Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 36 (2010 – 2014)
Đề tài:
CHẾ ĐỊNH HỘI THẨM NHÂN DÂN - THỰC TRẠNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Nam Phương
Nguyễn Văn Trạng
Bộ môn, Luật Hành Chính
MSSV: 5106015
Lớp: Luật Thương Mại 1
K36
Cần thơ, 12/2013
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
…………………………………………
Cần Thơ, ngày…..tháng…..năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
GVHD: Nguyễn Nam Phương
2
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
……………….
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………………………1
1.Lý do chọn đề tài……………………………………………………………………….1
2.Mục đích nghiên cứu…………………………………………………………………...2
3.Phạm vi nghiên cứu…………………………………………………………………….2
4.Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………....2
5.Kết cấu luận văn………………………………………………………………………..2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN3
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG………………………………………………………………..3
1.1.1 Khái niệm về Hội thẩm nhân dân…………………………………………………3
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định Hội thẩm nhân dân ở nước ta
qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992………………………………………....4
1.1.3 Địa vị pháp lý của Hội thẩm nhân dân…………………………………………....6
1.1.4 Vai trò của Hội thẩm nhân dân…………………………………………………....8
1.4.1.1 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc đảm bảo dân chủ trong hoạt động
xét xử của Tòa án……………………………………………………………………………………9
1.4.1.2 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp
luật…………………………………………………………………………………………………..10
1.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HỘI THẨM NHÂN DÂN……………………………………11
1.2.1 Nguyên tắc xét xử ở Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân………………...11
1.2.2 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp
luật………………………………………………………………………………………12
1.2.3 Nguyên tắc Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán…………………………...14
1.2.4 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số…………………..15
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HỘI
THẨM NHÂN DÂN………………………………………………………17
2.1 NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN………………17
3.1.2 Nhưng hạn chế trong hoạt động xét xử của Hội thẩm nhân dân……………35
3.1.2.1 Hạn chế trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án do làm kiêm nhiệm…………….....35
3.1.2.2 Hạn chế về trình độ pháp lý và năng lực xét xử……………………………….....36
3.1.2.3 Hạn chế về sự lựa chọn nhân sự để bầu Hội thẩm nhân dân…………………..39
3.1.2.4 Hạn chế trong việc quản lý Hội thẩm nhân dân………………..……………….40
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA HỘI
THẨM NHÂN DÂN………………………………………………………………..41
3.2.1 Tạo mọi điều kiện giúp Hội thẩm nhân dân nghiên cứu tốt hồ sơ vụ án...41
GVHD: Nguyễn Nam Phương
5
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
3.2.2 Nâang cao trình độ pháp lý và bồi dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân
dân...............................................................................................................................42
3.2.3 Mở rộng các đối tượng tham gia Hội thẩm………………………………….44
3.2.4 Nâng cao công tác quản lý đối với Hội thẩm nhân dân…………………….45
3.2.5 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân
dân…………………………………………………………………………………….46
KẾT LUẬN…………………………………………………………………………...49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
GVHD: Nguyễn Nam Phương
6
gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, ngoài những đóng góp tích cực cho hoạt động xét xử
thì cũng có những hạn chế nhất định, về trình độ pháp ý cũng như năng lực xét xử và ý
thức trách nhiệm chưa cao ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động xét xử. Để khắc phục
những hạn chế trên cần phải có những giải pháp thiết thực tạo điều kiện để Hội thẩm nhân
dân làm tốt vai trò của mình nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án. Chính vì
vậy, người viết đã chọn đề tài “Chế định Hội thẩm nhân dân - thực trạng và giải pháp
