quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của ngân hàng thương mại - Pdf 30

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)
Tên đề tài

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ
HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
Giảng viên hƣớng dẫn:
NGỤY NGỌC ANH

Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THỊ KIM HẰNG
MSSV: 5106139
Lớp: Luật Thƣơng mại 2

Cần Thơ, tháng 12 năm 2013


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2
3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................. 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................................ 2

1.6.2.2. Đối với bên bán hàng ......................................................................... 20
1.6.2.3. Đối với bên mua hàng ........................................................................ 20
Chƣơng 2
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM
2.1. Chủ thể của quan hệ bao thanh toán.................................................................. 22
2.1.1. Bên bao thanh toán – Ngân hàng Thương mại .......................................... 23
2.1.1.1. Điều kiện để Ngân hàng Thương mại tiến hành hoạt động bao thanh
toán .................................................................................................................. 23
2.1.1.2. Quyền của bên bao thanh toán ........................................................... 28
2.1.1.3. Nghĩa vụ của bên bao thanh toán ...................................................... 29
2.1.2. Bên bán hàng ................................................................................................ 30
2.1.2.1. Quyền của bên bán hàng .................................................................... 30
2.1.2.2. Nghĩa vụ của bên bán hàng ................................................................ 31
2.1.3. Bên mua hàng ............................................................................................... 32
2.1.3.1. Quyền của bên mua hàng ................................................................... 32
2.1.3.2. Nghĩa vụ của bên mua hàng ............................................................... 33
2.2. Hợp đồng bao thanh toán .................................................................................... 34
2.2.1. Hình thức hợp đồng ..................................................................................... 34
2.2.2. Nội dung hợp đồng ....................................................................................... 35
2.3. Quy định của pháp luật về quy trình thực hiện hoạt động bao thanh toán ... 36
2.4. Một số quy định khác của pháp luật về hoạt động bao thanh toán ................ 42
2.4.1. Đồng tiền sử dụng trong bao thanh toán .................................................... 42
2.4.2. Lãi và phí trong bao thanh toán .................................................................. 43
2.4.3. Bảo đảm cho hoạt động bao thanh toán ...................................................... 44
2.4.4. Gia hạn thanh toán và chuyển nợ quá hạn trong hoạt động bao thanh
toán .......................................................................................................................... 47
2.4.5. Quy định về các khoản phải thu không được bao thanh toán ................... 48
2.4.6. Quy định về an toàn trong hoạt động bao thanh toán ................................ 50


các ngân hàng, cũng như đối với ngân sách Nhà nước. Khi kinh tế phát triển, nhu cầu
về sử dụng các dịch vụ nhằm phục vụ cho đời sống hằng ngày, việc sản xuất, kinh
doanh cũng ngày càng tăng. Ngân hàng Thương mại trở thành trung gian tín dụng, là
nơi xoay chuyển nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu để đáp ứng những nhu cầu về
vốn cho cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp. Do đó, để thu hút được khách hàng,
cũng như nhằm phục vụ tốt nhất những nhu cầu của khách hàng, các Ngân hàng
Thương mại phải cạnh tranh khốc liệt với nhau từ phát triển mạng lưới ngân hàng, hiện
đại hóa công nghệ, nâng cao chất lượng nhân viên,… và đặc biệt là phải phát triển và
đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ. Bên cạnh những dịch vụ truyền thống như cho vay,
nhận tiền gửi,… Ngày nay các Ngân hàng Thương mại còn cung cấp dịch vụ mới, đáp
ứng được nhu cầu về vốn cho bên bán hàng trong quan hệ mua, bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ đó là bao thanh toán.
Trên thế giới, hoạt động bao thanh toán được hình thành từ rất lâu và đến nay đã
trở thành lựa chọn hữu hiệu đối với những hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ mà bên mua không thể thanh toán ngay cho bên bán. Bao thanh toán đã mang lại lợi
ích thiết thực cho khách hàng cũng như lợi ích mà ngân hàng thu được từ hoạt động
này. Trong khi đó ở Việt Nam, mặc dù bao thanh toán đã manh nha xuất hiện cách nay
hơn 20 năm, nhưng hoạt động này vẫn còn khá mới mẻ, chưa được nhiều khách hàng
biết đến và lựa chọn dịch vụ bao thanh toán cho những quan hệ mua, bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ. Tuy rằng bao thanh toán mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng lẫn
ngân hàng, nhưng hoạt động này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi và phát triển ở nước
ta.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

1

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng



Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp như:
Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp thống kê, phương

