Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội - Pdf 30

Lời nói đầu
ục tiêu mà tất cả các quốc gia đều mong muốn vơn tới đó là sự phát triển và
thịnh vợng. Song để đạt đợc điều này, đòi hỏi mỗi nớc đều phải tự xây dựng các
chính sách kinh tế, chính trị, xã hội sao cho vừa phát huy nội lực, khắc phục đợc
khó khăn và yếu kém vừa tránh đợc sự tụt hậu xa đối với xu thế chung.
Việt Nam đang trong quá trình phát triển, xây dựng nền kinh tế thị trờng
theo hớng mở, nằm trong khu vực kinh tế Châu á Thái Bình Dơng - vòng cung
kinh tế đang phát triển năng động nhất thế giới, lại vấp phải nhiều khó khăn thử
thách: nền công nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất phục vụ xây dựng và phát triển
kinh tế vừa thiếu vừa lạc hậu, hệ số cơ giới hoá thấp, đội ngũ cán bộ khoa học
còn nhiều bất cập về số lợng và trình độ, nền tài chính quốc gia còn quá eo hẹp
cha đáp ứng mức cần thiết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội .
Khắc phục tình trạng trên và nhằm thực hiện đờng lối công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc thì một trong những tiền đề nhằm phát triển kinh tế là vốn
bởi sẽ là không tởng khi nói đến phát triển kinh tế mà không có vốn hay không
đủ vốn.
Thực tế, không quá khó khăn khi nhận thức rằng nguồn vốn có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nhng sẽ là khó khăn khi đi tìm kiếm nó.
Câu hỏi đặt ra là: vốn đợc khơi nguồn từ đâu?
Theo nh tuyên bố của Đại hội Đại biểu toàn quốc khoá VII của Đảng:
Để công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc cần huy động đợc nguồn vốn sẵn có
với sử dụng có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nớc là quyết định, nguồn
vốn bên ngoài là quan trọng.
Nội lực rất nhiều nhng có một vấn đề đặt ra: bằng cách nào để khơi
thông, thu hút đợc ? Nh chúng ta đã biết, trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay,
có rất nhiều chủ thể, thông qua các con đờng khác nhau có khả năng cung cấp
dẫn vốn đáp ứng nhu cầu về vốn. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận đợc
M
1
là huy động vốn qua các trung gian tài chính - Ngân hàng thơng mại (NHTM) -
là kênh quan trọng nhất, có hiệu quả nhất vì trong thế giới kinh doanh tiền tệ,

hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.1. Khái quát về NHTM
Tính cho đến thời điểm hiện nay, ngân hàng thơng mại đã có một tuổi đời
hoạt động tơng đối dài, tuy nhiên bất cứ khi nào đề cập tới NHTM ta không thể
bỏ qua lịch sử ra đời của nó. NHTM là một trung gian tài chính ra đời dựa trên
cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá và dựa trên sự khác biệt về
tiền tệ giữa các vùng các khu vực.
Hình thức ngân hàng sơ khai, đầu tiên là nhận tiền gửi và cho vay một
phần số tiền đó. Hình thức này xuất hiện là do một số ngời có nhu cầu cất trữ số
tiền của mình, trớc nhu cầu đó một số thơng gia đã đứng ra làm nhiệm vụ trông
coi, cất giữ hộ tiền và tiến hành thu phí giữ hộ tiền. Trong quá trình cất giữ hộ,
các thơng gia đã nhận thấy trong kho cất giữ tiền của mình luôn tồn tại một l-
ợng tiền d thừa, vì thực tế không bao giờ ngời gửi tiền lại rút hết tiền và rút tiền
cùng một lúc, thờng có rất nhiều đến gửi tiền và rút tiền. Trong khi đó, có rất
nhiều ngời có nhu cầu vay vốn để tiến hành hoạt động kinh doanh. Vì vậy các
thơng gia đã bắt đầu sử dụng một phần tiền thừa trong két ra để đem đầu t và
thu lãi, từ đó họ có thêm một phần lợi nhuận.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đã xuất hiện nhiều hình thức ngân
hàng khác nhau, song đến nay ngân hàng đã trở thành một tổ chức kinh doanh
tiền tệ chuyên nghiệp mà hoạt động thờng xuyên và chủ yếu vẫn là nhận tiền
gửi của khách với cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó cộng thêm một phần lãi
và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu t và thực hiện một số nghiệp vụ khác.
3
Ngân hàng đợc coi là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá
trong kinh tế thị trờng, một động lực quan trọng cho sự phát triển của nền sản
xuất xã hội. Với vai trò nh trên, ngân hàng không thể đứng ngoài hoạt động của
bất cứ quốc gia nào. Vì vậy, mỗi nớc đều xây dựng những khung pháp lý quy
định, giới hạn hoạt động cuả ngân hàng. Mỗi nớc khác nhau sẽ có một khái
niệm và mô hình tổ chức ngân hàng khác nhau. Thông thờng, ngời ta phải dựa
vào tính chất và mục đích, đối tợng hoạt động của nó trên thị trờng tài chính.

