giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của nguyễn đình chiểu - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

PHAN CẨM THU
MSSV: 6106431

GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
TRONG TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS. Gv. BÙI THỊ THÚY MINH

Cần Thơ, năm 2013


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.


1.3.1. Khái niệm
1.3.2. Phân loại
1.3.2.1.

Phân loại theo văn tự

1.3.2.2.

Phân loại theo nội dung

1.3.3. Bố cục
1.3.4. Giọng điệu

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM VĂN
TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
2.1. Ca ngợi phẩm chất anh hùng của người nghĩa sĩ nông dân
2.2. Bày tỏ sự xót thương trước vong linh của những người nghĩa sĩ
2.3. Khẳng định tư tưởng yêu nước, thương dân của Đồ Chiểu
2.4. Bài học đắt giá đối với những người đang sống

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
3.1. Hình tượng nhân vật độc đáo
3.2. Ngôn ngữ bình dị đậm đà bản sắc Nam Bộ
3.3. Giọng văn thống thiết bi ai nhưng đầy vẻ hào hùng

PHẦN KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

mình để đổi lấy sự sống còn cho tổ quốc. Chính vì thế mà thơ văn của Nguyễn Đình
Chiểu đã thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, và cái chủ nghĩa ấy đã đi sâu vào trong
lòng người Việt Nam không cần một lời giải thích. Một trong những tác phẩm đã
1


dệt nên chủ nghĩa yêu nước ấy và làm cho nó vang mãi đến tận bây giờ không thể
không kể đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Có thể nói đây là một kiệt tác của nhân
loại. Nó đánh dấu cột mốc quan trọng cho một thời kì “đau thương nhưng vĩ đại” ,
là “khúc ca về người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” của dân tộc ta, là
bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm
chiến đấu hi sinh vì tổ quốc. Do đó, trước tiên là vì sức ảnh hưởng lớn của tác phẩm
- tác phẩm tạo nên những giá trị vô cùng cao đẹp, sau nữa là vì lòng yêu qúy và
kính trọng của bản thân trước một nhà thơ vĩ đại của dân tộc. Cũng như vì sự say
mê học hỏi của bản thân, thích khám phá tìm những cái hay cái đẹp, cái đã làm nên
những giá trị bất hủ khiến biết bao thế hệ mãi vẫn còn gìn giữ và nhắc đến. Chính vì
thế mà chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong
tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” để tôn vinh đề cao
những giá trị cao đẹp đó. Bên canh đó, nhân danh là một người con miền Nam, một
người con của dân tộc Việt Nam anh hùng, chọn đề tài này chúng tôi muốn một lần
nữa tưởng nhớ lại công lao mà các nghĩa sĩ đã hi sinh vì sự độc lập tự do của đất
nước. Công lao to lớn đó nguyện mãi khắc ghi và sẽ mãi là tấm gương về tinh thần
yêu nước soi sáng thế hệ của chúng tôi và các thế hệ sau.

2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có không biết bao nhiêu lời ngợi khen được viết về Nguyễn Đình Chiểu.
Tuy vậy, nói mãi vẫn không hết, các thế hệ sau và sau nữa vẫn sẽ mãi nhắc đến tên
người. Đồ Chiểu - cái tên nghe thân thương và thật gần gũi làm sao, cái tên đã làm
nên một vì sao sáng trên bầu trời của dân tộc. Vì sao ấy sáng nghìn thu và sẽ không
bao giờ vắng bóng. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của người đã tạo nên những

đặt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bên cạnh bài Bình Ngô đại cáo - áng “Thiên cổ
hùng văn” của dân tộc “Hai bài văn: hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân
tộc. Hịch của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh
liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng ngời nước nhà. Bài Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên
ngang: Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…muôn kiếp nguyền được trả thù
kia…” [16 ; tr. 88].
Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình” đã giới thiệu một số tác
phẩm tiêu biểu và trích dẫn các bài nghiên cứu phê bình về thơ văn của Nguyễn
Đình Chiểu ở các khía cạnh khác nhau. Bài viết của ĐặngThai Mai có nhận định :
“Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là khúc ca hùng tráng của phong trào
yêu nước chống bọn xâm lược Pháp ngay từ buổi đầu chúng mới đặt chân lên xâm
lược đất nước Việt Nam. [16; tr.177]
3


Cũng trong quyển sách trên, Trần Thanh Mại trong bài viết “Nguyễn Đình
Chiểu lá cờ đầu tiên của thơ văn yêu nước thời kì cận đại” viết: “Thơ văn Nguyễn
Đình Chiểu mang nhiều giá trị hiện thực, tràn đầy tính nhân dân và tính dân tộc.
Nó phản ánh khí thế quật cường bất khuất của dân tộc ta khoảng nữa sau thế kỉ
XIX. Cả một thời đại đau thương và oanh liệt đã truyền hơi thở của nó vào các
hịch, các văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu, tiếp cho những áng thơ văn
này một sức sống sôi sục, nhờ đó có một tác dụng động viên tuyên truyền mãnh liệt.
[16; tr.210]
Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, kỉ
niệm lần thứ 150 năm ngày sinh của nhà thơ (1822 – 1972)”. Trong quyển sách này
có: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc kỉ niệm ngày sinh Nguyễn Đình
Chiểu; Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu; diễn văn của Hà Huy Giáp “Bài học sống
chiến đấu và sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu” đọc trong lễ
kỉ niệm lần thứ 150 ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu; bài viết của cố Thủ tướng Phạm

