Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK65 - Pdf 30

MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................3
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH ...........................................................................................................5
1. Khái niệm cạnh tranh............................................................................5
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh.............................................................6
3. Kinh nghiệm.............................................................................................7
3.1. Khái niệm ngân hàng thương mại.....................................................7
3.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại..............9
3.3. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại........12
3.4. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại..............................................................................................15
3.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại dựa theo mô hình Kim cương của Michael Porter ..............26
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
AN BÌNH .......................................................................................................30
1. Khái quát về quá trình hình thành, phát triển và tình hình hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng An Bình..............................................30
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng An Bình............30
1.2. Cơ cấu tổ chức của ABBANK.........................................................33
1.3. Tình hình hoạt động của ABBANK007 là năm phát triển vượt......36
2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK.............39
2.1. Nguồn lực tài chính.........................................................................39
1
2.2. Năng lực quản trị, điều hành............................................................55
2.3. Trình độ công nghệ ........................................................................55
2.4. Uy tín, thương hiệu .........................................................................57
2.5. Phân tích năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK theo mô

kinh doanh và hợp tác cùng phát triển.
Tuy nhiên, chính sức ép của cạnh tranh và hội nhập sẽ buộc các ngân
hàng Việt Nam phải nỗ lực đổi mới để có thể tồn tại và phát triển. Hiện nay,
hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi can thiệp
của các cơ quan chính quyền, tình trạng tài chính yếu kém, khuôn khổ pháp lý
chưa hoàn thiện, công nghệ ngân hàng tụt hậu so với các nước, nợ khó đòi
cao, môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định đã đặt hệ thống ngân hàng vào
tình thế rủi ro khá cao. Vì vậy, lĩnh vực ngân hàng cần nhanh chóng hội nhập
cùng với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, xây dựng hệ thống ngân
hàng có năng lực cạnh tranh vững mạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn và
3
cung ứng sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập.
Không nằm ngoài xu thế đó, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương
Dương cũng xác định phải chủ động đẩy mạnh quá trình cải cách, tiếp tục đổi
mới triệt để và toàn diện hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh, vững bước trên
con đường hội nhập kinh tế quốc tế.
Dựa trên những phân tích trên, em chọn đề tài : "Một số giải pháp
nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình trong bối cảnh
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế". Báo cáo thực tập nghiên cứu tình hình
hoạt động và thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình, trên cơ
sở đó tính toán một số chỉ tiêu phân tích, rút ra nhận xét chủ quan, mạnh dạn
đưa ra những kiến nghị mong muốn góp một phần nhỏ trong quá trình không
ngừng đổi mới và hoàn thiện của NH.
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
An Bình ở thời điểm hiện tại; đồng thời xác định các cản trở hạn chế năng lực
cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng. Trên cơ sở đó, đề xuất
một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng trong thời gian
tới.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu theo 3 chương như sau:

5
nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi
trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu
tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị
trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường,
thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao.
Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường tự do dựa vào
để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn
của người tiêu dùng. Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần phải
quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lượng, chất lượng và
giá cả thế nào. Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó với các doanh
nghiệp.
2. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh
tranh (còn gọi là sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp. Có
quan niệm gắn sức cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa
ra thị trường. Có quan điểm lại gắn sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo thị
phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồng nghĩa công cụ cạnh tranh với các chỉ
tiêu đo lường sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp, và thậm chí có
người còn đồng nghĩa sức cạnh tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp...
Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Năng lực cạnh tranh
chính là thực lực và lợi thế mà quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm
dịch vụ) có thể huy động được để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các
đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới một cách lâu dài và có ý chí
nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc
gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) mình.”
6
Như vậy, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành

hay dịch vụ tài chính.
Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng
Nhà nước xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và được phép sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán.”
Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm
vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng
thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và
bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục
đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động
vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi
nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục
vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh
nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội.
Qua những khái niệm trên, ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng của
Ngân hàng thương mại như sau:
 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký
thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả.
8
 Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký
thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch
vụ tài chính khác
Hiện nay, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan
trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh
tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một
nền kinh tế thị trường còn non yếu.
3.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại thể hiện ở thực
lực và lợi thế của Ngân hàng thương mại đó so với đối thủ cạnh tranh trong

