trêng ®¹i häc s ph¹m Hµ Néi
KHOA ng÷ v¨n
---------
khãa luËn tèt nghiÖp
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG LÍ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
“HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
Hµ Néi - 2015
: TS. Trịnh Thị Lan
: Dương Thị Duyên
: A - K61
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô khoa
Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, cung cấp cho em
những kiến thức chuyên ngành sâu sắc và ý nghĩa trong suốt thời gian học tập
3. PPDH
: Phương pháp dạy học
4. GT
: Giao tiếp
5. GTNN
: Giao tiếp ngôn ngữ
6. GTVH
: Giao tiếp văn học
7. TPVH
: Tác phẩm văn học
8. TPVC
: Tác phẩm văn chương
9. THPT
: Trung học phổ thông
10.VH
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
MỤC LỤC
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI...................................................................................1
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.......................................................................................3
IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU............................................7
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU........................................................................7
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................................8
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................8
VIII. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN.................................................................9
Chương 1.............................................................................................................10
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT..............................10
VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU............................10
TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM...................................10
1.1 Lí thuyết về hoạt động giao tiếp và hoạt động dạy học TPVC trong nhà
trường THPT...................................................................................................10
1.1.1 Quan niệm về giao tiếp.........................................................................
1.1.2 Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ.......................
1.1.3. Giao tiếp văn học..................................................................................
1.1.3.1. Sáng tác và tiếp nhận văn học là những hoạt động giao tiếp.........
1.1.3.2. Giao tiếp văn học là một dạng đặc biệt của giao tiếp ngôn ngữ.
.....................................................................................................................
1.1.4. Lí luận về hoạt động dạy học TPVC trong nhà trường THPT..........
1.1.4.1. TPVC ở nhà trường THPT: phương tiện giao tiếp đa chiều..........
* Nhà văn - Giáo viên.................................................................19
* Giáo viên - Học sinh.................................................................20
chú ý đến các yếu tố tham gia giao tiếp khác của lí thuyết hoạt động
giao tiếp...........................................................................................................
2.1.2.4. Phương tiện giao tiếp........................................................................
2.2. Các nguyên tắc thực hiện bài học "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam theo lí
thuyết về hoạt động giao tiếp...........................................................................45
2.2.1. Nguyên tắc người học phải xác định được đích giao tiếp trong
dạy học truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam...................................
2.2.2. Nguyên tắc luôn bám sát nội dung giao tiếp, cắt nghĩa các yếu tố
nội tại và các quan hệ của văn bản truyện...................................................
2.2.3. Nguyên tắc tôn trọng sự trao đổi, đối thoại, thảo luận đa chiều
của HS khi tiếp nhận truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.............
2.3. Đề xuất quy trình dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” theo lí
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
thuyết về hoạt động giao tiếp...........................................................................50
2.3.1. Bước 1: Giáo viên hướng dẫn HS tự đọc tác phẩm và xây dựng
các quan hệ giao tiếp......................................................................................
2.3.2.1 Xác định nội dung giao tiếp và hướng dẫn HS phân tích các nội
dung giao tiếp..............................................................................................
2.3.2.2. Lí giải các phương tiện giao tiếp trong quan hệ giao tiếp với
người đọc HS...............................................................................................
2.3.3 Bước 3: Tổ chức đánh giá kết quả đọc hiểu văn bản bằng tái hiện
các cuộc giao tiếp...........................................................................................
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2....................................................................................60
việc dạy học TPVC phải theo hướng “trả lại bản chất nghệ thuật kì diệu của
bộ môn Văn trong nhà trường” [11], “Văn học phải được hiểu trong quá trình
giao tiếp”, “Giảng dạy văn học là một quả trình giao tiếp và đối thoại nghệ
thuật có cơ sở khoa học dựa trên sự cảm thụ, thấu hiểu tác phẩm sâu sắc”.
GV- người tổ chức giờ học sao cho “Giờ văn phải tạo được không khí cảm
xúc, sự đồng cảm, giao cảm, sự cộng hưởng giữa nhà văn - giáo viên - học
sinh. Học sinh trò chuyện với nhà văn thông qua tác phẩm trung gian” [3]
2. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học.