hoàn thiện” để làm luận văn tốt nghiệp.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
7
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về chế định Hội thẩm nhân dân,
người viết nêu lên những thực tiễn còn vướng mắc khi áp dụng luật làm ảnh hưởng đến
chất lượng hoạt động của Hội thẩm nhân dân, và cuối cùng người viết đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm nhân dân, góp phần hoàn thiện hơn
hệ thống pháp luật Việt Nam về chế định Hội thẩm nhân dân trong công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu
Theo quy định của pháp luật hiện hành ghi nhận hai chế định Hội thẩm ở nước ta : Hội
thẩm nhân dân và Hội thẩm quân nhân, trong giới hạn đề tài người viết tập trung nghiên
cứu một số vấn đề về chế định Hội thẩm nhân dân dựa trên Pháp lệnh Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2011 và một số văn bản có liên quan
khác. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài luận văn và điều kiện tiếp cận còn hạn chế, người
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG
Ở nước ta, Hội thẩm Tòa án nhân dân là một chế định rất quan trọng trong quá trình
xét xử của Tòa án đã được quy định trong Hiến pháp. Sự hình thành và phát triển về tổ
chức và hoạt động của Hội thẩm đã góp phần to lớn vào công tác xét xử của Tòa án, nhằm
bảo đảm tính khách quan và chính xác của bản án, nhất là trong giai đoạn hướng tới mục
tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Chế định
Hội thẩm nhân dân được hình thành từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu hình thành nền
dân chủ nhân dân. Nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của tòa án mà đại diện là Hội
thẩm nhân dân, người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. Tuy nhiên,
đây chỉ là giai đoạn định hình của chế định Hội thẩm nhân dân, định hình về vai trò của
người đại diện nhân dân trong việc xét xử của tòa án. Phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử
của nước nhà, chế định Hội thẩm nhân dân mới được cũng cố và hoàn thiện.
1.1.1 Khái niệm về Hội thẩm nhân dân
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm
2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Hội thẩm nhân dân là: “Người được bầu theo quy định
của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”. Với
quy định của pháp luật, để một người có thể được bầu làm Hội thẩm nhân dân, đòi hỏi
phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Hội thẩm nhân dân phải là những công dân Việt
Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có kiến thức pháp lý, có sức khỏe đáp
ứng những tiêu chuẩn của người Hội thẩm và được nhân dân tin tưởng, tín nhiệm thì sẽ
được bầu làm Hội thẩm nhân dân.
Cũng theo quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 (sửa
đổi bổ sung năm 2011) thì: Hội thẩm Tòa án nhân dân ở nước ta gồm có: Hội thẩm nhân
dân Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân cấp huyện (gọi chung
là Hội thẩm nhân dân). Có thể nói Hội thẩm nhân dân là những cá nhân có uy tín trong xã
hội, có đủ điều kiện để trở thành Hội thẩm nhân dân, được Hội đồng nhân dân bầu ra để
cùng Thẩm phán thực hiện hột động xét xử của Tòa án.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
Đến ngày 22-5-1950 Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL về việc
cải cách bộ máy tư pháp và pháp luật tố tụng thì Phụ thẩm nhân dân được đổi tên thành
Hội thẩm nhân dân. Với Sắc lệnh này thì quyền hạn của Hội thẩm nhân dân được mở rộng
hơn so với trước đây (Sắc lệnh 13/SL). Trước đây, Phụ thẩm nhân dân chỉ được tham gia
xét xử trong vụ án hình sự, thì với Sắc lệnh 85/SL Hội thẩm nhân dân còn tham gia cả các
vụ án dân sự. Hơn nữa, trước đây Phụ thẩm nhân dân không được đọc hồ sơ trước thì giờ
đây Hội thẩm nhân dân được đọc hồ sơ và có quyền biểu quyết.2
Hiến pháp 1959 ra đời đã khẳng định rõ hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc tham
gia vào việc xét xử của Tòa án. Quy định tại Điều 99 Hiến pháp 1959 “Việc xét xử ở các
1
2
Điều 17 Sắc lệnh 13/SL ngày 24-1-1946.