dịch vụ ngân hàng với nội dung thờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Thông thờng, các nớc có thể sử dụng các loại mô hình NHTM nh sau: mô
hình truyền thống và mô hình hiện đại.
Mô hình truyền thống: gồm có các ngân hàng đa năng và các
ngân hàng chuyên doanh.
Mô hình phổ biến hiện nay (mô hình hiện đại): gồm có các
ngân hàng thơng mại - các định chế tài chính lớn, các ngân hàng
phát triển, các ngân hàng có quy chế chuyên môn hoá, các ngân
hàng có quy chế đặc biệt.
Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng, mỗi loại ngân hàng đều
mang những nét đặc trng phù hợp với điều kiện cuả thời kỳ đầu chuyển đổi
của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Cụ thể Việt Nam có
các loại hình ngân hàng sau:
NHTM quốc doanh: Loại ngân hàng này đợc coi là chiếm vị thế
trong hệ thống tổ chức tín dụng của nớc ta. Hình thức sở hữu là doanh
nghiệp Nhà nớc, thành lập, cấp vốn chịu sự quản lý cuả Nhà nớc, hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, đối với mọi thành
phần kinh tế, mọi lĩnh vực sản xuất lu thông, xây dựng trong và ngoài nớc.
Hiện nay có 6 ngân hàng quốc doanh là: Ngân hàng công thơng, Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng đầu t và phát triển, Ngân
hàng ngoại thơng, Ngân hàng ngời nghèo, Ngân hàng phát triển nhà ở
Đồng bằng sông Cửu Long.
NHTM cổ phần: là loại hình ngân hàng phải đợc thành lập theo luật
công ty cổ phần, thuộc sở hữu của các cổ đông, ngời góp vốn, trên cơ sở tự
5
nguyện của các cổ đông trong việc góp vốn và hoạt động theo luật pháp quy
định.
Ngân hàng liên doanh: là loại hình ngân hàng đợc thành lập trên cơ
sở hợp đồng liên doanh, vốn điều lệ là vốn góp của ngân hàng Việt Nam và

Vốn tự có của ngân hàng: là nguồn vốn thuộc sở hữu của riêng các
NHTM. Thực tế nguồn vốn này không ngừng tăng lên từ kết quả động kinh
doanh của bản thân NHTM, nó đóng góp một phần đáng kể vào hoạt động
kinh doanh cuả các NHTM.
Nghiệp vụ tiền gửi: phản ánh các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp
vào để thanh toán hoặc nhằm mục đích bảo quản tài sản qua đó NHTM có
thể huy động đợc. Ngoài ra các ngân hàng còn huy động các khoản tiền
nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình gửi vào ngân hàng với mục đích h-
ởng lãi.
Nghiệp vụ tiền vay: phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách
vay các tổ chức tín dụng trên thị trờng tiền tệ và vay ngân hàng trung ơng
(NHTW) dới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo đảm... mục đích tạo
sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ không tự cân
đối đợc trên cơ sở khai thác tại chỗ.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Ngân hàng sử dụng nghiệp vụ
này để thu hút các khoản vốn có tính chất dài hạn của ngân hàng vào nền
kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp NHTM tăng cờng tính ổn định
vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
Nghiệp vụ huy động vốn khác: Thông qua nghiệp vụ này NHTM có
thể tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho
các tổ chức cá nhân trong và ngoài nớc.
b. Nghiệp vụ sử dụng vốn.
7
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian đi vay để cho vay. Do
vậy mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động đợc một lợng
vốn là làm sao sử dụng nguồn vốn mà không bị rơi vào tình trạng kẹt vốn. Ngân
hàng cần phải nghiên cứu và đa ra chiến lợc sử dụng vốn của mình.
Một là, ngân hàng tiến hành cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống
kê, nhìn chung thì khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt

vực dịch vụ dịch vụ, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn nắm bắt đợc thông tin, đa
dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế.
Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu t.
Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thơng mại có thể tiến hành là:
Đầu t vào mua bán kinh doanh các chứng khoán hoặc đầu t góp
vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác.
Đầu t vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
Ba là nghiệp vụ ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia
tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu lớn lao ấy là
hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an
toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt
động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn. Vì vậy, ngoài
việc cho vay và đầu t để thu đợc lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một
phần nguồn vốn huy động đợc để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán
và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do Trung ơng đề ra.
c. Nghiệp vụ khác.
9
Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều các lợi thế. Một trong
những lợi thế đó là hình thức ngân hàng đóng vai trò trung gian tiến hành các
hoạt động thanh toán cho khách hàng thông qua các hình thức nh séc, thẻ thanh
toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hoặc dựa trên việc hạch toán vào
các tài khoản có liên quan đến đối tợng đó. Cụ thể:
Dịch vụ thanh toán hộ: trên cơ sở khách hàng gửi tiền và mở tài
khoản giao dịch tại ngân hàng, ngân hàng có thể đứng ra thanh toán hộ cho
khách hàng của mình về các khoản tiền mua bán, dịch vụ thông qua việc
thu hộ, chi hộ khách hàng bằng các hình thức trên.
Dịch vụ môi giới, mua, bán chứng cho khách hàng và làm đại lý phát
hành chứng khoán cho công ty.

thời cho quá trình tái sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả của cả nền kinh
tế. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn
cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng thơng mại.
Thứ hai, ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng .
Nh chúng ta đã biết, nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế trong quá
trình vận động chịu tác động của rất nhiều các quy luật kinh tế khách quan
nh quy luật cung, cầu, cạnh tranh. Các doanh nghiệp hoạt động trong nền
kinh tế này cũng không thoát khỏi sự tác động mạnh mẽ của các quy luật
kinh tế khách quan đó. Họ không những phải đáp ứng nhu cầu thị trờng về
phơng diện giá cả, khối lợng, chất lợng, chủng loại mà còn đòi hỏi phải thoả
mãn trên phơng diện thời gian, địa điểm. Do vậy, nâng cao chất lợng lao
động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, cải tiến máy móc trang
thiết bị, tìm tòi sử dụng các nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất
một cách thích hợp chính là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp đáp ứng
một cách tốt nhất các yêu cầu của thị trờng. Vì những hoạt động này đòi hỏi
khối lợng vốn lớn (thông thờng vợt quá khả năng vốn tự có của doanh
nghiệp). Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến với ngân
hàng xin vay vốn. Hoạt động tín dụng đã khiến ngân hàng trở thành chiếc
11
cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trờng, tạo chỗ đứng vững chắc trong cạnh
tranh của ngân hàng.
Thứ ba, NHTM là công cụ để Nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trờng, hoạt động của NHTM
nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nớc điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM
trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lợng tiền trong
lu thông. Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM
thực hiện việc dắt dẫn các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trờng
điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng
theo phơng châm Nhà nớc điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị tr-