được những điểm tương đồng và khác biệt so với nhứng tác phẩm đã làm nên những
đỉnh cao chói lọi. Đặc biêt là bài viết đã chỉ ra được điều gì đã làm cho “Văn tế
nghĩa dân chết trận Cần Giuộc là một khúc ca hùng tráng, não nùng, bi ai, một
khúc ca đánh dấu một giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời
phong kiến” [3; tr.781].
Cũng trong quyển sách này, bài viết của Lê Trí Viễn đã có những cảm nhận
khá tinh tế về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bằng những lời lẽ phân tích lập
luận vô cùng xác đáng ông đã đem đến cho bạn đọc một cách nhìn mới về tác phẩm
này “Tác phẩm đã làm nên một thiên anh hùng ca tuyệt diệu, không ai khác hơn họ
là những người nông dân hiền lành, giản dị, quanh năm chỉ biết cày cấy làm ăn,
chân lắm tay bùn. Vậy mà khi lòng nghĩa dấy lên, căm thù quân giặc, chán trông
vua quan, đã biến họ thành những người cứu nước anh hùng và “hình bóng của họ
làm chủ chiến trường, nổi lên nền trời, kín lấp cả không gian, lồng lộng như một
tượng thần kỳ vĩ, một tượng thần anh hùng ca” [3; tr.824]. Đó đúng là một thiên
anh hùng ca tuyệt diệu với tư tưởng lớn song lời văn rắn rỏi, mãnh liệt, âm điệu dồn
dập, sôi sục bản hùng ca này đã làm biết bao thế hệ hết lời ngợi khen và kính phục
trước một ông Đồ mù – Đồ Chiểu. Tác phẩm đã tạo nên một sức mạnh lớn “Đó là
sức mạnh trong lòng người, trước mắt và mai sau. Đó là sức mạnh diệu kỳ, có khả
năng làm cho người ta sảng khoái nở gan nở ruột, có lúc làm cho người ta khoa
chân múa tay, mà cũng có lúc khiến người ta trầm ngâm suy nghĩ về một bài học
vinh nhục ở đời, về lý tưởng vì nước vì dân.” [3; tr.832].
5


Từ những công trình nghiên cứu trên, ta thấy được sức ảnh hưởng rất lớn từ
cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. Đặc biệt khi Nguyễn Đình
Chiểu cho ra đời Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc. Đề tài “Giá trị nội dung và nghệ
thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” như
chúng tôi đã đề cập hiện có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu liên
quan đến tác phẩm này, nhưng những công trình ấy còn ở mức khái quát, chưa thật

với một số bài văn tế và một số tác phẩm khác có liên quan để bổ sung và làm sáng
tỏ đề tài. Tuy nhiên phạm vi khảo sát chủ yếu vẫn là tìm hiểu giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để việc nghiên cứu đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” một cách hoàn chỉnh và thật
lôgic chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp tiểu sử: Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương
pháp tiểu sử để tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn chương của tác giả
nguyễn Đình Chiểu. Từ cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông đã đem đến
những giá trị cao đẹp, là bài học làm người cho nhân loại.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng phương phân phân tích – tổng
hợp chủ yếu là để đi sâu khám phá từng yếu tố từng khía cạnh nội dung cũng như
nghệ thuật từ đó làm cơ sở để chúng tôi tổng hợp lại các giá trị cốt lỗi mà bài văn tế
đã đem lại.
Phương pháp so sánh – đối chiếu: Giúp chúng tôi chọn được văn bản tốt
nhất, gần nhất với tác giả cũng như tác phẩm để từ đó chúng tôi có thể triển khai
vấn đề một cách chính xác và khách quan hơn.
Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn sử dụng các thao tác tư duy bổ
trợ cần thiết cho các phương pháp nghiên cứu chính như: phân tích, tổng hợp,
chứng minh, giải thích, hệ thống,…nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề một cách rõ
ràng, thuyết phục.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