Điều 3 Sắc lệnh 85/SL ngày 22-5-1950.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
10
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử
Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán”. Đây là một điểm rất tiến bộ so với
Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1946 chỉ quy định việc xét xử có Phụ thẩm nhân dân tham gia
chứ không quy định quyền hạn của Phụ thẩm so với Thẩm phán. Thẩm phán là người xét
xử chuyên nghiệp, được đào tạo chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao hơn Hội
thẩm nhân dân rất nhiều nhưng lại ngang quyền với Thẩm phán trong việc xét xử đều này
GVHD: Nguyễn Nam Phương
11
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
của Hiến pháp 1980. Về tổ chức hệ thống cơ quan Tòa án được quy định tại Hiến pháp
1992 và được cụ thể hóa bằng Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992. Theo Luật tổ chức Tòa
án nhân dân năm 1992 đối với các Hội thẩm nhân dân thì kết hợp giữa hai chế độ cử và
bầu. Việc bầu Hội thẩm nhân được thực hiện ở Tòa án nhân dân địa phương và việc cử
Hội thẩm nhân dân được thực hiện ở Tòa án nhân dân tối cao.
Ngày 14-5-1993 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh Thẩm phán và
Hội thẩm Tòa án nhân dân, Pháp lệnh này đã đã quy định về tiêu chuẩn, chế độ, nhiệm vụ,
quyền hạn, thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân. Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 1993 đã đánh dấu sự phát triển mới của chế định Hội
thẩm nhân dân. Vai trò xét xử của thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngày càng được coi
trọng cho nên những quy định về Thẩm phán và Hội thẩm được tách ra và quy định riêng
trong một pháp lệnh.
Chế định Hội thẩm nhân dân ngày càng được hoàn thiện theo thời gian. Dựa trên nền
tảng của Luật tổ chức Tòa án năm 1992 và Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
năm 1993, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002. Theo
Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng thực hiện hai chế độ bầu và cử đối với Hội thẩm
giống như Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 1993 nhưng chế độ bầu Hội
thẩm nhân dân được thực hiện đối với các Tòa án nhân dân địa phương. Chế độ cử Hội
thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Tòa án quân sự quân khu và tương đương, các
Tòa án quân sự khu vực.4 Qua đó thấy rằng việc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao
pháp lý của Hội thẩm được quy định cụ thể hơn trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2002, tại Điều 5 quy định: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật”
Các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính đều ghi
nhận nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia và Hội thẩm
nhân dân được xác định là một trong những người tiến hành tố tụng tại Tòa án. Khi được
phân công giải quyết vụ án thì Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án
trước khi mở phiên Tòa; tham gia xét xử các vụ án theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ án
(riêng đối với vụ án hình sự thì Hội thẩm có thể tham gia xét xử theo thủ tục phúc thẩm
trong trường hợp cần thiết); tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề
thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những hành vi và quyết định của mình. Về số lượng Hội thẩm nhân dân tham gia Hội
đồng xét xử, pháp luật tố tụng quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 1
Thẩm phán và 2 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì
Hội đồng xét xử có thể gồm 2 Thẩm phán và 3 Hội thẩm . Về nguyên tắc xét xử, Điều 6
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “Tòa án xét xử tập thể và quyết định
theo đa số”
Với các quy định nêu trên thì Hội thẩm có địa vị pháp lý và vai trò quan trọng trong
công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm Hội thẩm chiếm đa số trong Hội
đồng xét xử luôn luôn là 2/3 hoặc 3/5 và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm
phán khi ra các phán quyết về vụ án. Như vậy, khi xét xử nếu ý kiến biểu quyết của các
Hội thẩm là giống nhau và khác với ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của Hội đồng
xét xử phải theo ý kiến của các Hội thẩm theo nguyên tắc đa số, mặc dù là người xét xử
có tính chất chuyên nghiệp thì phẩm phán cũng chỉ có quyền bảo lưu ý kiến của mình và
đề nghị Tòa án cấp trên xem xét.
