Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn sau cổ phần hóa - Pdf 30

PHẦN MỞ ĐẦU
I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ Công nghiệp
hóa – Hiện đại hóa đã kéo theo sự phát triển rất nhanh chóng của ngành xây
dựng và do đó sản xuất và kinh doanh xi măng là ngành đang thu hút được rất
nhiều sự quan tâm. Điều đó đã và đang đẩy ngành kinh doanh xi măng vào sự
cạnh tranh rất mạnh mẽ.
Đã tồn tại, trưởng thành và phát triển gần 30 năm, Xi măng Bỉm Sơn đã
đóng góp rất đáng kể nào sự phát triển của Tổng công ty xi măng Việt Nam cũng
như vào ngân sách của Quốc gia. Tuy vậy, khả năng cạnh tranh của Công ty nói
chung vẫn còn yếu so với không chỉ các Công ty thành viên trực thuộc Tổng mà
còn với các Công ty tư nhân khác. Công ty xi măng Bỉm Sơn về cơ bản còn thiếu
chiến lược cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường, thiếu đội ngũ cán
bộ có kinh nghiệm cũng như trình độ trong công tác thị trường, marketing.
Nguồn tài chính dành cho hoạt động marketing, quảng cáo của Công ty còn rất
hạn chế.
Trong điều kiện phát triển và bối cảnh nền kinh tế hội nhập như hiện nay
thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty là một đòi hỏi cấp thiết. Nếu
không có đủ năng lực tiếp cận thị trường, thiếu một chiến lược cạnh tranh linh
hoạt thì Công ty sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ cạnh tranh
trong ngành, sẽ bị loại khỏi cuộc chơi trong việc tiếp cận thị trường và thu hút
khách hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hơn nữa, sau cổ phần hóa Công ty có điều kiện để mở rộng mạng lưới
hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư xâm nhập vào các lĩnh vực kinh doanh
mới. Chính vì vậy, hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của Công ty trong tương lai.
II - MỤC TIÊU, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI
1. Mục tiêu nghiên cứu:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn để

1.1. Khái niệm về cạnh tranh:
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất,
trao đổi hàng hóa và phát triển kinh tế thị trường. Trong bất kỳ một lĩnh vực,
ngành nghề nào thì khái niệm về cạnh tranh cũng xuất hiện nhưng ở các góc độ
và mục đích khác nhau. Chính vì vậy, mặc dù cạnh tranh không phải là một khái
niệm mới song rất khó để đưa ra một định nghĩa cụ thể, rõ ràng và thống nhất.
Theo Các Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhắm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo từ điển kinh tế: “Cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc
tranh giành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế
về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa”.
Theo từ điển kinh doanh của Anh, cạnh tranh được hiểu là “sự ganh đua,
kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một
loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn
thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường,
giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa
hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu
dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với lợi
nhuận và cạnh tranh. Cạnh tranh tác động đến mọi thành phần trong nền kinh tế.
Đối với toàn bộ nền kinh tế
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế và nâng cao năng suất lao động xã
hội. Như chúng ta đã biết, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ các doanh nghiệp có chi
phí sản xuất kinh doanh cao, kinh doanh không hiệu quả. Một nền kinh tế mạnh là

dùng cũng được đáp ứng tốt hơn. Có được như vậy là vì có cạnh tranh nên hàng
hóa trong nước và trao đổi quốc tế trở nên phong phú và đa dạng về chủng loại,
bao bì, mẫu mã và hơn hết là chất lượng ngày càng tốt hơn mà giá lại rẻ hơn.
2. Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Trong thị trường sẽ xuất hiện
hai đối tượng là người bán và người mua. Người bán đại diện cho bên cung còn
người mua đại diện cho bên cầu. Người bán thì muốn bán giá cao, người mua mong
mua được giá thấp, họ cạnh tranh với nhau nhằm thu được lợi ích cao nhất về mình.
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua là những người tiêu
dùng hàng hóa. Họ không chỉ cạnh tranh với nhau về tiêu dùng những loại hàng
hóa giống nhau mà còn về những loại hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng khác nhau.
Họ cạnh tranh để mua được nhiều loại hàng hóa, dịch vụ với một mức chi phí
nhất định, nhưng lợi ích tiêu dùng lại lớn nhất.
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Người bán là những người cung
cấp hàng hóa. Cũng giống như người mua, không chỉ những người cung cấp một
loại hàng hóa, dịch vụ giống nhau mới cạnh tranh nhau mà những người cung
cấp hàng hóa, dịch vụ khác nhau cũng cạnh tranh với nhau. Họ cạnh tranh để bán
được nhiều hàng hóa với giá cao hơn và thu được nhiều lợi nhuận hơn.
2.2. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các công ty, doanh
nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Do
đó, để thu được lợi nhuận các doanh nghiệp thi đua cạnh tranh về khoa học kỹ
thuật, phải luôn cải tiến công cụ sản xuất, máy móc thiết bị.
- Cạnh tranh ngoài ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay
đồng minnh các doanh nghiệp của một ngành với những ngành khác nhằm đạt
được lợi nhuận cao và tìm kiếm nơi đầu tư có lợi.
2.3. Căn cứ vào thị trường:
Website: Email : Tel : 0918.775.368

giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả
năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh
tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu
vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”.
2. Phân loại năng lực cạnh tranh:
Đã có rất nhiều những nhà chuyên môn đã nghiên cứu và có những công
trình nghiên cứu công phu về năng lực cạnh tranh. Chẳng hạn như Momaya
(2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc các tác giả người Mỹ như Henricsson
và các cộng sự (2004)… đã hệ thống hóa và phân loại các nghiên cứu và đo
lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3 loại: nghiên cứu năng lực
cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và
năng lực cạnh tranh theo quá trình.
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh
tranh chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trên
thực tế như: thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ
tiêu này, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các
chỉ tiêu hoạt động kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao,
thị phần lớn, chi phí sản xuất thấp…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công
nghệ, lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những
doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động,
công nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này.
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh
tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh. Các
quá trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác
nghiệp (sản xuất, chất lượng…).

thủ cạnh tranh.
- Số mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường so với đối
thủ cạnh tranh.
- Số tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp đáp ứng so
với các đối thủ cạnh tranh.
Một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực thường kinh doanh
nhiều mặt hàng trong một lĩnh vực và nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, không
phải tất cả các mặt hàng do doanh nghiệp sản xuất ra đều có năng lực cạnh tranh
hoặc có năng lực cạnh tranh bằng nhau. Do đó, ta chỉ nên đánh giá năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp theo một hoặc một số mặt hàng nhất định.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
3.3.1. Khái niệm:
Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được
nhanh chóng trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng một
thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng
thị phần của sản phẩm đó.
3.3.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
- Mức độ doanh thu của mặt hàng đó trong từng năm.
- Thị phần của mặt hàng đó trên thị trường trong từng năm so với các đối
thủ cạnh tranh.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã, kiểu dáng,…so với các đối
thủ cạnh tranh.
- Mức độ chênh lệch về giá cũng như chất lượng của mặt hàng đó so với
các đối thủ cạnh tranh.
4. Các chiến lược cạnh tranh của Doanh nghiệp:
4.1. Chiến lược khác biệt hóa:
Chiến lược khác biệt hóa sản phẩm là một chiến lược mà theo đó các
doanh nghiệp tìm cách tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra các giá trị
đặc thù được khách hàng hoặc thị trường thừa nhận và đánh giá cao.

cấp. Và cuối cùng là doanh nghiệp có chi phí thấp tạo ra cản trở xâm nhập ngành
cao với các đối thủ tiềm ẩn.
Nhược điểm: Các đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước phương pháp sản
xuất với chi phí thấp hơn hoặc do khoa học công nghệ phát triển nên ngày càng
có nhiều công nghệ sản xuất tiên tiến có khả năng là mất lợi thế của công ty với
chi phí thấp hơn, rất dẫn đến nguy cơ chiến tranh về giá cả. Hơn nữa, chiến lược
chi phí thấp tạo nên sự cứng nhắc trong hệ thống sản xuất và quản lý.
4.3. Chiến lược trọng tâm:
Chiến lược trọng tâm trong các doanh nghiệp là chiến lược mà theo đó
doanh nghiệp phải tìm cách tạo ra lợi thế cạnh tranh trong phạm vi một hoặc một
số bộ phận đoạn thị trường đặc thù gần bằng nhu cầu đặc thù. Nhu cầu đặc thù
này không có nhiều doanh nghiệp đáp ứng được do đó tạo nên lợi thế của doanh
nghiệp. Các thị trường đặc thù hay còn gọi là các khoảng trống, các ngách của
doanh nghiệp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ưu điểm: Lợi thế cạnh tranh của công ty theo chiến lược này bắt nguồn từ
năng lực khác biệt của nó – hiệu quả, chất lượng, đổi mới hoặc đáp ứng yêu cầu
của khách hàng. Công ty có thể cạnh tranh với các đối thủ vì nó cung cấp sản
phẩm và dịch vụ mà các đối thủ không thể có. Khả năng này giúp cho công ty có
quyền lực với khách hàng vì khách hàng không thể mua hàng hóa như vậy ở chỗ
khác. Chiến lược này cho phép công ty gần gũi với khách hàng và phản ứng
nhanh với những nhu cầu thay đổi.
Nhược điểm: Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này chỉ tập trung vào
một phân đoạn thị trường nên sản xuất với số lượng nhỏ. Do vậy, chi phí sản
xuất thường cao hơn công ty theo đuổi chiến lược chi phí thấp và chiến khác biệt
hóa sản phẩm. Các doanh nghiệp theo chiến lược này rất dễ gặp rủi ro mất thị
trường khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, rủi ro bị đối thủ lớn cạnh tranh khi
thị trường trở nên hấp dẫn, mang lại nhiều lợi nhuận lớn hơn.
III – CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP:

