoàng Thị M inh Sơn, Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Đại học luật Hà Nộ i, Nxb .Công an Nhân
dân, Hà Nộ i, năm 2007, tr.224
2
Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam sẽ được trình bày ở mục 2.2

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

4

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

năm 2003 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều
80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng
cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh
tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện
kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm
sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê
chuẩn”. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp tạm giam không chỉ ảnh hưởng đến tự
do cá nhân của bị can, bị cáo, mà còn ảnh hưởng đối với gia đình họ. Do vậy, người ra
lệnh tạm phải thông báo cho gia đình người bị tạm giam và chính quyền xã, phường,
thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tạm giam cư trú hoặc làm việc biết.
Như vậy, biện pháp tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn, có tính


thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong trường hợp cần thiết để đấu
tranh phòng và chống tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao. Nếu như bị áp dụng biện pháp
này thì bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế các quyền tự do đi lại, tự do cư trú. Theo đó, khi bị
tạm giam, bị can, bị cáo sẽ không được tại ngoại ở bên ngoài và không được sinh hoạt
với gia đình và xã hội. Trong khi đó nếu bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
khác như: bảo lĩnh thì bị can, bị cáo sẽ không bị cách ly khỏi gia đình và xã hội, không
bị hạn chế quyền tự do cư trú hay tự do đi lại mà họ chỉ cần chủ thể bảo lĩnh bảo đảm
rằng họ sẽ không gây khó khăn cho hoạt động, điều tra, truy tố, xét xử và có mặt khi
có triệu tập của cơ quan tiến hành tố. Hay là, khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú thì quyền tự do đi lại, tự do cư trú của bị can, bị cáo sẽ bị hạn
chế ít hơn do bị can, bị cáo vẫn được sống với gia đình và xã hội trong phạm vi địa
phương nơi mình cư trú. Bên cạnh đó, các biện pháp bắt người, tạm giữ cũng là biện
pháp ngăn chặn nghiêm khắc, nó cũng hạn chế quyền tự do của công dân, nhưng thời
hạn hạn chế quyền tự do trong bắt và tạm giữ ngắn hơn nhiều so với tạm giam. Trong
vòng 24 giờ sau khi bị bắt, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai, ra quyết tạm giữ hoặc trả
lại tự do cho người bị bắt. Thời gian tạm giữ là 3 ngày đêm và tối đa là 9 ngày đêm đối
với trường hợp có gia hạn tạm giữ. Trong khi đó, thời hạn tạm giam để điểu tra có thể
lên đến 12 tháng hoặc 16 tháng. Chính vì vậy, biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn
chặn nghiêm khắc nhất trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Đồng thời, biện pháp tạm giam còn được áp dụng trong các giai đoạn của quá
trình tố tụng hình sự (từ giai đoạn điều tra vụ án cho đến giai đoạn xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật). Biện pháp tạm giam không chỉ được cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng trong các giai đoạn: điều tra, truy tố, xét xử mà ở các giai đoạn khác
như: thi hành án, giám đốc thẩm, tái thẩm thì biện pháp tạm giam vẫn được quy định
và đảm bảo thực hiện. Chẳng hạn nhằm đảm bảo sự có mặt của bị cáo trong thời gian
chờ thi hành hình phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục áp dụng biện
pháp tạm giam đối với bị cáo. Cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Đối với bị cáo bị phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản án việc tiếp

 Khái niệm và đặc điểm của hình phạt
Trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta từ trước tới nay, khái niệm hình phạt
lần đầu tiên được quy định tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009): “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội; Hình phạt được quy định
trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định”. Từ khái niệm trên, có thể rút ra
những đặc điểm của hình phạt như sau:
Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất. Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế
Nhà nước. Hình phạt được Nhà nước sử dụng như công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội và các lợi ích
hợp pháp của công dân. Tính nghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án
có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền tài sản, về chính trị thậm chí cả
quyền sống. Bên cạnh đó, hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lí là án tích cho người bị
kết án trong thời gian nhất định theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng. Trong Bộ
luật hình sự Việt Nam, hình phạt được quy định cả ở Phần chung và Phần các tội
phạm. Phần chung quy định khái niệm, mục đích, các loại hình phạt, căn cứ quyết định
hình phạt và miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hình hình phạt chính và hình phạt bổ
sung. Phần các tội phạm quy định các loại và mức hình phạt cho từng loại tội phạm cụ
thể. Bên cạnh đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án nhân danh nhà nước
quyết định áp dụng đối với người phạm tội và chỉ có Tòa án mới có quyền này ngoài
ra không một cơ quan Nhà nước nào có quyền quyết định hình phạt. Hình phạt được
Tòa án tuyên đối với người phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với họ và
hành vi do họ gây ra.

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

7


Thứ nhất, điểm khác biệt nhất của hai biện pháp cưỡng chế này là mục đích của
việc áp dụng biện pháp tạm giam và hình phạt. Đối với hình phạt, hình phạt không chỉ
nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội,
có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội c hủ nghĩa, ngăn
ngừa họ phạm tội mới. Trong khi đó, mục đích của việc áp dụng biện pháp tạm giam
là để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh
pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hình sự cũng như đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình.