Nhận thức rõ địa vị và vai trò quan trọng của Hội thẩm trong công tác Tòa án, cũng
như yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng đội ngũ Hội thẩm bảo đảm về tiêu chuẩn theo
quy định của pháp luật và đủ về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng yêu cầu giải quyết, xét
xử các loại vụ án, thời gian qua trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình, Tòa án
GVHD: Nguyễn Nam Phương
hợp lý. Mặt khác, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử làm tăng
cường mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân, thông qua Hội thẩm nhân dân công tác xét
xử của Tòa án đến với nhân dân giúp nhân dân hiểu rõ hơn về hoạt động xét xử của Tòa án.
Cũng thông qua Hội thẩm, Tòa án nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình cảm
của nhân dân. Một phán quyết của Tòa án có thể nhận được sự đồng tình của nhân dân,
nhưng cũng có thể bị phản ứng, thậm chí là phản ứng gay gắt của dư luận. Như vậy, công
tác xét xử của Tòa án vừa góp phần nâng cao tinh thần tự giác, tôn trọng và bảo vệ pháp
luật của nhân dân, lại vừa chịu sự giám sát của nhân dân. Mặt khác, khi tham gia xét xử
Hội thẩm sẽ giúp Tòa án thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
trong nhân dân. Là người trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án, Hội thẩm sẽ là
những người giúp Tòa án tuyên truyền về kết quả xét xử; phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp
GVHD: Nguyễn Nam Phương
14
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
luật trong quá trình giải quyết vụ án, từ đó góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục ý thức pháp luật của công dân tại nơi Hội thẩm làm việc hoặc sinh sống.
Chính những điều này đã tạo nên một vai trò rất quan trọng của Hội thẩm nhân dân
trong việc tham gia xét xử các vụ án, và vai trò đó chỉ được thể hiện cụ thể khi Hội thẩm
nhân dân thực hiện nhiệm vụ của mình là tham gia xét xử theo sự phân công của Chánh
án nơi Hội thẩm được bầu.
1.4.1.1 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc bảo đảm dân chủ trong hoạt động
xét xử của Tòa án
Theo quy định tại Điều 127 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
được nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Bên cạnh đó, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân giúp cho việc xét xử được chính xác,
khách quan và phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo cho phán
quyết của Tòa án được được hợp tình hợp lý. Vì khi được bầu làm Hội thẩm nhân dân,
Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất ở cơ quan, đơn vị cơ sở của mình,
nên Hội thẩm hiểu sâu hơn tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nắm bắt được
dư luận xã hội và với vốn hiểu biết thực tế từ kinh nghiệm cuộc sống và sự hiểu biết về
phong tục, tập quán ở địa phương, Hội thẩm nhân dân có thể phản ánh một cách khách
quan cách nhìn nhận về sự việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân chứ không
phải từ góc độ của một luật gia thuần túy.5 Bên cạnh đó, Hội thẩm nhân dân bổ sung cho
thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán
quyết đúng pháp luật, hợp tình, hợp lý, được xã hội đồng tình và ủng hộ.