Muốn dạy - học tốt phải đề cập đến nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố
không kém phần quan trọng là PPDH. Một thời gian dài trong nhà trường đã áp
dụng nhiều phương pháp dạy học một chiều “thầy giảng trò nghe”, HS thụ động
tiếp nhận kiến thức và ít có những ý kiến phản hồi trong quá trình lĩnh hội. Ngày
nay, nhiều phương pháp mới có ý tưởng phá vỡ những ràng buộc nhằm đổi mới
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
1
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
theo hướng dân chủ hóa và nhân dân hóa. Trong dạy học TPVC ở nhà trường,
vấn đề người đọc với tư cách là chủ thể của giờ học càng được quan tâm. Nhiệm
vụ của giờ dạy học văn là làm sao phải tạo ra mối quan hệ tương tác của ba mối
quan hệ vốn có: tác phẩm - nhà văn, GV và bản thân HS. Muốn như vậy, người
dạy phải có hệ thống PPDH phù hợp, hướng vào HS, giúp HS khám phá TPVC
như một đối tượng nhận thức thẩm mĩ.
Có thể thấy PPDH được đổi mới bằng việc nhìn nhận HS là chủ thể cảm
Dương Thị
- Hai đứa trẻ của Thạch Lam là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách
truyện ngắn Thạch Lam, được chọn giảng dạy ở chương trình Ngữ văn 11,
chương trình chuẩn và chương trình nâng cao, NXB Giáo dục năm 2004. Thực
tiễn giảng dạy trong nhà trường phổ thông cho thấy, việc dạy học tác phẩm Hai
đứa trẻ của Thạch Lam vẫn chỉ dừng lại ở những lối mòn, chưa theo kịp công
tác nghiên cứu. GV và HS chưa nhận thức đúng đắn về bản chất TPVC (vừa là
một bộ môn nghệ thuật vừa là một bộ môn khoa học). Chúng tôi cho rằng việc
vận dụng lí thuyết về hoạt động GT vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa
trẻ của Thạch Lam là một hướng đi khắc phục phần nào tình trạng trên, đồng
thời giúp HS tiếp nhận một cách tích cực nhất, đem lại hiệu quả giảng dạy.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Vận dụng
lí thuyết về hoạt động giao tiếp vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa
trẻ” của Thạch Lam với mong muốn tìm ra những phương pháp, biện pháp dạy
học phù hợp nhất để khai thác tối đa các giá trị trong giờ học tác phẩm Hai đứa
trẻ của Thạch Lam nói riêng và cũng là định hướng để áp dụng vào các TPVC
nói chung.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
1. Vấn đề dạy học theo lí thuyết về hoạt động giao tiếp.
Hiện nay, GT và vận dụng lí thuyết về hoạt động GT vào dạy học là nội
dung được các nhà nghiên cứu quan tâm bởi tính ưu việt của nó. Ở Việt Nam,
dạy học theo lí thuyết về hoạt động GT vẫn là khá mới mẻ, song việc nghiên cứu
đã đạt được hiệu qua cao:
+ Trong giảng dạy Tiếng Việt, GS.TS Bùi Minh Toán trong bài: Về quan
điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt (TC Nghiên cứu Giáo dục, 5/1995), từ
việc khẳng định “Hoạt động giao tiếp là hoạt động phát và nhận thông điệp”,
tác giả đưa ra những cơ sở đề xuất quan điểm GT trong giảng dạy. Điều này vừa
xuất phát từ đặc thù của ngôn ngữ, vừa xuất phát từ mục tiêu của môn học. Từ
đó, hướng GT được thể hiện trong nội dung và phương pháp giảng dạy Tiếng
phương diện: GT văn học và GT sư phạm, về GT văn học tác giả chủ trương tổ
chức cho HS thực hiện GT văn học là để các em trực tiếp đối thoại với tác phẩm,
tìm ra giá trị thẩm mĩ của tác phẩm biểu hiện qua hệ thống ngôn ngữ và hình
tượng văn học. Về GT sư phạm, tác giả đề xuất bài học TPVC phải tổ chức các
hoạt động trao đổi, bàn luận, đánh giá trong một quy trình dạy và học chặt chẽ với
sự tham gia của GV - người dạy và HS - người học. GT sư phạm có thể được tổ
chức dưới nhiều hình thức: giữa GV và cá nhân HS, giữa GV và nhóm HS, giữa
GV và tập thể lớp. Điều này giúp HS biết ứng dụng các kiến thức văn học, kiến
thức ngôn ngữ vào GT đời sống, GT văn hóa, sử dụng văn học như một phương
tiện GT. Luận án cũng nghiên cứu một cách khá hệ thống từ quan điểm, nguyên
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
4
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
tắc đến các bước thực hiện bài học TPVC theo hướng GT. Đây chính là cơ sở gợi
mở cho đề tài của chúng tôi khi áp dụng vào dạy học một tác phẩm cụ thể trong
nhà trường phổ thông.