là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thơng mại đóng góp khối lợng tài sản và
tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có đợc vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố
lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trớc tiên là
vốn.
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thơng mại tạo lập
hoặc huy động đợc, dùng để cho vay, đầu t hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc
dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng, mà ngời
chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Nh vậy
ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dới hình thức tiền
tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động
kinh tế phát triển.
1.2.2. Phân loại nguồn vốn của ngân hàng th ơng mại.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu đợc lợi nhuận cao là một
doanh nghiệp biết tận dụng mọi khả năng, nắm bắt thông tin chớp mọi thời
cơ. Với ngân hàng, khả năng hàm chứa những nhân tố bản thân ngân hàng
13
sẵn có và đi khai thác. Vốn chính là khả năng của ngân hàng. Trong tổng
nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, mỗi loại lại có những tính chất và vai trò
riêng, do vậy nhiệm vụ của ngân hàng là phải biết phân loại vốn đầu vào, trên
cơ sở đó sẽ phân bổ đầu ra một cách hợp lý. Xét về kết cấu và tính chất vốn
kinh doanh của ngân hàng thơng mại bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi
vay, vốn khác. Thông thờng nguồn vốn của NHTM đợc phân chia nh sau:
a. Vốn tự có (Vốn CSH)
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, chỉ chiếm một tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, có 3 chức năng quan trọng khiến nó không
thể thiếu trong hoạt động của mỗi ngân hàng: chức năng bảo vệ, chức năng điều
chỉnh, chức năng hoạt động. Ba chức năng này đã giúp ngân hàng có thể đi vào
hoạt động và đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động. Vốn tự có gồm:

NHTMCP quốc tế và NHTNCP nhà Hà Nội có vốn điều lệ 50 tỷ VND.
b. Vốn huy động:
Nếu vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh cuả các
ngân hàng thơng mại thì vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt
động kinh doanh của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô. Trong
tổng nguồn vốn của ngân hàng thơng mại đây là phần vốn chiếm tỷ trọng
lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất. Nó đợc hình thành từ các nguồn sau:
Từ nguồn tiền gửi.
Trong nền kinh tế luôn tồn tại những ngời thừa vốn và những ngời
thiếu vốn. NHTM đã biết điều hoà cái mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các
công cụ, và các nghiệp vụ của mình huy động các nguồn vốn trong xã hội.
Dới đây là một số hình thức mà NHTM có thể sử dụng để huy động vốn từ
nguồn tiền gửi:
Thứ nhất, tiền gửi thanh toán (hay tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi giao dịch).
15
Đây là khoản tiền đúng nh tên gọi của nó là thời gian gửi tiền
không xác định, khách hàng (cá nhân , tổ chức) có quyền rút tiền ra bất
cứ lúc nào. Mục đích của khách hàng đối với loại tiền này là hởng những
tiện ích trong thanh toán khi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng. Vì vậy đây là bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời
không phải là khoản để dành.
Thứ hai, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,
tổ chức tín dụng.
Ngợc với khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là khoản tiền gửi với
thời gian xác định. Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là ngời gửi
chỉ đợc rút tiền khi đến thời hạn nh đã thoả thuận có thể là 1tháng,
3tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc hơn 1năm. Theo quy định, ngân
hàng có quyền từ chối việc rút tiền trớc thời hạn của ngời gửi tiền. Tuy
nhiên, ở một số nớc, quy định này đã đợc nới lỏng: các ngân hàng cho