Huy động vốn là một trong những hoạt động tạo vốn quan trọng hàng
đầu của các Ngân hàng thương mại. Với chức năng và nhiệm vụ của mình,
các Ngân hàng thương mại đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm
thời chưa sử dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào Ngân hàng.
Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy động được, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt
động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát
triển kinh tế của vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu
vốn của xã hội, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với hoạt động huy động vốn, các Ngân hàng thương mại đã thực sự
huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu
thông hàng hoá. Nếu như không có Ngân hàng thương mại, việc huy động của
cải xã hội vào quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng sẽ chậm đi rất nhiều.
Nhờ hoạt động này của Ngân hàng thương mại, tiền tiết kiệm của cá nhân,
đoàn thể, các tổ chức kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền
kinh tế. Nó chuyển của cải, tài nguyên xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm
10
tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao mức
sống xã hội.
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín và
vị thế của Ngân hàng sẽ càng được khẳng định, Ngân hàng sẽ chủ động trong
hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức,
dân cư. Điều quan trọng là Ngân hàng cần phải căn cứ vào chiến lược, mục
tiêu phát triển kinh tế của từng vùng, từng ngành trong cả nước,… để từ đó
đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Cạnh tranh trong lĩnh vực sử dụng vốn.
Đây là hoạt động trực tiếp đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Đối
tượng kinh doanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ và quyền sử dụng tiền
tệ, do vậy lợi tức của Ngân hàng có được chủ yếu từ việc đầu tư và cho vay.
Nếu một Ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế

chu chuyển của đồng vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết
kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội. Mặt khác, thực hiện tốt các hoạt
động này, Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Điều đó cũng
tạo điều kiện phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của Ngân hàng.
3.3. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các
Ngân hàng thương mại trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh
gay gắt, không chỉ từ các Ngân hàng thương mại khác, mà từ tất cả các tổ
chức tín dụng đang cùng hoạt động kinh doanh trên thương trường với mục
tiêu là để giành giật khách hàng, tăng thị phần tín dụng cũng như mở rộng
12
cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Tuy vậy, so với sự
cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các Ngân hàng
thương mại có những đặc thù nhất định. Cụ thể:
(1) Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy
cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý,
truyền thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất
cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh
chung. Chẳng hạn: chỉ cần một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây
nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ
chức tín dụng. Một Ngân hàng thương mại hoạt động yếu kém, khả năng
thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế
và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các Ngân hàng
thương mại tuy phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng
thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ
đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là
các Ngân hàng thương mại khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả
đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính Ngân hàng
thương mại này do tác động dây chuyền.
(2) Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại có liên quan

tầng cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan
trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân
hàng này. Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ thống các Ngân
hàng thương mại trước hết phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập
quán kinh doanh tiền tệ của các nước, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên
nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh
14
tối thiểu; bởi vì, một Ngân hàng thương mại mở ra một loại hình dịch vụ cung
ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh với các Ngân hàng
thương mại khác đang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh
vực dịch vụ này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện
hạ tầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động được. Như vậy,
sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại là loại hình cạnh tranh bậc cao,
đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác.
3.4. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cạnh tranh mang tính tất yếu,
khách quan và đó cũng là động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, trong nền
kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh sẽ không chỉ là tạo động lực để
phát triển mà còn phải đối mặt với những yếu tố không lành mạnh nhằm
chiếm lĩnh ưu thế trên thương trường, để thu lợi nhuận cao hơn và đương
nhiên nảy sinh sự thôn tính, sáp nhập, phá sản, giải thể và cả những rủi ro về
đạo đức…
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng
thương mại nói riêng được biểu hiện bằng tiềm năng về tài chính, quản trị
điều hành, chất lượng đội ngũ, chất lượng và hiệu quả hoạt động, tốc độ đổi
mới về công nghệ và sản phẩm… Năng lực tài chính của một Ngân hàng
thương mại là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá
trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất
lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo

Nguồn vốn của Ngân hàng được hình thành theo nhiều kênh dẫn khác
nhau, trong đó tiền gửi của khách hàng là nguồn tiền quan trọng nhất, chiếm
16
tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân hàng. Nguồn vốn đóng vai trò
quan trọng và ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động của Ngân hàng. Nó
cung cấp năng lực tài chính cho quá trình tăng trưởng, mở rộng quy mô, phạm
vi hoạt động cũng như cho sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ mới của
Ngân hàng thương mại; giúp Ngân hàng thương mại chống lại rủi ro phá sản,
bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; bảo vệ người gửi tiền khi gặp
rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đồng thời nâng cao uy tín của Ngân hàng
thương mại với khách hàng, các nhà đầu tư. Vì vậy có thể khẳng định: Vốn là
yếu tố quan trọng tạo đối với Ngân hàng thương mại, vì nó nói nên sức mạnh
và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trên thị trường trong nước.
Đồng thời, đó cũng là cơ sở để Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động tới
các thị trường tài chính khu vực và quốc tế. Do đó, quy mô vốn có thể coi là
tiêu chí hết sức quan trọng khi đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngân
hàng thương mại, thể hiện năng lực tài chính vốn có của chính bản thân Ngân
hàng thương mại.
Đối với yếu tố vốn của Ngân hàng, ta sẽ tập trung đánh giá theo hai
chỉ tiêu sau:
 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi
thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và vay: Đây là chỉ tiêu đánh giá khối lượng vốn
huy động. Nó có ảnh hưởng đến quy mô phát triển hoạt động ngân hàng bởi
hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng là huy động để cho vay và các
hoạt động thanh toán khác. Nếu nguồn vốn không ổn định và có chất lượng
không tốt sẽ dễ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán và đưa đến thua
lỗ, phá sản. Vậy mặt chất lượng biểu hiện trong tính hiệu quả về tác dụng
thực tiễn và mức độ ảnh hưởng của quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh
trong từng giai đoạn cụ thể.
17

trường hợp đặc biệt khẩn cấp là yêu cầu cấp thiết và là nội dung quan trọng
trong công tác quản lý của Ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro. Nó liên quan tới
sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng và của cả hệ thống.
Tính thanh khoản của Ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản
của tài sản và tính thanh khoản của nguồn. Do vậy, một Ngân hàng có tính
thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng
nguồn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai, phù hợp với nhu cầu thanh khoản
* Khả năng sinh lời:
Sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng chủ yếu dựa vào khả năng sinh
lời của Ngân hàng. Cách an toàn tuyệt đối là không làm gì cả. Tuy nhiên đối
với Ngân hàng, giữ tiền trong két cũng không phải là giải pháp an toàn. Tăng
khả năng sinh lời có thể coi là cách đảm bảo an toàn nhất. Nó là cách tốt nhất
để có thể trả lương cao cho người lao động, để tăng năng suất và tính liêm
khiết rất cần thiết đối với cán bộ Ngân hàng. Đồng thời, nó là biện pháp quan
trọng để Ngân hàng tăng quỹ tích luỹ ( tăng vốn của chủ), thiết lập quỹ dự
phòng lớn, đủ sức chống đỡ rủi ro.
Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại gắn liền với chất lượng
tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của Ngân hàng thương mại. Nâng cao chất
lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn cũng chính là nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Khả năng sinh lời là chỉ tiêu
tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một Ngân
hàng thương mại. Để đánh giá khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại,
người ta thường sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA), chỉ
tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên
doanh thu.
19
 Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA):
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản

Như vậy, chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn được đánh giá theo quan
điểm của khách hàng. Nó thể hiện qua sự tin tưởng, cảm tình, ưa thích của
khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng. Chất lượng sản phẩm dịch vụ phụ
thuộc rất lớn vào chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ. Ngoài ra,
đối tượng kinh doanh của các Ngân hàng thương mại là tiền tệ, nên chất
lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá thông qua chất lượng phục vụ của
nhân viên Ngân hàng mà còn được đánh giá thông qua độ an toàn chính xác
trong xử lý nghiệp vụ, tính đơn giản, thuận tiện trong giao dịch và khoảng
thời gian cần thiết để có thể hoàn tất một giao dịch.
Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng
thương mại bao gồm:
 Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ.
 Độ an toàn, chính xác.
 Thủ tục giao dịch.
 Tốc độ xử lý giao dịch.
(3) Chất lượng nguồn nhân lực:
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính ngân hàng đòi hỏi
nguồn cung cấp nhân lực rất lớn, nhất là nguồn nhân lực có kinh nghiệm làm
việc và đáp ứng được nhu cầu mới. Bởi vì theo nguyên lý, con người là yếu tố
quyết định.
21
Về mặt quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản,
nguồn vốn, phòng tránh rủi ro tốt nhất, quản lý các danh muc đầu tư hiệu quả
thì hoạt động của ngân hàng sẽ đảm bảo an toàn và tăng trưỏng, tăng uy tín,
thu hút khách hàng.
Về mặt nghiệp vụ: Với trình độ nghiệp vụ cao, mọi thao tác nghiệp vụ
thực hiện chính xác, hiệu quả, tác phong làm việc nhiệt tình, cởi mở, tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng sẽ gây ấn tượng tốt đối với khách hàng. Khách
hàng là người có quyền lựa chọn, vì vậy họ sẽ chọn nơi làm họ hài lòng nhất
để gửi tiền, vay tiền tiền và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng cung cấp.