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

2

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
pháp phân tích, đánh giá số liệu. Bên cạnh đó, tùy vào từng vấn đề cụ thể mà người
viết sử dụng phương pháp phù hợp, để tạo sự hài hòa, mạch lạc của luận văn, đồng thời
để giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với những nội dung mà người viết đề cập, người
viết còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp để giải quyết các vấn đề nêu trong
luận văn.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về hoạt động bao thanh toán.
Trong chương này trình bày về lịch sử hình thành hoạt động bao thanh toán,
khái niệm về hoạt động bao thanh toán, phân loại bao thanh toán, cũng như những lợi
ích và rủi ro từ hoạt động bao thanh toán đối với các bên khi tham gia vào hoạt động
này. Đồng thời người viết so sánh hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động khác
của tổ chức tín dụng để phân biệt được những hoạt động này với nhau.
Chƣơng 2: Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán theo pháp luật
Việt Nam.
Chương này người viết trình bày những quy định của pháp luật điều chỉnh về
hoạt động bao thanh toán như điều kiện về chủ thể, hợp đồng bao thanh toán, quy trình
thực hiện hoạt động bao thanh toán, và một số quy định khác của pháp luật đối với hoạt

nhượng quyền yêu cầu thanh toán, chuyển nhượng khoản phải thu (assignment of
receivables) có lịch sử hình thành và phát triển cách nay khá lâu. Khoảng 2000 năm
trước dưới thời đế chế La Mã, khi người ta bắt đầu hoạt động giao thương và phát sinh
các khoản nợ thương mại, hoạt động bao thanh toán đã xuất phát từ hoạt động đại lý
hưởng hoa hồng. Bởi vì là đại lý nên họ nắm giữ quyền sở hữu của hàng hóa bên ủy
nhiệm (bên cung ứng sản phẩm nước ngoài), rồi giao hàng hóa đó cho người mua trong
nước, đại lý thực hiện việc ghi sổ và thu nợ khi nợ đến hạn, sau khi đã trừ phần hoa
hồng được hưởng thì họ chuyển phần dư nợ còn lại cho bên ủy nhiệm.
Vào khoảng thế kỷ XIV – XV ngành công nghiệp ở Anh phát triển đã nâng cao
tầm quan trọng của các đại lý bao thanh toán. Khi đó, các đại lý bao thanh toán đã dần
tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho bên
ủy nhiệm để hưởng hoa hồng cao hơn. Với khoản hoa hồng được hưởng cao hơn trước,
các đại lý bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả nợ đúng
hạn cho người ủy nhiệm, và kể cả trong trường hợp người mua không trả nợ đúng hạn.
1

. Nguyễn Thanh Tú, Thông tin pháp luật dân sự, Một số vấn đề pháp lý của hoạt động bao thanh toán của tổ
chức tín dụng, [10/8/2013].

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

4

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Một số đại lý có đủ vốn họ bắt đầu cho người ủy nhiệm được ứng trước một phần tiền
dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai sẽ trả cho đại lý. Chính vì
cho ứng trước một phần tiền như vậy mà đại lý bao thanh toán được tính thêm phí hoa

tín dụng, [10/8/2013].

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

5

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
doanh thu từ hoạt động này tăng trưởng chậm hơn giai đoạn năm 2010 đến 2011. Tuy
nhiên, nhìn vào số liệu doanh thu của hoạt động này tăng trưởng dần trong 03 năm gần
đây đã thể hiện được vai trò của bao thanh toán đối với hoạt động mua, bán hàng hóa
ngày càng phổ biến hơn. Điều này cho thấy rằng hoạt động bao thanh toán ngày càng
trở nên phổ biến, được các tổ chức tín dụng quan tâm phát triển và các bên tham gia
giao dịch đã nhận ra được những lợi ích đáng kể từ hoạt động bao thanh toán.
1.1.2. Ở Việt Nam
Mặc dù hoạt động bao thanh toán đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và các
quốc gia phát triển đã thu được lợi nhuận khá lớn từ hoạt động này, nhưng mãi đến
năm 1990 hoạt động bao thanh toán mới bắt đầu manh nha tại Việt Nam, tuy nhiên
hoạt động này vẫn chưa có điều kiện để phát triển. Vì là một loại hình dịch vụ mới mẻ
đối với ngành tài chính Việt Nam nên các ngân hàng còn rất bỡ ngỡ với hoạt động bao
thanh toán. Vì vậy, đến năm 2004, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế hoạt
động bao thanh toán kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004
để hướng dẫn các ngân hàng thực hiện hoạt động bao thanh toán. Chính sự ra đời của
Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN đã làm tiền đề cho hoạt động bao thanh toán được
đưa vào hoạt động tại các ngân hàng và càng ngày hoạt động này càng được quan tâm
phát triển hơn.
Những tổ chức tín dụng đầu tiên thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam
là các chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài. Vào tháng 01/2005, Deutsche Bank