+ Trong luận văn Dạy học thơ trữ tình giai đoạn sau 1975 cho học sinh
THPT theo hướng giao tiếp của Trần Thị Nga, ĐHSP, Hà Nội, 2010, tác giả đã
nêu được những kiến thức lí luận cơ bản về vấn đề dạy học thơ trữ tình theo
hướng GT. Đề tài khẳng định bản chất của thơ ca là GT bằng tâm hồn, tình cảm.
Trong đó thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt của người nghệ sĩ, tình cảm trong thơ
gắn với tình cảm của nhân dân và nhân loại, tình cảm trong thơ là tình cảm được
cá thể hóa. Và từ đó tác giả đưa ra các nguyên tắc, phương pháp dạy học thơ trữ
tâm trạng của nhân vật.
- Thiết kế bài giảng “Hai đứa trẻ” của GS Phan Trọng Luận và Thiết kế
bài giảng của Trần Thanh Xuân - Nguyễn Thị Hương (Thiết kế tác phẩm văn
chương, tập 1, NXB Giáo dục 1999) đã vận dụng và kết hợp các thao tác mang
tính nghiệp vụ vào việc tổ chức HS chiếm lĩnh tác phẩm theo cơ chế dạy văn mới.
- Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương, PGS.TS
Nguyễn Viết Chữ đã đưa ra hướng dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch
Lam là cần làm nổi bật vẻ đẹp trữ tình của tác phẩm dựa trên đặc trưng loại thể,
“phải xác định được thi pháp tư tưởng, cái phong cách, cái tạng riêng của từng
nhà văn” [3], tác giả cũng khẳng định “chúng ta phải dạy học tác phẩm của
Thạch Lam theo hướng với tác phẩm trữ tình cho dù nó truyện” [3].
- Luận văn Hệ thống câu hỏi cảm thụ trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
của Thạch Lam ở lớp 11 của Ngô Thị Lùng Em, ĐHSP Hồ Chí Minh, năm
2009, đã xây dựng hệ thống câu hỏi cảm thụ tác phẩm dựa trên đặc trưng của
môn học và đối tượng người học.
- Luận văn Dạy học “Hai đứa trẻ” ở lớp 11 theo đặc trưng thi pháp thể
loại truyện ngắn của Thạch Lam của Nguyễn Anh Dinh, ĐHSP Hà Nội, năm
2012, và luận văn Từ góc độ loại thể xác định một phương hướng dạy - học
truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam trong nhà trường trung học phổ
thông của Nguyễn Tiến Dũng, ĐHSP Hà Nội, năm 2003, đều đưa ra được một
số biện pháp dạy học dựa trên đặc trưng thi pháp thể loại truyện ngắn là: Phân
tích tác phẩm theo điểm nhìn của tác giả và điểm nhìn của nhân vật; đọc kết hợp
khơi gợi hình ảnh và tâm trạng; từng bước gợi mở, dẫn dắt định hướng HS bằng
những câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi gợi cảm xúc; thông qua lời giảng và bình,
phát huy những thế mạnh truyền thống trong dạy học TPVC; so sánh để mở
rộng và khắc sâu ấn tượng của HS.
- Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng hệ thống câu hỏi tối ưu cho tác phẩm
“Hai đứa trẻ” của sinh viên Nguyễn Thị Vân, ĐHSP Hà Nội, năm 2000, đã dựa
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
2. Soi chiếu văn bản để dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của
Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động GT.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Với việc thực hiện đề tài: Vận dụng lí thuyết về hoạt động giao tiếp vào
dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, khóa luận tập
trung nghiên cứu các vấn đề sau:
1.GT; GT văn học; GT trong dạy học TPVC; đặc điểm nhận thức của HS
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
7
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
THPT, thực trạng dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam ở trường
THPT hiện nay.