1.4.1.2 Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Trong hoạt động tư pháp, xét xử được coi là khâu trung tâm có vai trò quyết định bởi
hoạt động xét xử bao giờ cũng gắn liền với Tòa án nhân danh Nhà nước ra một quyết định
hoặc một bản án bảo vệ lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, giáo dục công dân tuân thủ pháp luật. Tòa án có thể thực hiện việc giáo dục
pháp luật bằng nhiều hình thức, nhưng tập chung nhất và quan trọng nhất vẫn là giáo dục
qua hoạt động xét xử. Giáo dục pháp luật qua hoạt động xét xử được ghi nhận trong Luật
tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 Điều 1, bằng hoạt động của mình “ Tòa án giáo dục
cho mọi người ý thức tôn trọng pháp luật, rèn luyện thói quen tuân thủ pháp luật, cần làm
cho mọi người tin rằng bất cứ sự vi phạm pháp luật nào cũng sẽ bị Tòa án và xã hội lên
án, giáo dục mọi công dân ý thức tham gia vào hoạt động đấu tranh phòng chống tội
phạm”. Đây là hình thức giáo dục đặc thù của Tòa án, là hình thức giáo dục trực tiếp, sinh
động với người thật, việc thật sẽ đạt hiệu quả cao nhất. Trong đó, Hội thẩm vừa là người
đại diện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án vừa là người có cuộc sống
gần gũi với nhân dân, là người hiểu rõ được những tâm tư, nguyện vọng của người dân,
những người theo dõi phiên tòa nhìn thấy, nghe thấy những việc thật, người thật, cảm
nhận giá trị đích thực của pháp luật, về cách thức pháp luật đi vào cuộc sống đời thường
của mỗi người, góp phần nâng cao kiến thức trong nhân dân, nâng cao tinh thần phòng
ngừa, ngăn chặn tội phạm, làm hạn chế các tệ nạn xã hội, giữ vững mối quan hệ tình làng
nghĩa xóm. Chính vì vậy, khi tham gia xét xử Hội thẩm còn giữ vai trò giáo dục những
người tham gia tố tụng và những người theo dõi phiên tòa, giúp họ nhận thức rõ hơn và
đầy đủ hơn về tính công bằng, dân chủ của nền tư pháp.
1.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN HỘI THẨM NHÂN DÂN
Hội thẩm có vai trò quan trọng trong việc tham gia hoạt động xét xử của Tòa án, vì
vậy để phát huy tốt vai trò và hoàn thành nhiệm vụ của mình thì Hội thẩm phải nắm vững
những nguyên tắc về hoạt động xét xử của Tòa án.
1.2.1 Nguyên tắc việc xét xử ở Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân
Để bảo đảm tính công bằng, bình đẳng của pháp luật, việc xét xử không chỉ có những
người chuyên môn mà còn có cả đại diện từ phía nhân dân, bắt nguồn từ nguyên tắc “tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Điều 129 Hiến pháp 1992 quy định “Việc xét
xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân
nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm
phán”. Nguyên tắc này đã được quy định từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp 1980 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 128 Hiến pháp năm 1992. Vì là
nguyên tắc Hiến định nên nếu việc xét xử của Tòa án nhân dân mà không có Hội thẩm
tham gia thì sẽ không chỉ là vi phạm Luật tố tụng mà còn là vi phạm Hiến pháp. Nhưng
GVHD: Nguyễn Nam Phương
17
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
cũng phải được thể hiện bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
Cũng như Thẩm phán, Hội thẩm chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về mọi hoạt
động tố tụng của mình. Cùng với Thẩm phán, Hội thẩm là những người “cầm cân nảy
mực” ra những quyết định khách quan, công bằng và đúng pháp luật. Vì thế trước hết họ
phải tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh và chỉ căn cứ vào những quy định của pháp luật để
GVHD: Nguyễn Nam Phương
18
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
ra những phán quyết hợp pháp. Hội thẩm nhân dân không thể vị nể, tùy tiện quyết định
theo cảm tình riêng tư. Nguyên tắc Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật đòi hỏi Hội
thẩm vượt qua những định kiến cá nhân nhân, ý muốn chủ quan của mình, trách khỏi
những ảnh hưởng bên ngoài tác động để áp dụng đúng đắn pháp luật vào những vụ án cụ
thể.