giảm sức ép từ các công ty nước ngoài, tạo ra nhiều cơ hội để tăng sản phẩm
xuất khẩu và ngược lại.
Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế
chậm lại, tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường
trước được. Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc
hoàn toàn mới. Thực trạng của lạm phát là làm cho tương lai kinh doanh trở nên
khó dự đoán được, khi đó nó sẽ hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế, gây nên
tình trạng thất nghiệp, và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng
hoảng.
Tỷ lệ lãi suất
Tỷ lệ lãi suất có thể tác động đến mức cầu đối với sản phẩm của doanh
nghiệp. Tỷ lệ lãi suất rất quan trọng khi người tiêu dừng thường xuyên vay tiền
để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình. Tỷ lệ lãi suất còn quyết
định mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư. Chi phí này là nhân tố
chủ yếu khi quyết định tính khả thi của chiến lược.
1.1.2. Yếu tố kỹ thuật - công nghệ:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngày nay công nghệ được coi là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh. Thay
đổi về công nghệ có thể làm cho các sản phẩm hiện đang sản xuất trở nên lỗi thời
trong một khoảng thời gian ngắn. Cũng với thời gian đó có thể tạo ra được sản
phẩm mới. Như vậy, công nghệ đồng thời có thể vừa là cơ hội cũng như mối đe
dọa của doanh nghiệp. Do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã diễn ra xu
hướng làm ngắn lại chu kỳ sống của sản phẩm. Bên cạnh đó, công nghệ cũng tạo
ra nhiều phương pháp sản xuất mới, những phương pháp này cũng sẽ là những
cơ hội hoặc thách thức của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải lường
trước được những thay đổi do công nghệ mang lại.
1.1.3. Các yếu tố chính trị - pháp luật:
Các yếu tố chính trị - pháp luật cũng có tác động lớn đến mức độ thuận lợi
và khó khăn của môi trường kinh doanh trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp

phân phối, các chính sách thuộc quản lý vĩ mô,…
1.2.2. Sự cạnh tranh của sản phẩm thay thế:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các doanh nghiệp trong những
ngành khác nhau nhưng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giống như
các công ty trong ngành. Những doanh nghiệp này thường cạnh tranh gián tiếp
với nhau. Càng nhiều loại sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ càng tạo ra
sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bấy nhiêu. Đặc
điểm của sản phẩm thay thế như: sản phẩm sẽ được tiếp tục đưa vào sản xuất hay
sẽ được sử dụng trong tiêu dùng cũng như tính chất của sản phẩm thay thế đều
tác động trực tiếp, tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp.
Như vậy, sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành, một sức ép cạnh
tranh rất lớn, nó giới hạn mức giá mà một doanh nghiệp có thể định ra và do đó
giới hạn mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu sản phẩm của một
doanh nghiệp có rất ít các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá
và kiếm được lợi nhuận tăng thêm.
1.2.3. Sức ép từ khách hàng:
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm hay
dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng
không chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả khách hàng tiềm ẩn.
Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp. Họ
được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi đẩy giá cả xuống hoặc khi
họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn làm cho chi phí hoạt động
của doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại, nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo
cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn. Người mua có
thể gây áp lực với doanh nghiệp đến mức nào phụ thuộc vào thế mạnh của họ
trong mối quan hệ với doanh nghiệp.
Theo M. Porter, những yếu tố tạo áp lực cho người mua đó là:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Khi ngành cung cấp gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ còn người mua chỉ

