Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt - Pdf 74

Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Nam Việt
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt, tên giao dịch quốc tế là
Nam Việt Commercial Joint Stock Bank, tên gọi tắt là Navibank có hội sở chính
nằm ở 39-41-43 bến Chương Dương, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt trước đây được gọi là
Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn sông Kiên được thành lập năm
1995với số vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng. Khi mới thành lập hoạt động
chủ yếu của ngân hàng là huy động tiền gửi từ dân cư và cho vay trong lĩnh vực
nông nghiệp, phạm vi hoạt động chỉ giới hạn trong tỉnh Kiên Giang. Sau 9 năm
hoạt động, tới năm 2004 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn sông Kiên
thực sự gặp khó khăn khi vốn điều lệ giảm đi một nửa còn 1.5 tỷ đồng, nợ quá hạn
ngày càng lớn, ngân hàng có nguy cơ phá sản và phải ở trong tầm kiểm soát đặc
biệt. Sau đó các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Công ty cổ
phần liên hiệp vận chuyển Gemadept, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân
Tạo, Công ty cổ phần phát triển đô thị Kinh Bắc… tham gia đầu tư và chuyển
đổi mô hình hoạt động từ ngân hàng nông thôn thành ngân hàng đô thị, từ đó
phạm vi hoạt động của ngân hàng mới mở rộng ra các tỉnh phía Nam. Đến năm
2005 ngân hàng mới hồi phục và bắt đầu có lãi. .
Năm 2006 đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của ngân hàng
khi chuyển trụ sở từ Kiên Giang lên thành phố Hồ Chí Minh, trụ sở mới được
đặt tại số 39-41-43 bến Chương Dương và đổi tên giao dịch thành Ngân hàng
thương mại cổ phần Nam Việt. Ngày 28-9, NHTMCP Nam Việt đã chính thức
khai trương hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vai trò là một
Ngân hàng đô thị với số vốn điều lệ là 1000 tỷ đồng. Chiến lược của Navibank
là sẽ trở thành một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam,
hoạt động đa năng với dịch vụ đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, mạng lưới
kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý chuẩn mực
quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến. Đối tượng

của ngân hàng bao gồm cả các khoản tiền gửi của các tổ chức tín dụng và tiền đi
vay của các tổ chức này tuy nhiên chủ yếu là các khoản tiền gửi. Các khoản
tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại ngân hàng thường để bão lãnh cho
khách hàng vay vốn tại Navibank.
Từ khi chính thức trở thành ngân hàng đô thị Navibank đã phát triển
không ngừng, trong 3 năm qua thì hoạt động huy động nợ ngân hàng luôn
tăng trưởng ở mức cao, chi tiết về mức tăng trưởng nợ qua các năm và cơ cấu
huy động nợ được thể hiện chi tiết ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Cơ cấu huy động nợ
Đơn vị tính: triệu đồng
ST
T
Tiêu chí
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số dư
Tỷ
trọng Số dư
Tỷ
trọng Số dư
Tỷ
trọng
Theo đối tượng
505,01
8 100.00%
9,025,70
8 100.00% 9,574,311 100.00%
1 Cá nhân
146,65
7 29.04% 3,165,818 35.08%
4,976,89

3 73.16%
2 Chi nhánh Kiên Giang 24,847 4.92% 116,438 1.29% 216,681 2.26%
3 Chi nhánh Hà Nội
120,39
6 23.84% 2,150,845 23.83% 1,278,712 13.36%
4 Chi nhánh Hải Phòng 0 0.00% 210,066 2.33% 455,298 4.76%
5 Chi nhánh Đà Nẵng 0 0.00% 260,079 2.88% 466,601 4.87%
6 Chi nhánh Cần Thơ 0 0.00% 46,994 0.52% 152,846 1.60%
Nguồn: báo cáo thường niên 2006, 2007 và 2008của Navibank
2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
a. Hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các
hoạt động sử dụng vốn của Navibank . Đối tượng cho vay của Navibank là các
khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng có
nhu cầu vay vốn. Trong hoạt động cho vay thì đối tượng khách hàng
doanh nghiệp chiếm dư nợ cho vay lớn nhất. Nếu xét theo thời hạn cho vay, các
khoản vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng cao trong những năm qua. Đối với
khách hàng cá nhân Navibank cung cấp các khoản vay sau:
- Cho vay mua xe ô tô;
- Cho vay mua bất động sản;
- Cho vay mua nhà, đất dự án;
- Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà;
- Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh hộ gia đình;
- Cho vay trung hạn hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh hộ gia đình;
- Cho vay đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị;
- Cho vay tiêu dùng;
- Cho vay du học;
- Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi;
- Cho vay tín chấp đối với cán bộ quản lý;
Đối với khách hàng doanh nghiệp Navibank cung cấp cho khách hàng các