1.2.2 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp
luật
Theo quy định của các luật tổ chức Tòa án nhân dân (1960, 1981,1992), Luật tổ chức
Tòa án nhân dân hiện hành (năm 2002) và các văn bản pháp luật về tố tụng: hình sự, dân
sự và hành chính, thì Tòa án thực hiện chức năng xét xử thông qua các Thẩm phán và Hội
thẩm. Khi được Chánh án phân công, Thẩm phán và Hội thẩm trở thành người tiến hành
tố tụng và có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến vụ án. Trong quá trình giải
quyết vụ án được lãnh đạo phân công, cùng với việc tuân thủ các nguyên tắc khác nhau
của tố tụng, Thẩm phán và Hội thẩm còn phải tuân thủ nguyên tắc: “Khi xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Đây là một nguyên tắc hiến định
được ghi nhận trong hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và tại điều 130
nghiệp vụ, mối quan hệ giữa Tòa án cấp trên và Tòa án cấp dưới là mối quan hệ tố tụng,
chứ không phải là mối quan hệ quản lý hành chính. Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp
dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không được xin ý kiến của
Tòa án cấp trên quyết định hoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ
thể, Hay còn gọi là “thỉnh thị án”.
Thứ hai: Độc lập với các yếu tố bên trong được hiểu pháp luật là căn cứ duy nhất mà
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dựa vào để ra phán quyết về vụ án. Nghĩa là, khi xét xử,
các thành viên của Hội đồng xét xử mới được tham gia nghị án. Hội thẩm nhân dân biểu
quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Các vấn đề cần giải quyết của vụ án phải
được thảo luận và biểu quyết theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý
kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ vụ án. Khi xét xử. Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, điều đó không có nghĩa là tách ra khỏi đường
lối, chính sách của Đảng. Độc lập xét xử không có nghĩa là không có sự kiểm sát và giám
sát. Hội động xét xử của Tòa án luôn chịu sự kiểm sát của viện kiểm sát và sự giám sát
của Tòa án cấp trên. Hai nội dung của nguyên tắc này có quan hệ mật thiết với nhau. Chỉ
khi Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc thì họ mới có điều kiện để tuyệt đối tuân
thủ pháp luật và ngược lại chỉ khi Thẩm phán và Hội thẩm tuyệt đối tuân thủ pháp luật,
lấy pháp luật là căn cứ duy nhất để xét xử thì họ mới độc lập không bị phụ thuộc vào ai.
Có thể nói: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của các hình thức tố tụng, nguyên tắc
cũng là một trong những điều kiện bảo đảm hiệu quả của công tác xét xử. Tuy nhiên,
trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp ở nước ta trong thời gian qua đã tồn tại không
ít các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện nguyên tắc này. Vấn đề đặt ra là cần
nhận diện các yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật” và hạn chế thấp nhất mức độ ảnh hưởng của chúng sẽ có
tác dụng góp phần nâng cao hiệu quả công tác xét xử của Tòa án.7
1.2.3 Nguyên tắc Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán
Đây là một nguyên tắc được quy định tại Điều 129 Hiến pháp 1992 “Khi xét xử, Hội
thẩm ngang quyền với Thẩm phán”. Thể hiện mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân trên bình diện quyền năng của mỗi người là ngang nhau. tức là Hội thẩm nhân
có thể lên đến 3 người trong tổ số 5 thành viên của Hội đồng xét xử .8 Như vậy, trong
thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm, số lượng Hội thẩm nhân dân bao giờ cũng
chiếm tỷ lệ cao hơn sơ với Thẩm phán. Đây là một lợi thế để các Hội thẩm nhân dân thể
hiện ngang quyền trên tinh thần dân chủ. Tuy nhiên, thực tế phải thẳng thắng nhìn nhận,
khi trình độ, điều kiện giữa Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán có khoảng cách quá xa thì
việc thực hiện nguyên tắc “ngang quyền” của Hội thẩm khi tham gia xét xử cũng chỉ
mang tính chất tượng trưng, hình thức. Trên thực tế một Thẩm phán phải có trình độ thấp
nhất là cử nhân Luật, phải qua lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử tại Trường đào tạo các chức
danh tư pháp, có thời gian công tác Pháp luật nhất định. Thẩm phán hoạt động xét xử lâu
dài, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, Thẩm phán có nhiệm vụ thụ lý hồ sơ vụ án, có
quyền tiến hành các hoạt động theo tố tụng như: ghi lời khai, thu thập chứng cứ và tiếp
xúc với các đương sự trong thời gian khá dài….Đó là điều kiện đưa ra những quyết định
đúng đắn về vụ án. còn đối với Hội thẩm nhân dân chưa được đào tạo bài bản, không
được trang bị kiến thức cơ bản về pháp luật mà chỉ sau khi được bầu họ mới được tham
dự một số buổi tập huấn ngắn hạn về kiến thức Pháp luật và nghiệp vụ xét xử, nên việc
xem xét các vấn đề đặt ra đối với họ chủ yếu bằng kinh nghiệm sống chứ không hoàn toàn
dựa trên cơ sở pháp luật. Sự tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân là cần thiết nhưng
phần lớn Hội thẩm nhân dân không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết Pháp luật
8
Điều 185 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
21
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
đặc biệt, trong tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử gồm hai thẩm phán và ba Hội thẩm).