2. Vận dụng các nguyên tắc và quy trình dạy học TPVC theo lí thuyết về
hoạt động GT vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
VI. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Khái quát, khẳng định vai trò của lí thuyết về hoạt động GT để tăng
hiệu quả dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
2. Thiết kế giáo án thực nghiệm vận dụng các nguyên tắc và quy trình dạy
học bài học TPVC vào truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam theo lí thuyết về
hoạt động GT.
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, người viết đã vận dụng và phối hợp một số
phương pháp sau:
Phần nội dung: Gồm ba chương.
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc vận dụng lí thuyết về hoạt động GT
vào dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Chương 2: Tổ chức dạy học đọc hiểu truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của
Thạch Lam theo lí thuyết về hoạt động GT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Phần kết luận: Trình bày những kết luận rút ra từ đề tài nghiên cứu.
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
9
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÍ THUYẾT
VỀ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
TRUYỆN NGẮN “HAI ĐỨA TRẺ” CỦA THẠCH LAM.
1.1 Lí thuyết về hoạt động giao tiếp và hoạt động dạy học TPVC trong nhà
trường THPT.
1.1.1 Quan niệm về giao tiếp.
Giao tiếp (GT) là quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình
cảm, thái độ, ước muốn, hành động…) giữa ít nhất hai chủ thể GT (kể cả trường
hợp một người GT với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và một tình
huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định.
Dương Thị
Hoạt động GT bằng ngôn ngữ bao giờ cũng diễn ra trong một tình huống
nhất định với những biểu hiện cụ thể: mối tương quan giữa các nhân tố trong
hoạt động GT, mục đích GT, thời gian, không gian của hoạt động GT. Người
nói (người phát thông tin) là người sản sinh ra văn bản hoặc phát ngôn. Người
nghe (người nhận thông tin) là người lĩnh hội văn bản hoặc phát ngôn. Đối
tượng được đề cập hay phản ánh là những ý nghĩ hoặc những tình cảm mà
người nói có và muốn truyền đạt, hoặc nói một cách chính xác hơn là muốn
kích thích ở người nghe. Ngôn ngữ là hệ thống các kí hiệu và những quy tắc sử
dụng những kí hiệu này, mà cả người nói và người nghe đều có thể vận dụng
trong GT. Đường kênh là môi trường được sử dụng để truyền đạt và tri giác
văn bản (Chẳng hạn, trong kĩ thuật đó là dây điện thoại dẫn những dao động
điện từ, không gian truyền lan của những sóng vô tuyến; còn trong ngôn ngữ
học đó là những phương thức phát âm bằng miệng hay viết ra bằng văn tự;
trong nghiên cứu văn học, đó là thể loại truyện ngắn hay truyện vừa, tiểu
thuyết hay thơ). Văn bản hoặc ngôn bản là sản phẩm của hoạt động lời nói.
Trong hoạt động GT sẽ có các mối tương quan: giữa người nói và người nghe,
giữa người nói và người nghe với nội dung GT, giữa người nói và người nghe
với đối tượng được đề cập, giữa người nói và người nghe với ngôn ngữ, giữa
văn bản với đường kênh, giữa văn bản với ngôn ngữ.
Những hiểu biết về các nhân tố và tình huống của hoạt động GT ở trên là
thực sự cần thiết đối với cả người nói lẫn người nghe. Ở người nói (người phát
thông tin), năng lực GT thể hiện ở chỗ có ý thức rõ ràng về điều định nói, biết
quan tâm tới người nghe, biết cách tổ chức một văn bản để truyền qua đường
kênh sao cho đúng chuẩn mực, biết lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để diễn
đạt, biết chọn điều gì cần nói cho phù hợp, biết nói đúng lúc, đúng chỗ, có khi
còn phải biết chọn nhân vật GT. Ở người nghe (người nhận thông tin), năng lực
GT thể hiện ở: khả năng lĩnh hội được những điều người ta nói hoặc viết, khả
TẠO LẬP
N
N’
Sơ đồ 1.2: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Theo sơ đồ trên, khi có nội dung D xuất hiện trong đầu, người phát tin tìm
cách truyền nó đến người nhận. Nhưng nội dung D lại thuộc lĩnh vực tinh thần
nên để truyền được nội dung D ấy đến cho người nhận, người phát phải tìm cách
vật chất hoá nó. Để vật chất hoá nội dung ấy, người phát có thể sử dụng ngôn
ngữ. Trong hoạt động GT bằng ngôn ngữ, quá trình chuyển nội dung D từ bình
diện tinh thần sang nội dung D thuộc lĩnh vực ngôn ngữ được gọi là quá trình
mã hoá ngôn ngữ. Đây chính là quá trình sản sinh, tạo lập lời nói.