trọng Số dư
Tỷ
trọng
Theo thành phần kinh tế
354,25
5 100.00%
4,363,44
6 100.00%
5,474,55
9
100.00
%
1 Cá nhân 159,698 45.08% 2,439,378 55.90% 2,302,127 42.05%
2 Tổ chức kinh tế
194,55
7 54.92% 1,924,068 44.10% 3,172,432 57.95%
Theo thời hạn
354,25
5 100.00%
4,363,44
6 100.00%
5,474,55
9
100.00
%
1 Ngắn hạn 227,007 64.08% 1,638,836 37.56% 1,961,766 35.83%
2 Trung dài hạn 127,248 35.92% 2,724,610 62.44% 3,512,793 64.17%
Theo đơn vị
354,25
5 100.00%

của ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng đã thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Quản lý nợ và khai thác tài sản Nam Việt ngân hàng nhằm đa dạng hóa
hoạt động trên thị trường tài chính. Năm 2007, số dư góp vốn kinh doanh của
ngân hàng tăng trưởng 132.49% so với 2006 và đạt 229,211 triệu đồng.
Hiện nay Navibank đang góp vốn vào 13 doanh nghiệp với số dư đầu tư,
góp vốn, mua cổ phần tính tới cuối năm 2008 là 394,738 triệu đồng,
tăng 72.22% so với năm 2007 trong đó ngân hàng chuyển vốn cho Công ty
Quản lý nợ và Khai thác tài sản Nam Việt ngân hàng 47,000 triệu đồng.
c. Hoạt động bảo lãnh
Hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt trải qua
ba năm đi vào thực hiện song chưa phải là hoạt động mang lại nhiều doanh thu
cho ngân hàng, doanh thu từ hoạt động bảo lãnh chiếm chưa tới 1% so với
tổng doanh thu. Ngân hàng bảo lãnh cho khách hàng trong những việc cụ thể là:
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh tham gia dự thầu, bảo
lãnh đảm bảo thanh toán. Tổng giá trị bảo lãnh năm 2007 đạt gần 100 tỷ đồng,
tăng gần 25% so với tổng giá trị bảo lãnh năm 2006, doanh thu từ hoạt động
bảo lãnh đạt 250 triệu đồng. Năm 2008 tổng giá trị bảo lãnh đạt gần 100 tỷ
đồng, tăng gấp 25 lần so với tổng giá trị bảo lãnh năm 2007 trong đó tỷ trọng
nghiệp vụ bảo lãnh vay vốn vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất chiếm hơn70% tổng
giá trị bảo lãnh. Doanh thu từ hoạt động bảo lãnh năm 2008 đạt gần 1,600 triệu đồng,
gấp 6.4 lần năm 2007 song doanh thu từ hoạt động bảo lãnh mới chỉ chiếm
0.12% tổng doanh thu của ngân hàng.
2.1.2.3 Các hoạt động khác
a. Hoạt động thanh toán
Navibank cung cấp cho khách hàng mọi dịch vụ thanh toán nội địa và
quốc tế tiện ích, nhanh chóng, linh hoạt. Nhu cầu thanh toán không dùng tiền
mặt của khách hàng đang dần tăng lên, đón đầu nhu cầu đó của thị trường
Navibank cung cấp các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt cho khách
hàng bằng việc cung cấp các loại thẻ: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng. Navibank cũng
đã xây dựng được hệ thống máy ATM ở tất cả các tỉnh thành có chi nhánh của

Nguồn: báo cáo thường niên 2006, 2007 và 2008 của Navibank
Biểu đồ 2.3 cho thấy doanh thu trong cả ba năm của Navibank đều tăng
song đều thấp hơn kế hoạch đạt ra, chỉ đạt từ 80-90% so với kế hoạch.
Năm 2007 do điều kiện kinh tế thuận lợi doanh thu tăng 762.60% so với năm
2006 đạt 564,272 triệu đồng nhưng tới năm 2008 do những biến động bất ổn
của nền kinh tế thế giới cũng như trong khu vực khiến cho tốc độ tăng doanh
thu chỉ còn 127.88% và chỉ đạt 89.46% kế hoạch đặt ra. Song kết quả trên
cũng cho thấy những cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ và nhân viên ngân hàng
trong việc khai thác thị trưởng, mở rộng thị phần và đưa hình ảnh của ngân hàng
tới đông đảo dân chúng. .
Cùng với sự gia tăng về doanh thu là sự gia tăng về chi phí, chi tiết được
thể hiện ở biểu đồ dưới đây. .
Biểu đồ 2.4 Chi phí phát sinh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
từ năm 2006 tới năm 2008
Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn: báo cáo thường niên 2006, 2007 và 2008 của Navibank
Chi phí ngân hàng liên tục tăng trong 3 năm, năm 2007 chi phí tăng
1154.59% so với năm 2006 và năm 2008 tăng 163.04% so với năm 2007, tốc độ
tăng này cao hơn so với tốc độ tăng doanh thu.Trong chi phí của ngân hàng,
chi phí trả lãi là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất, ngoại trừ năm 2006 do
ngân hàng chuẩn bị cải tổ nên những chi phí ngoài lãi lớn hơn. Năm 2007,
chi phí trả lãi là 345,390 triệu đồng chiếm 74.88% so với chi phí trả lãi và
năm 2008 thì chi phí trả lãi gấp 2.86 lần so với năm 2007 và chiếm tới 81.32%
chi phí của ngân hàng. Đó là do trong quý II và quý III năm 2008 xảy ra
cuộc cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng khiến cho lãi suất tiền gửi tăng vọt
làm chi phí trả lãi bị đẩy lên cao. Sự gia tăng quá lớn về chi phí sẽ khiến cho lợi
nhuận của ngân hàng bị giảm xuống. .
Biểu đồ 2.5 Tổng hợp doanh thu- chi phí- lợi nhuận trước thuế của
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006 tới năm 2008
Đơn vị tính: triệu đồng