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

8

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

Thứ hai, biện pháp tạm giam và hình phạt không chỉ khác nhau ở mục đích áp
dụng mà còn thể hiện ở mặt chủ thể có thẩm quyền áp dụng. Tạm giam là biện pháp
cưỡng chế trong pháp luật tố tụng hình sự và được chủ thể có thẩm quyền của Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng tùy theo giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án. Còn đối với hình phạt, hình phạt là biện pháp cưỡng c hế nghiêm khắc nhất
của Nhà nước được quy định trong pháp luật Hình sự và chỉ có Tòa án mới có thẩm
quyền áp dụng ngoài ra không một cơ quan nao được quyết định Hình phạt. Sự quy
định như trên cho thấy chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam là rộ ng hơn
so với chủ thể có thẩm quyền áp dụng hình phạt.
Thứ ba, đối tượng bị áp dụng của biện pháp tạm giam và hình phạt là khác
nhau. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo và người bị

sự năm 2003 thì biện pháp tạm giam có tính chất nghiêm khắc nhất và được chủ thể có
thẩm quyền áp dụng trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng. Do đó ngoài
mục đích chung là ngăn chặn kịp thời tội phạm và hạn chế việc bị can, bị cáo bỏ trốn
hoặc gây khó khăn cho quá trình tố tụng thì việc áp dụng biện pháp tạm giam ở mỗi
giai đoạn nhất định lại mang một mục đích khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu
quả chức năng của cơ quan tố tụng. Chẳng hạn, ở giai đoạn điều tra khi Cơ quan điều
tra áp dụng biện pháp tạm giam thì bị can tạm thời bị cách ly khỏi gia đình, xã hội, hạn
chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú và khi đó bị can sẽ bị tạm giam tại trại tạm giam
trong một khoản thời gian nhất định để cơ quan chức năng dễ dàng quản lý, theo dõi
nhằm đảm bảo cho Cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ
GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

10

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

lời khai của bị can vào bất cư khi nào nếu thấy cần thiết mà không phải mất thời gian
triệu tập nhiều lần; còn ở giai đoạn thi hành án việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án
nhằm đảm bảo cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực được thuận lợi. Do đó,
việc áp dụng biện pháp tạm giam sẽ đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cao từ đó
hỗ trợ rất nhiều cho cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án giúp cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, đạt hiệu quả cao.
1.2.2. Đảm bảo trật tự an toàn xã hội
Bản chất của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi tội phạm khi xuất
hiện đều có thể gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại các quan hệ xã hội được pháp luật
tố tụng hình sự bảo vệ đồng thời trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến an ninh Quốc
gia, sự ổn định, bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa, đến tính mạng, sức khỏe, danh


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc
thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn bị đặt dưới sự thống
trị cuả đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn. Vì vậy, những sắc lệnh trước năm
1954 không còn thích hợp để đáp ứng nhu cầu chính trị và xã hội trong giai đoạn mới,
thiếu những điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án hình sự làm cho
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và hoạt động bảo vệ các lợi ích của Nhà
nước, lợi ích của cá nhân cũng như trừng trị tội phạm gặp nhiều khó khăn. Trước
những yêu cầu thực tiễn trên và phù hợp với giai đoạn mới của đất nước, Quốc hội đã
thông qua Luật số 103-SL/L005 ngày 20-5-1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và
quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân.
Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự biện pháp tạm giam được
quy định tại Chương 3 – Việc tạm giữ, tạm giam, tạm tha của Luật này. Theo đó, Cơ
quan tư pháp, Công an tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc Tòa án binh có thẩm quyền
hỏi cung can phạm và xem xét để đưa ra một trong ba quyết định là tha hẳn, tạm tha
hoặc tạm giam. Trong trường hợp cần tạm giam đối với can phạm thì Lệnh tạm giam
can phạm phải được cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên hoặc toà án
binh ký. Khi xét thấy việc tạm giam không cần thiết cho cuộc điều tra nữa, hoặc việc
tạm tha không gây nguy hiểm gì cho trật tự chung, thì cơ quan tư pháp ho ặc tòa án
binh nào đã ra lệnh tạm giam có thể tự mình, hoặc căn cứ vào đơn xin của can phạm,
ra lệnh tạm tha. Bên cạnh đó, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với phụ nữ có
thai, người đang nuôi con nhỏ, người già yếu, người bị bệnh nặng phạm tội được thể
hiện tại Điều 8 Luật này là: đối với những can phạm già yếu, có bệnh nặng, hoặc phụ
nữ có thai nghén, hoặc phụ nữ đang thời kỳ cho con bú, thì có thể cho tạm tha, và nếu
cần sẽ giám thị tại chỗ ở. Luật số 103-SL/L005 chưa quy định rõ chủ thể có thẩm
quyền phê chuẩn lệnh tạm giam hoặc gia hạn tạm giam trong cơ quan tư pháp và tòa
án binh cũng như các thủ tục khi áp dụng biện pháp tạm giam. Tiếp đến, để quyết các
khó khăn này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nghị định số 301 -TTg ngày 10/7/1957

chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giam. Tuy nhiên, các
văn bản này có thể đáp ứng nhu cầu phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án trong giai
đoạn này.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988
Trong giai đoạn này Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân và
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, sau đó trên cơ sở Hiến pháp năm 1980
Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 đã được ban hành.
Hệ thống Tòa án nhân dân từ trung ương đến địa phương được quy định cụ thể và chặt
chẽ, gồm có Tòa án nhân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự. Đối
với Viện kiểm sát nhân dân bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát
nhân dân địa phương. Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo. Văn bản quy phạm pháp luật quy định biện
pháp tạm giam đáng chú ý trong giai đoạn này là Sắc luật số 02-SL/76 ngày 15/3/1976
của Hội đồng Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam quy định
việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật.
So với Luật số 103-SL/L005 thì Sắc luật số 02-SL/76 đã thu hẹp thẩm quyền
phê chuẩn lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam bắt buộc phải có sự phê chuẩn của Viện
kiểm sát nếu không phải là lệnh viết của cơ quan này. “Sau khi bắt hoặc nhận người bị
bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp khẩn cấp, cơ quan an ninh
hoặc Viện kiểm sát nhân dân phải xét hỏi ngay. Trong hạn 3 ngày kể từ khi bắt hoặc
nhận người bị bắt, các cơ quan này phải xét, quyết định trả lại tự do, tha hẳn, tạm tha
6

Điều 6 Nghị định 301-TTg ngày 10/ 7/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật số 103/SLL005 ngày 20/5/ 1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tíncủa
nhân dân.

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

13


tính dân chủ trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Tuy nhiên, những quy định về
biện pháp tạm giam trong giai đoạn này vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định.
Chẳng hạn, vẫn chưa có quy định cụ thể về đối tượng bị áp dụng, căn cứ để gia hạn
tạm giam và thời gian tạm giam khi gia hạn,…
1.3.3. Giai đoạn năm từ năm 1988 đến năm 2003
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng, Đất nước đã
tiến hành cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, xóa bỏ cơ chế tập trung, quan
liêu, bao cấp, từng bước hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,…. Trước

7

Điều 5 Sắc luật số 02-SL/76 của Hội đồng Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Na m Việt Nam quy
định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

14

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

tình đó ngày 28/6/1988 tại kì họp thứ ba, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa VIII đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự. Ngày 01/01/1989 là thời
điểm Bộ luật này có hiệu lực thi hành. Đây là bước tiến lớn trong lịch sử tố tụng hình
sự Việt nam nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng ở nước ta. Từ đây, trình tự, thủ
tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thống nhất trong một
văn bản quy phạm pháp luật nhất định. Từ khi có hiệu lực thi hành, Bộ luật tố tụng
hình sự năm 1988 đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, năm 1992 và năm

Khoản 2 Điều 88 quy định: “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi
con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú
rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường
hợp sau đây: Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; Bị can, bị cáo được áp
dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm
trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh
quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại
đến an ninh quốc gia”. Điều này cho thấy rằng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã
cụ thể hóa những trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị
bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng. Thông quá đó thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà

8

Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

16

SVTH: Đoàn Văn Sung


Biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam

nước ta đối với những đối trượng này. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
vẫn chưa chính thức ghi nhận về mặ pháp lý khái niệm tạm giam, khái niệm người già
yếu, người bị bệnh nặng. Bên cạnh đó, Bộ luật này cũng đã giới hạn thời gian để Viện
kiểm sát trả lời đề nghị xét phê chuẩn lệnh tạm giam của Thủ trưởng, phó thủ trưởng
cơ quan điều tra là 3 ngày kể từ khi nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn

Hai là, Điều 57 Luật thi hành án hình sự năm 2010 có quy định: “Chế độ quản
lý giam giữ, ăn, ở, mặc, sinh hoạt, gửi và nhận thư, nhận đồ vật, tiền mặt, gặp thân
nhân, chăm sóc y tế đối với người bị kết án tử hình trong thời gian chờ thi hành án
thực hiện theo quy định của pháp luật về tạm giam” 11. Qua đó cho thấy, để đảm bảo
sự có mặt của người bị kết án khi thi hành hình phạt tử hình thì trong thời gian chờ thi
hành hình phạt người bị kết án tử hình sẽ bị tạm giam tại trại tạm giam giam. Điển
hình như trong vụ án “xác không đầu” thì Nguyễn Đức Nghĩa đã bị Hội đồng xét xử
Tòa án phúc thẩm Hà Nội tuyên y án tử hình. Chỉ 4 ngày sau phán quyết của tòa phúc
thẩm, Nghĩa làm đơn ân xá gửi lên Chủ tịch nước. Tuy nhiên, với những tội lỗi gây ra,
9

Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Khoản 1 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
11
Điều 57 Luật thi hành án hình sự năm 2010
10

GVHD: ThS. Trần Hồng Ca

18

SVTH: Đoàn Văn Sung


Trích đoạn Giai đoạn Giám đốc thẩm, Tái thẩm Thời hạn tạm giam Chế độ chăm nom người thân và bảo quản tài sản của người bị tạm giam Căn cứ tạm giam Một số đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status