của Việt Nam như: Dệt may, da giày, gỗ, thủy, hải sản đông lạnh,…
Theo số liệu thống kê từ Tổ chức bao thanh toán quốc tế thì doanh thu từ hoạt
động bao thanh toán của các ngân hàng ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2012 như
sau: Năm 2010 là 65 triệu Euro, năm 2011 là 67 triệu Euro và đến năm 2012 là 61 triệu
Euro. Có thể thấy từ năm 2010 đến năm 2011, doanh thu từ hoạt động bao thanh toán
có sự tăng trưởng, tuy nhiên đến năm 2012 doanh thu từ hoạt động này có chiều hướng
giảm, có thể sự suy giảm này là do chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế chung. Mặc dù
doanh thu từ hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển mạnh,
chưa thể hiện hết những ưu điểm nổi trội của hoạt động này nhưng trên thực tế hoạt
động bao thanh toán ở nước ta đang có chuyển biến tích cực, điều này thể hiện qua số
lượng ngân hàng triển khai thực hiện hoạt động bao thanh toán ngày càng tăng, chứng
tỏ các ngân hàng cũng đã có sự quan tâm đến việc cung cấp loại hình tín dụng này.
1.2. Khái niệm về hoạt động bao thanh toán
Với lịch sử ra đời lâu dài nên khái niệm về hoạt động bao thanh toán cũng khá
đa dạng.
Theo các từ điển luật học, thuật ngữ bao thanh toán (factoring) thường được mô
tả là việc chuyển nhượng các khoản phải thu thương mại của người bán cho tổ chức
bao thanh toán (factor)3. Điều này đồng nghĩa với việc tổ chức tín dụng (tổ chức bao
thanh toán) mua khoản tiền phải thu của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (bên bán
hàng). Sau khi nhận được các khoản phải thu từ người bán, tổ chức tín dụng sẽ trao cho

3

. Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr. 225.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

7

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng

tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung

4

. Võ Đình Toàn, Giáo trình luật ngân hàng Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2005, tr. 226.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

8

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu,
thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”5.
Hoạt động bao thanh toán đã được mô tả một cách cụ thể để minh họa cho khái
niệm này, đồng thời giúp chúng ta hiểu hơn về hoạt động này:
Đầu tiên, bên bán hàng hóa sẽ chuyển giao cho bên bao thanh toán các khoản
phải thu phát sinh từ các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên bán và bên mua (con
nợ).
Sau đó, bên bao thanh toán sẽ thực hiện ít nhất 02 trong số các nghiệp vụ sau:
Tài trợ tài chính cho người bán hàng (cho vay, hoặc thanh toán trước các khoản phải
thu); quản lý giấy tờ, sổ sách kế toán liên quan đến khoản phải thu; thực hiện việc thu
nợ từ người mua; tiến hành các biện pháp phù hợp để giải quyết các hành vi gian lận
của người mua.
Sau cùng, bên mua hàng phải được thông báo chính thức bằng văn bản về việc
khoản phải thu đã được bao thanh toán6.
Bên cạnh Công ước Ottawa 1988, Tổ chức bao thanh toán quốc tế (FCI) cũng có
định nghĩa về hoạt động bao thanh toán như sau: “Bao thanh toán là môt loại hình dịch

thống nhất và để dễ dàng quản lý việc thực hiện hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam,
tại khoản 17 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu định nghĩa về bao
thanh toán như sau: “Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc
bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu
hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo
hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ”.
Tuy nhiên để mọi người dễ hiểu hơn và dễ dàng trong việc thực hiện hoạt đông
bao thanh toán, Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của Tổ chức tín dụng,
khái niệm bao thanh toán đã được giải thích rằng: “Bao thanh toán là một hình thức
cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản
phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng
thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa”.
Mặc dù hoạt động bao thanh toán được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau,
nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản về hoạt động bao thanh toán là hình thức
tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn, phát sinh từ các hoạt động sản xuất
kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, tóm lại đó là việc mua bán nợ. Tuy nhiên,
nhờ có sự chuyên môn hóa trong việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ,
phía tổ chức tín dụng có thể nâng cao khả năng thu hồi nợ và giảm đi chi phí thu hồi
nợ. Đối với bên bán hàng, sau khi đã bán các khoản phải thu cho tổ chức tín dụng, họ
không còn bận tâm đến việc thu nợ mà chỉ cần tập trung vào sản xuất kinh doanh. Từ
khái niệm nêu trên, hoạt động bao thanh toán ở Việt Nam cũng có những đặc điểm
riêng của nó.
1.3. Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán
Thứ nhất, hoạt động bao thanh toán chính là một hình thức cấp tín dụng ngắn
hạn của tổ chức tín dụng. Khi thực hiện quan hệ bao thanh toán, tổ chức tín dụng ứng
8

. Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb. Thống kê, Tp.Hồ Chí Minh, 2009, tr. 462.

