Đọc hiểu Vịnh khoa thi Hương - Pdf 30

1. Trần Tế Xương (xem bài Thương vợ).
Tú Xương là một người rất lận đận trong chuyện thi cử. Ông thi nhiều lần và đều hỏng, chỉ đỗ đến tú tài.
Ông lại sống và thời buổi “mưa Âu gió Mĩ”, thời kì khủng hoảng của những quan hệ đạo đức truyền
thống. Những cay đắng của số phận riêng cùng với những điều ngang tai trái mắt của cuộc sống thị thành
đã khiến Tú Xương trở thành một nhà thơ trào phúng tiêu biểu của văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.
2. Vịnh khoa thi Hương là bài thơ trữ tình trào phúng. Qua việc tái hiện cảnh trường thi bằng một số hình
ảnh đậm màu sắc châm biếm, tác giả đã thể hiện niềm đau xót, cay đắng của một trí thức nho học phải
chứng kiến cảnh suy vong, tàn lụi của nền học vấn Hán học có lịch sử ngàn năm cùng nền văn hoá
phương Đông.
Bài thơ thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật.
- Hai câu đề : giới thiệu về kì thi đặc biệt hai trường “thi lẫn”.
- Hai câu thực, luận : cảnh trường thi với đầy đủ các thành phần cốt yếu, từ sĩ tử, quan trường đến khách
mời. Tất cả đều gợi tả một cảnh tượng lộn xộn, xô bồ.
- Hai câu kết : tâm sự chua xót của nhà thơ trước hiện thực khoa thi Hương.
3. Đọc chậm, giọng trào phúng, chua xót.
II - Kiến thức cơ bản
Thực dân Pháp tạm thời hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam, văn hoá phương Tây tràn vào lấn át văn
hoá truyền thống. Hán học suy vong, các nhà nho đua nhau “vứt bút lông đi” đổi sang cầm cây bút chì để
kiếm sống. Chuyện thi cử của Nho học trở thành trò hề, cảnh tượng các kì thi vô cùng thảm hại. Nguyễn
Khuyến và Tú Xương đều là những nhà nho có lòng tự trọng, họ đều rất đau lòng và cay đắng ghi lại điều
đó trong một loạt bài thơ – trong đó có Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương.
Bài thơ có hình thức thất ngôn bát cú, nhưng Tú Xương đã bình dân hoá. Với những từ ngữ và hình ảnh
nôm na, suồng sã, tác giả đã thay thế cái vẻ ngoài vốn rất nghiêm trang của thơ luật Đường thành một bài
thơ trào phúng có giọng điệu bình dân cay nghiệt. Mối quan hệ giữa thể loại và ngôn ngữ thơ có sự tương
ứng với mục đích có vẻ rất trang trọng (tuyển người tài ra giúp nước) và hình thức lộn xộn, bệ rạc của kì
thi Hương. Bài thơ thể hiện nỗi đau xót của nhà thơ trước hiện thực Hán học lụi tàn. Nỗi đau ấy từng
được Nguyễn Khuyến thể hiện khi vẽ lên hình ảnh :
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng.
(Hội Tây)
Tú Xương thuộc lớp nhà nho theo nghiệp khoa cử cuối cùng của xã hội phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỉ

trong mối quan hệ tương đồng. Đối giữa hai câu thực và hai câu luận : sĩ tử, quan trường (nhân vật chính
của kì thi) >< quan sứ, mụ đầm (khách mời) là sự đối ngẫu trong quan hệ tương phản. Bên nhân vật chính
thảm hại, nhếch nhác bao nhiêu thì bên nhân vật phụ, bọn quan thầy xâm lược lại long trọng, kẻ cả bấy
nhiêu. Sự đối lập này làm nổi bật nỗi nhục nhã ê chề của những trí thức Nho học. Có ý kiến cho rằng:
“Đây là một nỗi nhục lớn đối với người trí thức Việt Nam bởi tại chốn tuyển chọn nhân tài cho đất Việt,
cái bóng của mấy tên thực dân cướp nước đã trùm lên tất cả”. Lọng của quan sứ và váy của mụ đầm đã
bao trùm cả lên trường thi. Là một nhà nho có tài, có tự trọng và có ý thức dân tộc, hơn ai hết, Tú Xương
cảm nhận rất rõ nỗi nhục nhã ê chề ấy. Các nhà nho Việt Nam cả đời dùi mài kinh sử, để đến được kì thi
ấy, biết bao nhiêu người vợ như bà Tú đã phải lam lũ kiếm sống, phải bươn chải cả cuộc đời. Chỉ với một
vài hình ảnh đặc tả vậy thôi, Tú Xương đã tái hiện cảnh tượng của kì thi Hương Đinh Dậu, qua đó khái
quát bộ mặt xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX.
Kết thúc bài thơ là tâm sự của ông Tú. Câu thơ mang giọng điệu cay đắng, xót xa và tha thiết :
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Là con người biết trọng danh dự, với tấm lòng lo nước thương đời, ông Tú muốn đánh thức ý thức dân tộc
trong con người Việt Nam, nhất là những người tài, những người có trách nhiệm và có khả năng cứu
nước, cứu đời.
Giọng điệu chính của bài thơ là giọng điệu trào phúng, nhưng ở hai câu kết, tác giả đã dùng giọng điệu trữ
tình. Vịnh khoa thi Hương là bài thơ trữ tình – trào phúng tiêu biểu cho phong cách thơ trào phúng Tú
Xương : chua chát, sâu cay và đầy trăn trở. Bài thơ thể hiện tấm lòng của ông đối với dân tộc.
III - liên hệ


Từ vua Minh Mạng (1820 – 1840) trở đi, toàn quốc có 7 trường thi. Tính từ trong ra, tính từ Nam đến
Bắc, thì 7 trường thi đó là những trường :
1. Trường thi Gia Định (Sài Gòn)
2. Trường thi Bình Định
3. Trường thi Thừa Thiên
4. Trường thi Nghệ An
5. Trường thi Thanh Hoá


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status