Trong sơ đồ trên, S - S’ được gọi là những kiến thức, những hiểu biết mà
người phát và người nhận có được ở thời điểm GT. Những hiểu biết đó đã được
tích luỹ qua việc học hỏi trong nhà trường và qua đời sống của bản thân người
phát cũng như người nhận, vốn sống của con người vô cùng phong phú, bởi vậy,
trong một cuộc GT, người phát không cần và cũng không thể đưa hết vào trong
một lời nói. Nhưng vốn sống, vốn hiểu biết đa dạng, phong phú đó sẽ tạo thành
cái nền cho người phát trình bày những vấn đề trong văn bản, giúp cho người
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
12
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
13
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
mong mỏi một ngày nào đó có sự đồng cảm của người đọc;
“Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.
Sáng tác VH còn là một nhu cầu muốn giải thoát nội tâm của nhà văn.
Cũng giống như những người bình thường khác, nhà văn cũng có những ấn
tượng cảm xúc về thế giới. Ở nhà văn, những ấn tượng cảm xúc này thường là
mãnh liệt đến mức không thể viết ra, nói ra. Người xưa nói “thi ngôn chí” (thơ
bày tỏ lí tưởng), “thi ngôn tình” (thơ bày tỏ tình cảm). Ngày nay, những sáng tác
của các nhà văn ít nhiều đều được hình thành từ nhu cầu muốn được giải phóng
năng lượng, giải tỏa cảm xúc, giải thoát nội tâm. Nguyên Hồng từng nói:
“Những cái tôi viết là những yêu thương nhất của tôi”. Như vậy, đối với người
nghệ sĩ, nghệ thuật sẽ góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng của những xúc cảm
dồn chứa trong tâm tư. Nhà văn bao giờ cũng mong muốn GT, mong muốn
người khác thấu hiểu những điều mà anh ta quan sát, suy nghĩ và thể nghiệm.
- Tiếp nhận văn học là hoạt động giao tiếp, đối thoại giữa người đọc và
tác giả qua tác phẩm.
Theo GS - TS Trần Đình Sử: “Tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp,
đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm. Nó đòi hỏi người đọc
tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sức sáng
tạo” [8]. Đọc TPVC, độc giả thực hiện một hành vi GT với tác giả. Tác phẩm là
nhà văn trước các vấn đề của cuộc sống do nhà văn nêu ra. Thông qua văn bản
ngôn ngữ, người đọc có thể thực hiện tiếp nhận một TPVH nhiều lần, nhiều mức
độ trong những không gian và thời gian khác nhau.
Tóm lại, từ sáng tác đến tiếp nhận VH là một quá trình GT bao gồm các
nhân tố: nhân vật GT (người nói, người nghe), nội dung GT, phương tiện
GT...tất cả diễn ra trong một hoàn cảnh GT nhất định, hướng tới đích GT cụ thể.
Trong hoạt động GT bằng ngôn ngữ, GTVH là một GT đặc biệt, một GT mang
tính thẩm mĩ.
1.1.3.2. Giao tiếp văn học là một dạng đặc biệt của giao tiếp ngôn ngữ.
- Về chủ thể giao tiếp văn học.
Chủ thể trong bất kì một hoạt động GT nào cũng bao gồm người “phát”
và người “nhận”, ở GTNN là người nói và người nghe. GTVH cũng là hoạt
động GTNN, nhưng chủ thể GT và quan hệ giữa các chủ thể GT không hoàn
toàn giống với GTNN. Nếu người “phát” trong GTNN chỉ có một thì người
“phát” trong GTVH hàm chứa nhiều vai: khi là tiếng nói của tác giả, khi thì
nhân vật phát ngôn, lúc thì của người kể, lúc của người đối thoại.. .nhưng đều
hướng tới người “nhận” duy nhất là người đọc “tác phẩm”.