Trong trờng hợp đó, NHTM có thể huy động bằng cách vay vốn của
các tổ chức tín dụng khác bằng việc mời họ tham gia hình thức cho vay
đồng tài trợ cho các dự án phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, phục vụ
đời sống; hoặc hình thức vay qua đêm trên thị trờng tiền tệ.
Một nguồn vốn vay khác mà ngân hàng có thể huy động: là phát
hành kỳ phiếu có mục đích, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Nếu
những hình thức huy động trên là hình thức huy động mang tính bị động thì
hình thức này là hình thức chủ động. Cụ thể: Khi ngân hàng phát hành trái
phiếu, kỳ phiếu có nghĩa là ngân hàng phát hành một giấy nhận nợ đối với
khách hàng của mình, nhằm huy động vốn có mục đích, có kỳ hạn rõ ràng.
Giữa phát hành kỳ phiếu và trái phiếu khác nhau ở chỗ: kỳ phiếu có mục
17
đích thờng đợc sử dụng linh hoạt còn trái phiếu thờng đợc phát hành với
quy mô lớn đồng loạt trong cả hệ thống ngân hàng.
c. Vốn khác
Nguồn vốn này có đợc là nhờ vào lợi thế hoạt động của ngân hàng thơng
mại. Ví dụ, trong quá trình làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã tạo đợc
một nguồn vốn gọi là nguồn vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở th tín
dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, séc định mức và các khoản phong toả do
ngân hàng chấp nhận các hối phiếu thơng mại. Các khoản tiền này đợc gọi là
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi vì thực tế nó tạm thời đợc trích vào tài khoản này
và đợc nhập vào tài khoản khác chờ sử dụng. Hay thông qua nghiệp vụ làm đại
lý, ngân hàng thơng mại cũng thu hút đợc một lợng vốn đáng kể trong quá
trình thu hoặc chi hộ khách hàng làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác, nhận
và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu t. Nguyên nhân, việc phát
tiền đợc thực hiện theo tiến độ công việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm
thời khoản tiền đó vào kinh doanh.
1.2.3. Sự cần thiết phải tăng c ờng công tác huy động vốn của NHTM.
a. Đối với nền kinh tế
Nh đã đề cập ở phần trên, sẽ là không tởng khi nói tới sự phát triển kinh

đây là những lợi ích mà nguồn vốn đem lại cho ngân hàng:
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng vì
khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thờng, hoạt
động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng có những đặc trng riêng, vốn không
chỉ là phơng tiện kinh doanh chính mà còn là đối tợng kinh doanh chủ yếu.
Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng tiền tệ
(thị trờng vốn ngắn hạn) và thị trờng chứng khoán (thị trờng vốn dài hạn).
Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng đợc mã hoá bằng công thức T-
19
T, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T là nguồn vốn thu về sau một
quá trình đầu t, tiến hành hoạt động kinh doanh: T>T. Từ công thức này, có
thể khẳng định ngân hàng nào trờng vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh
trong cạnh tranh. Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ)
theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trởng nguồn
vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình.
Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng.
Trong điều kiện bình thờng, đầu vào luôn ảnh hởng trực tiếp tới
đầu ra. Đối với ngân hàng, vốn chính là yếu tố đầu vào; tín dụng, đầu t... là
yếu tố đầu ra. Vì vậy, so với các ngân hàng lớn thì các ngân hàng nhỏ có
khoản mục đầu t và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi khối lợng cho vay
của các ngân hàng này cũng nhỏ hơn. Trong khi các ngân hàng lớn cho vay
đợc tại các thị trờng trong vùng thậm chí trong nớc và cả quốc tế, thì các
ngân hàng nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi nhỏ, hẹp chủ yếu trong cộng
đồng. Hơn nữa, vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ thờng không phản ứng
nhanh nhạy đợc trớc những đợt biến động về lãi suất, ảnh hởng trực tiếp đến
khả năng thu hút vốn đầu t từ tầng lớp dân c và các thành phần kinh tế.
Chúng ta có thể lấy một ví dụ trên địa bàn một ngân hàng nào đó nhu cầu
vốn rất lớn, nếu ngân hàng không huy động vốn đợc thì không thể tiến hành