Ngân hàng thương mại Nhà nước;
Ngân hàng thương mại cổ phần;
Ngân hàng liên doanh;
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
Ngân hàng nước ngoài được mở chi nhánh tại Việt Nam theo Luật các tổ chức
tín dụng;
Công ty tài chính;
Công ty cho thuê tài chính.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

11

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt
Nam và nước ngoài cung ứng hàng hóa và được thụ hưởng các khoản phải thu phát
sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận giữa bên bán và bên
mua trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Đối với Công ty cho thuê
tài chính, chỉ được thực hiện bao thanh toán đối với khách hàng là bên thuê của Công
ty cho thuê tài chính.
1.4. Phân loại bao thanh toán
Hiện nay bao thanh toán có nhiều loại, nhưng theo ý kiến người viết có 03 căn
cứ để phân loại bao thanh toán đó là: Theo khả năng đảm bảo quyền lợi của tổ chức tín
dụng, theo phương thức bao thanh toán, và theo phạm vi thực hiện bao thanh toán.

1.4.1. Theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng
Phân loại theo khả năng bảo đảm quyền lợi của tổ chức tín dụng bao gồm 02

1.4.2. Theo phương thức bao thanh toán
Phân loại bao thanh toán theo phương thức bao thanh toán bao gồm 03 loại bao
thanh toán, đó là: Bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức và đồng bao
thanh toán.
1.4.2.1. Bao thanh toán từng lần
Bao thanh toán từng lần là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các
thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán
hàng (khoản 1 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN). Tức là mỗi khi có khách hàng
có nhu cầu bao thanh toán tại một ngân hàng, thì phải làm đúng những thủ tục, quy
trình ký kết hợp đồng bao thanh toán.
Ví dụ: Khách hàng A muốn được ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản
phải thu phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa của mình thì khách hàng A phải làm
đúng những thủ tục mà ngân hàng B yêu cầu để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán.
Nếu như, khi hợp đồng bao thanh toán giữa ngân hàng B và khách hàng A đã chấm
dứt, khách hàng A lại muốn ngân hàng B bao thanh toán cho những khoản phải thu
phát sinh từ hợp đồng mua, bán hàng hóa khác thì khách hàng A phải bắt đầu những
thủ tục mới để ký kết 01 hợp đồng bao thanh toán mới với ngân hàng B.
1.4.2.2. Bao thanh toán theo hạn mức
Bao thanh toán theo hạn mức là đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa
thuận xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định (khoản 2 Điều 12 Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN).
Ví dụ: Khách hàng làm hồ sơ xin cấp hạn mức bao thanh toán gửi đến ngân
hàng, ngân hàng xem xét và cấp hạn mức bao thanh toán là 1 tỷ cho khách hàng đó.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

13


Bao thanh toán xuất – nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất
– nhập khẩu.
1.5. Phân biệt hoạt động bao thanh toán với một số hoạt động tín dụng khác của
ngân hàng

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

14

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Để hiểu rõ hơn về hoạt động bao thanh toán, người viết so sánh những điểm
khác nhau giữa hoạt động bao thanh toán với các hoạt động khác ngân hàng dựa trên
những quy định của pháp luật hiện hành. Người viết so sánh hoạt động bao thanh toán,
cho vay, bảo lãnh ngân hàng, và chiết khấu với nhau dựa trên các tiêu chí như: Khái
niệm, đối tượng, chủ thể, hình thức cấp tín dụng, và đối tượng bị đòi nợ.
 Khái niệm
Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản
phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán
hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (khoản 17 Điều
4 Luật các tổ chức tín dụng).
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (khoản 16 Điều 4
Luật các tổ chức tín dụng).
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết
với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho

phiếu, chứng chỉ tiền gửi).
 Về chủ thể
Bao thanh toán: Chủ thể của hoạt động này gồm có bên bao thanh toán và bên
được bao thanh toán. Bên bao thanh toán là tổ chức tín dụng được cấp phép để tiến
hành thực hiện hoạt động bao thanh toán bằng hình thức cấp tín dụng cho khách hàng
thông qua việc mua lại các khoản thu thương mại.
Cho vay: Chủ thể trong hoạt động cho vay gồm bên cho vay là tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và bên đi vay là cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều
kiện vay vốn do pháp luật quy định11.
Bảo lãnh ngân hàng: Gồm có bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh. Ở đây bên bảo lãnh thường là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài. Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài), cá nhân là người cư trú và tổ chức là người không cư trú được tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân
là người cư trú hoặc người không cư trú có quyền thụ hưởng bảo lãnh do tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành (các khoản 2, 3, 4, Điều 3 Thông tư
số 28/2012/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng).
9