Đến với TPVH, hình tượng VH (hình tượng nhân vật, hình tượng thiên
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
15
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
nhiên, hình tượng đời sống) là đối tượng tiếp xúc đầu tiên, người “phát” đầu tiên
đến với độc giả (có thể là hình tượng nhân vật, hình tượng thiên nhiên hay
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
lời cảm thương trước một sự thật tàn nhẫn đến đớn đau:
“Hóa nhi thật có nỡ lòng,
Làm cho dày tía vò hồng lắm nao”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Vì vậy, cũng là chủ thể GT (người “phát”) nhưng GT với nhà văn không
giống như GT với hình tượng. Nếu tiếp xúc với hình tượng VH là tiếp xúc với
người “phát” trên cơ sở các chi tiết cụ thể, sống động đầy chất cảm tính về hình
dáng, tính cách, thì tiếp xúc với nhà văn lại tiếp xúc với người “phát” hiện diện
ở phương diện tinh thần với những lập trường, quan điểm, tình cảm, thái độ.
So sánh với người “phát” trong GTNN sẽ thấy rằng, người “phát” trong
GTNN chỉ mang màu sắc cá nhân, đại diện cho cá nhân, nhưng người “phát”
trong GTVH mang đậm tính chất xã hội. Dù trong vai hình tượng nghệ thuật hay
vai nhà văn, “người phát” ấy bao giờ cũng có tính đại diện cho số đông, phản
ánh cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của một nhóm người, lớp người nhất định.
Chẳng hạn, hình tượng nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam
không chỉ ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp mà còn giúp người đọc thấu
hiểu nỗi buồn đau của dân tộc trong gần một thế kỷ dưới ách đô hộ tàn bạo của
bọn thực dân đế quốc. Cái nhìn của nhà văn Nam Cao trong truyện ngắn Đôi
mắt đâu chỉ là của Nam Cao mà là quan điểm của con người kháng chiến, con
người cách mạng.
- Về nội dung giao tiếp văn học.
Nội dung GTVH chính là những vấn đề mà nhà văn muốn “giao lưu”, gửi
gắm, bày tỏ, GT với độc giả. Tác phẩm chính là phương tiện GT giữa người đọc
những thông điệp mà nhà văn muốn chuyển tải thông qua phương tiện GT là
ngôn ngữ và hình tượng VH.
GT với hình tượng VH như GT với một thực thể sống ở ngoài đời. Do vậy
khi GT với mỗi hình tượng VH cần phải nhận ra diện mạo của hình tượng đó
trên cơ sở những chi tiết cụ thể được miêu tả trong tác phẩm. Đọc bất kì một
TPVH nào người đọc cũng đều phải trả lời được các câu hỏi: hình tượng đó là
gì, quá trình phát triển của hình tượng ra sao, ý nghĩa của nó với việc biểu hiện
chủ đề tư tưởng của tác phẩm như thế nào ? Câu trả lời thu được từ các câu hỏi
này sẽ hình thành nên kết quả của hoạt động GT giữa người đọc và hình tượng
VH. Khi GT với hình tượng tự sự, người đọc phải quan tâm đến những chi tiết,
tình tiết, sự kiện. Chẳng hạn với hình tượng Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn
Trung Thành, người đọc thường quan tâm đến chi đôi bàn tay. Khi còn nguyên
vẹn, đó là bàn tay của trung thực, yêu thương, tình nghĩa. Khi bị đốt cháy đó là
đôi bàn tay ngụt cháy của lòng căm thù, trở thành bó đuốc châm lửa cho cuộc
nổi dậy của buôn làng. Khi bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt nhưng vẫn có thể
Lớp: A – K61, khoa Ngữ Văn
18
Khóa luận tốt nghiệp
Duyên
Dương Thị
cầm súng, thậm chí không cần vũ khí vẫn có thể giết chết giặc. Đôi bàn tay ấy là
chứng tích tội ác của kẻ thù để nhắc nhở con cháu muôn đời không thể quên.
Đối với hình tượng trữ tình, người đọc lại quan tâm hơn đến tâm trạng và cảm
xúc. GT với nhà văn là GT qua sự thể hiện tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhà
văn với đời sống xã hội. Thông qua các lĩnh vực như đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