bao gồm số lượng lớn các công ty có quy mô vừa và nhỏ, không có công ty nào
có vai trò chi phối toàn bộ ngành như ngành sản xuất lương thực trong nông
nghiệp, ngành dệt, ngành kinh doanh khách sạn, du lịch, nên không có sức mạnh
chi phối thị trường và thường phải chấp nhận mức giá của thị trường. Thứ hai,
ngành hợp nhất, bao gồm số lượng ít các công ty có quy mô lớn hoặc chỉ có một
công ty độc quyền như ngành sản xuất ôtô, sản xuất điện. Các công ty trong
nhóm ngành hợp nhất hoạt động phụ thuộc vào nhau và do đó hoạt động cạnh
tranh của một công ty sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của các công ty
khác trong ngành.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Mức độ cầu: tình trạng về cầu trong ngành cũng là một yếu tố tác động
đến cạnh tranh. Tăng nhu cầu tạo ra cơ hội cho việc mở rộng sản xuất, làm dịu
bớt sự cạnh tranh. Cầu tăng lên khi trên thị trường có thêm người tiêu dùng mới
hoặc làm tăng sức mua của người tiêu dùng hiện tại. Các doanh nghiệp có thể
tăng doanh thu mà không làm ảnh hưởng đến thị trường của các doanh nghiệp
khác. Như vậy việc tăng cầu đưa đến cơ hội mở rộng hoạt động cho các doanh
nghiệp.
Ngược lại cầu giảm khi có người tiêu dùng rời bỏ thị trường của ngành,
hoặc sức mua của những người tiêu dùng hiện tại giảm. Khi đó sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trở nên mạnh mẽ hơn, một doanh nghiệp chỉ có thể đạt tới
sự tăng trưởng mạnh bằng cách lấy đi thị phần của những doanh nghiệp khác. Sự
biến động của mức cầu phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của ngành.
- Những trở ngại ra khỏi ngành: Những trở ngại ra khỏi ngành đe dọa khi
cầu đang có xu hướng giảm. Nếu như những trở ngại này rất khó vượt qua thì
các doanh nghiệp có thể bị buộc chặt vào nhau, mặc dù hoạt động kinh doanh
không có hứa hẹn gì tốt đẹp, và nó sẽ làm cho sự cạnh tranh trở nên gay gắt. Các
trở ngại chính ra khỏi ngành đó là: Thứ nhất, các mày móc thiết bị khó có thể sử
dụng vào ngành khác, do vậy doanh nghiệp không bán được, khi doanh nghiệp ra
khỏi ngành phải bỏ toàn bộ tài sản này. Thứ hai, những chi phí cố định rất lớn
khi ra khỏi ngành như trả lương cho công nhân khi chưa hết hợp đồng. Thứ ba,

bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy
thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất
cho mọi quyết định kinh doanh.
Tính chất cạnh tranh của thị trường ngày càng gay gắt, thôi thúc của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế chắc chắn sẽ là nguyên nhân trọng yếu thúc đẩy
các doanh nghiệp phải hiểu biết và vận dụng marketing một cách linh hoạt vào
kinh doanh, tạo dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày một cao hơn.
2.3. Nghiên cứu và phát triển:
Trong hoạt động đầu tư, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thường đưa
lại kết quả rất lớn. Nghiên cứu và phát triển bao gồm việc nghiên cứu tiến bộ
khoa học – kỹ thuật của thế giới để ứng dụng những tiến bộ đó vào hoạt động
của tổ chức mình. Nghiên cứu sáng tạo cái mới, đó là nhân tố cực kỳ quan trọng,
quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia. Ở đây bao gồm
sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới, tạo ra kết cấu, tổ chức mới, phương pháp
quản lý mới và khai thác thị trường mới.
Để hoạt động nghiên cứu – triển khai tiến hành tốt thì doanh nghiệp không
thể thiếu công tác đào tạo. Đào tạo trước hết để nâng cao nhận thức cho mọi
người về hội nhập và toàn cầu hóa, về cạnh tranh, về vị trí vai trò của doanh
nghiệp trong ngành… Sau nữa là để nâng cao hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật
sản xuất, nâng cao tay nghề làm ra sản phẩm có chất lượng và năng suất ngày
càng cao.
2.4. Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Đánh giá về sản lượng sản xuất và tiêu thụ: Phân tích môi trường vĩ mô: Phân tích môi trường ngành: Phân tích nội bộ công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status