với các ngân hàng cá thể và toàn bộ hệ thống ngân hàng của nền kinh tế.
Quản trị ngân hàng tốt là một trong những cơ sở tạo niềm tin của công chúng
vào ngân hàng. Do vậy, việc quản trị trong Ngân hàng thương mại có vai trò
quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của nó.
(5) Trình độ công nghệ:
Ngày nay các Ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau theo hướng
phát triển đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng đi kèm với việc nâng cao chất
lượng dịch vụ, mà chất lượng dịch vụ ngân hàng luôn phụ thuộc và trình độ
công nghệ ngân hàng. Nếu trình độ công nghệ ngân hàng không tiên tiến, hiện
đại thì chất lượng dịch vụ cũng không thể nâng cao được. Do đó, một xu thế
tất yếu là các Ngân hàng thương mại phải ứng dụng công nghệ tiên tiến để
phát triển và nâng cao chất lựong dịch vụ ngân hàng. Việc ứng dụng và phát
triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại là vấn đề tất yếu, vấn đề sống còn của
các Ngân hàng nhằm nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh của
các Ngân hàng trong quá trình hội nhập. Nó giúp cho Ngân hàng thoả mãn
hơn trước các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Nếu một ngân hàng
23
ứng dụng và sử dụng công nghệ có hiệu quả thì Ngân hàng đó sẽ mở rộng
không giới hạn về không gian hoạt động, thời gian phục vụ và cung cấp
những dịch vụ Ngân hàng mới tối đa hoá tiện ích cho khách hàng.
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, việc thu thập thông tin là
rất cần thiết. Nhờ có hệ thống tin học hiện đại, Ngân hàng có thể thu thập
thông tin về khách hàng, về thị trường tốt hơn, qua đó có thể xác định được
thị trường đầu tư vốn có hiệu quả, phát triển nghiệp vụ và dịch vụ của mình,
hạn chế rủi ro trong kinh doanh, tạo điều kiện mở rộng vốn tự có.
Như vậy, xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ và việc hiện
đại hoá công nghệ là một trong những điều kiện cơ bản để hướng tới việc đảm
bảo các chuẩn mực quốc tế của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong
quá trình cạnh tranh và hội nhập. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng là điều
tất yếu phù hợp với tiềm lực tài chính của ngân hàng, phù hợp với mặt bằng

công cụ đảm bảo tính cạnh tranh cao của Ngân hàng trên thị trường. Đặc biệt,
trong xu thế của toàn cầu hoá thì thương hiệu ngày càng trở lên quan trọng
đối với sự sống còn của Ngân hàng. Thương hiệu có thể cam kết một tiêu
chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một sản phẩm dịch vụ và đáp ứng mong
muốn của khách hàng, giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm một cách dễ
dàng, thuận tiện. Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng cho phép
Ngân hàng dự báo và kiểm soát thị trường. Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản,
gây khó khăn cho các Ngân hàng khác muốn xâm nhập thị trường. Như vậy,
thương hiệu có thể được coi như một cách thức hữu hiệu để Ngân hàng đảm
bảo lợi thế cạnh tranh.
Để xây dựng và chiếm lĩnh lòng tin đối với người tiêu dùng, đòi hỏi
sản phẩm của ngân hàng đó cần phải có những điểm phù hợp,đồng thời phải
25

Trích đoạn Thách thức đối với NH ABBANK Giải pháp của NH Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status