. Khoản 1 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005.
. Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
11
. Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN.
10

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

16

Cho vay: Chính người ký hợp đồng vay với tổ chức tín dụng.

12

. Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 04/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

17

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Quy chế pháp lý về hoạt động bao thanh toán của Ngân hàng Thương mại
Bảo lãnh ngân hàng: Bên được bảo lãnh. Hoặc trong trường hợp bên được bảo
lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh thì đối tượng bị thu nợ là bên bảo lãnh.
Chiết khấu: Chính khách hàng ký hợp đồng chiết khấu với tổ chức tín dụng.
Tương tự như phần so sánh về chủ thể, trong cả 04 hoạt động này chỉ có hoạt
động bao thanh toán có đối tượng bị thu nợ là chủ thể không trực tiếp ký vào hợp đồng
với tổ chức tín dụng. Đối với ba hoạt động còn lại, đối tượng bị thu nợ chính là một
trong những người đã ký kết hợp đồng với tổ chức tín dụng. Qua những so sánh trên,
có thể thấy cả 04 hoạt động đều là những hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng,
nhưng nét đặc trưng của hoạt động bao thanh toán đó là một hình thức cấp tín dụng
ngắn hạn. Đối tượng của quan hệ bao thanh toán là những khoản phải thu phát sinh từ
hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong hợp đồng bao thanh toán chỉ có
khách hàng (bên bán hàng) và tổ chức tín dụng. Theo như thỏa thuận đã ký kết trong
hợp đồng bao thanh toán với tổ chức tín dụng, khách hàng sẽ được ứng trước một
khoản tiền theo giá trị đã thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch

toán, ngoài việc tiếp xúc với bên bán thì trong quá trình tiến hành thu các khoản phải
thu như trong hợp đồng mua, bán hàng hóa đã thỏa thuận, tổ chức tín dụng sẽ có cơ hội
tiếp xúc với bên mua, từ việc tiếp xúc đó, tổ chức tín dụng có cơ hội giới thiệu đến bên
mua những hoạt động của mình mà không phải tốn chi phí giới thiệu, quảng cáo về tổ
chức tín dụng, cũng như những sản phẩm mà tổ chức tín dụng muốn được khách hàng
biết đến.
1.6.1.2. Đối với bên bán hàng
Thứ nhất, bao thanh toán giúp cải thiện dòng lưu thông tiền tệ được nhanh hơn.
Lượng tiền mặt của doanh nghiệp sẽ tăng lên, giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
thuận lợi hơn. Bao thanh toán có thể được xem như là chuyển hóa các khoản phải thu
thành tiền mặt. Đối với bên bán hàng, tiền mặt rất cần thiết trong việc trữ hàng và cả
việc trả lương cho nhân viên. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng bao thanh toán, tổ chức tín
dụng đã giúp cho bên bán tránh được sự thiếu hụt tiền mặt tạm thời trong khoảng thời
gian từ lúc giao hàng cho đến hạn thanh toán như đã thỏa thuận. Do đó, hoạt động sản
xuất, kinh doanh của bên bán không bị ngưng trệ vì phải chờ đợi bên mua thanh toán
tiền mua hàng.
Thứ hai, bên bán hàng sẽ giảm được chi phí, công sức quản lý trong việc theo
dõi sổ sách. Những công việc như quản lý nợ, thu nợ,… thay vì bên bán hàng phải theo
dõi, quản lý, thì khi tiến hành giao dịch bao thanh toán, những công việc này sẽ được
chuyển giao cho đơn vị bao thanh toán, vì vậy mà bên bán hàng sẽ giảm được chi phí,
công sức trong việc quản lý sổ sách.
Thứ ba, bao thanh toán giúp cho bên bán hàng có nguồn tài chính mới mà
không phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng. Bởi vì khi đi vay ở ngân hàng thì đến

GVHD: Ngụy Ngọc Anh

19

SVTH: Nguyễn Thị Kim Hằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status