Hội đồng xét xử làm việc tập thể, cùng nghiên cứu hồ sơ vụ án, cùng hỏi để xác minh các
chứng cứ và chịu trách nhiệm tập thể trước Tòa án cấp mình và Tòa án cấp trên về kết quả
phiên tòa.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
22
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số trong thủ tục tố tụng có Hội thẩm
tham gia vừa thể hiện tính khách quan, toàn diện, chống độc đoán vừa thể hiện tính đặc
trưng của hoạt động xét xử là: Việc phán quyết một vụ án phải do một tập thể chứ không
phải do một cá nhân nào quyết định. Hội thẩm, với cương vị là một thành viên trong Hội
đồng xét xử, phải phát huy hết kinh nghiệm xã hội và kiến thức của mình, nghiên cứu kỹ
hồ sơ vụ án để đánh giá chứng cứ cũng như áp dụng đúng các quy định của pháp luật để
quyết định của đa số thành viên trong Hội đồng xét xử được đúng và chính xác.
Những nguyên tắc trên là những nguyên tắc cơ bản nhất về hoạt động xét xử của Tòa
án đã được quy định trong Hiến pháp. Vì vậy, khi tiến hành hoạt động xét xử không chỉ
có Hội đồng xét xử mà tất cả những người tiến hành hoạt động xét xử phải tuân theo
những nguyên tắc này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia tố
tụng.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
23
dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc xét xử được vô tư, khách quan
“Hội thẩm nhân dân phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp
do pháp luật quy định”.9 Tại Điều 46, 47 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Điều 42 và
Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định cụ thể những trường hợp Hội thẩm
nhân dân phải từ chối hoặc bị thay đổi khi tham gia xét xử. Bên cạnh đó, Hội thẩm chịu
9
Điều 35 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 sửa đổi, bổ sung năm 2011.
GVHD: Nguyễn Nam Phương
24
SVTH: Nguyễn Văn Trạng
Chế định Hội thẩm nhân dân – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nếu có hành
vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu hình sự theo quy định của pháp luật.10 Thực hiện nguyên tắc “Tòa án xét xử tập
thể và quyết định theo đa số”, thì việc ra bản án của Tòa án được thực hiện bằng hình
thức biểu quyết theo đa số tại phòng nghị án. Theo đó, nếu người nào có ý kiến thiểu số
thì được ghi nhận ý kiến đó vào hồ sơ vụ án, đây là căn cứ để Hội thẩm không bị xử lý
hoặc phải chịu trách nhiệm nếu có ý kiến đa số mà bản án của Tòa án bị hủy và đã gây
thiệt hại cho bị cáo, nguyên đơn, bị đơn.... Quy định này nhằm giúp những người tiến
hành tố tụng cần thần trọng hơn trong việc xét xử, họ sẽ có tinh thần trách nhiệm hơn
trong công việc và sẽ có những phán quyết chính xác hơn. Điều này không chỉ giúp ích
cho bị cáo, bị đơn, nguyên đơn...mà còn giúp ích cho bản thân các thành viên trong Hội
SVTH: Nguyễn Văn Trạng