tăng lên.
1.2.4. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của NHTM trong nền
kinh tế thị tr ờng
NHTM làm nhiệm vụ đi vay (tạo vốn) và cho vay hoặc đầu t với mục
đích hởng chênh lệch lãi suất. Quá trình tạo vốn của ngân hàng thơng mại đợc
thực hiện dới các hình thức sau:
a. Nếu căn cứ theo thời gian huy động.
21
Huy động ngắn hạn :đặc điểm là chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng
nguồn vốn huy động, đợc sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn nhỏ hơn 1
năm, lãi suất đợc huy động thờng thấp
Huy động trung hạn: loại vốn này có thời hạn từ 1 đến 5 năm (Việt
Nam chỉ từ 1 đến 3 năm), ngân hàng sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp
vay khoản tín dụng trung hạn: đầu t cải tiến công nghệ, sản phẩm.
Huy động dài hạn: đây là khoản vay mà ngân hàng huy động từ 5
năm trở lên, chi phí cho việc huy động này cao, đợc ngân hàng dùng cho
các khoản tín dụng dài hạn: đầu t xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Nếu căn cứ vào đối t ợng huy động
Huy động vốn từ dân c.
Vốn này có nguồn gốc là những khoản dự phòng cho tiêu dùng và rủi
ro trong tơng lai. Khi xã hội ngày càng phát triển thì những khoản dự phòng
này cũng tăng lên. Nắm bắt đợc quy luật này, NHTM đã sử dụng nghiệp vụ
huy động để tăng thêm nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và thu
đợc lợi nhuận.
Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt đông sản xuất kinh doanh nên
các đơn vị này thờng gửi một khối lợng lớn tiền vào ngân hàng để hởng tiện
ích trong thanh toán. NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ với các
đối tợng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức

Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ
ba bằng cách phát hành séc; ở các nớc phát triển loại tiền gửi này phần lớn
đợc rút thông qua điện thoại hay máy rút tiền tự động ATM. Đặc điểm quan
trọng, đối với ngời gửi là: chuyển nhợng dễ dàng, mục đích giao dịch là
chính, thờng đợc mệnh danh là tiền gửi theo yêu cầu, không đem lại lãi suất
cụ thể. Đối với ngân hàng, chỉ cần bỏ ra một chút chi phí cho việc quản lý
23
tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì cũng rất nhỏ. Số d của loại tiền này phụ
thuộc vào từng thời kỳ trong năm và khả năng của ngân hàng trong việc dự
đoán về sự biến động.
Ngân hàng thờng bảo quản loại tiền gửi trên hai loại tài khoản: tài
khoản thanh toán và tài khoản vãng lai.
Tài khoản thanh toán là loại tài khoản mà chủ nhân của tài khoản
có toàn quyền sử dụng số tiền trong phạm vi số d tiền gửi (loại tài khoản
này luôn có số d).
Tài khoản vãng lai là tài khoản thờng đợc sử dụng cho các tổ chức
kinh tế, nó có thể có số d bên có và bên nợ. D bên có phản ánh số tiền hiện
có trong tài khoản của khách hàng, ngợc lại số d bên nợ phản ánh khoản tín
dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Lãi suất bên nợ cũng nh bên có
đều do ngân hàng và khách hàng thoả thuận.
Do tiền gửi có không có kỳ hạn có chi phí huy động thấp, nếu thu hút
đợc số lợng khách hàng lớn, bảo đảm luôn có một số d ổn định, ngân hàng
có thể dễ dàng trong việc đa dạng hoá nghiệp vụ của mình thông qua việc
mua các loại chứng khoán có tính linh hoạt cao nh kỳ phiếu, tín phiếu kho
bạc. Vì vậy, trên thực tế các ngân hàng đã dần dần xoá bỏ sự khác biệt giữa
hai loại tài khoản này.
Đối với Việt Nam thì loại tiền gửi này tồn tại thông qua các hình thức
nh sau: tài khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế, và khoản tiền gửi của các
cá nhân. Việt Nam là nớc có tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt thấp,
để khuyến khích việc thanh toán qua ngân hàng, các ngân hàng thơng mại

đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ
theo sự lựa chọn của khách hàng, với loại tiền gửi có lãi suất linh hoạt,
khách hàng có thể gửi thêm tiền trớc hạn định.
Việt Nam hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi
(kỳ phiếu) đã xuất hiện với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng. Tuy hình thức
này mới đợc xuất hiện và đợc sử dụng vài năm trở lại đây nhng nó đã
phát huy đợc vai trò của mình trong việc tạo vốn cho các ngân hàng bằng
25

Trích đoạn Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cờng công tác huy động vốn tại NHNo&PTNT Định hớng huy động vốn năm 2002 Định hớng: Đối với tiền gửi dân c: bao gồm tiết kiệm và kỳ phiếu. Tiền gửi của các tổ chức khác:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status