gia tăng của tổng tài sản đáng chú ý nhất là sự gia tăng của tài sản có sinh lời:
năm 2006 tài sản có sinh lời chiếm 81.50% tổng tài sản thì năm 2008 tài sản có
sinh lời tăng gấp 10.92 lần so với năm 2006 và hiện chiếm tới 91.92%
tổng tài sản. Sự gia tăng tài sản có sinh lời khiến ngân hàng có khả năng
tạo được doanh thu lớn hơn song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn vì vậy cần phải
quản lý chặt chẽ bộ phận tài sản này. .
Để hiểu rõ hơn về hoạt động của ngân hàng điều rất cần thiết là theo dõi
các chỉ số tài chính, một số chỉ tiêu tài chính chính của Navibank được thể hiện
trong bảng tổng hợp sau :
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp chỉ tiêu tài chính
STT Chỉ tiêu tài chính
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Trung bình
ngành
1
Hiệu suất sử dụng tổng tài
sản 5.81% 5.70% 11.79%
2
Tỷ lệ lợi nhuận sau
thuế/doanh thu
12.26
% 5.11% 1.58%
3 ROA 2.54% 1.04% 0.67% 1.84%
4 ROE 5.50% 17.79% 7.13% 30.21%
Nguồn: báo cáo thường niên 2006, 2007 và 2008 của Navibank và

nên dễ chịu sự tác động bởi yếu tố bên ngoài.Việc nghiên cứu và phát triển các
dịch vụ mới còn nhiều hạn chế, chưa được đầu tư đúng mức. Công tác kế hoạch,
định hướng chiến lược và chính sách kinh doanh vẫn còn bất cập, chưa dự báo
sát thực tế.
2.2 Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Nam Việt
Hiện nay tất cả các NHTM dù lớn hay nhỏ, hoạt động lâu năm hay
mới thành lập đều tham gia vào cuộc cạnh tranh giành thị trường. Muốn tồn tại
trong thị trường đó các ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt
động, kiểm soát rủi ro và đa dạng hóa dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Việc
nghiên cứu và phát triển thêm các hoạt động mới cũng là mối quan tâm của
nhiều NHTM để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Bao thanh toán là hoạt động được giới
chuyên môn đánh giá cao vì những lợi ích mà nó mang lại cho cả khách hàng
lẫn ngân hàng. Nó cũng không còn xa lạ với nhiều quốc gia và đang dần khẳng
định vai trò quan trọng của mình trong hoạt động xuất- nhập khẩu. Nhận thức
được điều đó nhiều NHTM Việt Nam đã sớm phát triển bao thanh toán ngay sau
khi có Quy chế hoạt động bao thanh toán do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Là
một thành viên chính thức của thị trường trong bốn năm vừa qua, NHTMCP
Nam Việt sớm gặt hái được nhiều thành công song việc mở rộng thị trường cho
các hoạt động truyền thống ngày càng khó khăn do sự cạnh tranh nên việc tìm
thị trường cho hoạt động mới là điều Navibank luôn hướng tới. Xét tổng thể quá
trình phát triển của ngân hàng cùng với định hướng phát triển theo hướng đa
dạng hóa, hiện đại hóa của ngân hàng, bao thanh toán là một hoạt động đầy tiềm
năng với Navibank.
Phát triển bao thanh toán Navibank có điều kiện đa dạng hóa hoạt
động, có điều kiện khai thác một thị trường rộng mở, đầy tiềm năng, tăng doanh
thu cho ngân hàng. Cụ thể khi phát triển bao thanh toán Navibank có thể phát
triển thêm các hoạt động, dịch vụ sau:
- Tài trợ cho bên bán bao gồm các khoản vay và thanh toán trước;
- Quản lý các tài khoản liên quan tới các khoản phải thu;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status