thiện ác, trung nịnh, chính tà, nhân nghĩa,..Nguyễn Đình Chiểu lại được theo học ở
làng với một ông đồ, ông này là học trò ông Nghè Chiêu, môn sinh của Võ Trường
Toản. Việc nuôi dạy của bà mẹ và việc giáo dục của thầy vỡ lòng đã có ảnh hưởng
rất lớn đối với sự hình thành tư tưởng sao này của ông.
Nhưng rồi đường đời của ông không phải cứ thẳng tấp, suôn sẻ. Từ năm
mười một, mười hai tuổi ông đã phải trải qua những ngày bão táp kinh hoàng và rẽ
vào một lối khác gập ghềnh khúc khuỷu. Tuổi niên thiếu của Nguyễn Đình Chiểu
từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa
của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã khiến cha ông phải bỏ chốn ra
Huế rồi bị cách chức. Năm 1833 cha ông trở vào Nam, đem Nguyễn Đình Chiểu
chạy ra Huế.
Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu được gởi vào gia đình một quan lại Thái phó,
hàng ngày vừa lo việc điếu đãi hầu hạ, vừa ra sức học tập.
Vụ án Lê Văn Duyệt và cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi là sự bùng nổ của
những mâu thuẫn sâu sắc đã ngấm ngầm lâu nay trong nội bộ của tập đoàn phong
kiến thống trị. Sự kiện hãi hùng này cùng với điều tai nghe mắt thấy trong tám năm
ông theo học tại Huế và chế độ quan trường, hẳn đã gợi trong đầu ông những suy
nghĩ đầu tiên về thời thế, công danh, về đạo lý làm người và nhất là về đất nước và
dân tộc.
Luôn ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của một người con yêu nước,
ngay từ bé Nguyễn Đình Chiểu đã cố gắng học tập và không ngừng trao dồi kiến
thức, tu dưỡng bản thân để trở thành một người có đầy đủ đức và tài hoàn thành sự
nghiệp vẽ vang cho dân tộc. Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng
vào năm 21 tuổi. Khi ấy có một nhà họ võ hứa gả con gái cho ông.
Thành công bước đầu đã khuyến khích ông thêm nỗ lực, ra công đèn sách.
Năm 1847, ông trở ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849). Cùng năm thì
ông nghe tin giặc Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nỗi đau vì “tấc đất ngọn rau”
của Tổ quốc đang bị xâm phạm chưa nguôi thì ông lại nghe tin sét đánh từ Gia Định
đưa ra là mẹ mất, khoa thi đành dang dỡ. Trên đường trở về Sài Gòn chịu tang mẹ,
9

khác với một số nhà thơ, nhà văn đương thời. Ngòi bút nhân nghĩa đã viết về Lục
Vân Tiên Trước kia giờ đây đã cụ thể hóa thành tinh thần yêu nước chống ngoại
10


xâm. Và từ đây ngòi bút ấy đã trở thành một vũ khí sắc bén đâm thẳng vào lũ giặc
cướp nước và bọn tay sai bán nước.
Đối với ông, nhân nghĩa và chống ngoại xâm là đức tính truyền thống cao cả
của dân tộc. Nó thống nhất nguyện hòa làm một, không tách rời nhau:
“Mến nghĩa bao đành làm phản nước
Có nhân sao nỡ phụ tình nhà”
Nguyễn Đình Chiểu sống ở Sài Gòn, cho đến khi thành Gia Định thất thủ
(17-02-1859) mới dọn về quê vợ tại làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc. Cũng tại nơi
đây, ông sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được nhân dân cả nước đánh giá cao.
Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không thể sống trong vùng
chiếm đóng, ông đành phải cùng gia đình xuôi về Ba Tri, tỉnh Bến Tre:
“Vì câu danh nghĩa phải đi xa
Day mũi thuyền Nam dạ xót xa”
Tại đây ông tiếp tục dạy học, làm nghề thuốc chữa bệnh cho nhân dân.Trong
lúc này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Ngư Tiều y thuật vấn đáp, một tác phẩm vừa
có tính văn học, vừa có tính y học cao. Mặt dù đời sống thì chật vật, mắt mù, đi lại
khó khăn Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ mối quan hệ chặt chẽ với sĩ phu yêu nước
như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối mọi cám
vỗ của đối phương.
Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc
thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất. Trong khi dùng đầu óc tham gia
kháng chiến, “lòng đạo” của Nguyễn Đình Chiểu ngày càng được củng cố. Ông đã
từng khẳng định “lòng đạo” của mình thủy chung đứng vững:
“Sự đời thà khuất đôi tròng thịt
Lòng đạo xin tròn một tấm gương”

tác chủ yếu bằng chữ Nôm. Cuộc đời sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn
tương ứng với sự hình thành và phát triển tư tưởng trong ông:
Giai đoạn đầu là giai đoạn những năm mươi của thế kỷ XIX. Trong giai
đoạn này, ngoài việc dạy học và làm thuốc, ông đã viết hai tập truyện dài: Truyện
Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu, đều nhằm mục đích là truyền bá đạo lí làm
người.
Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên, trong đó có những mối quan hệ
tức cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lý tưởng như
Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu đồng, những người lao động giàu
12


lòng nhân nghĩa như vợ chồng ông ngư, ông Tiều…qua đó Nguyễn Đình Chiểu
muốn khẳng định con người sống phải có nhân nghĩa, đạo lý, phải tương thân giúp
đỡ nhau trên cơ sở nhân nghĩa. Đồng thời ông phê phán những việc làm phản nhân
nghĩa.
Dương Từ - Hà Mậu. Theo kết quả nghiên cứu nhiều người, thì Dương Từ Hà Mậu có thể được soạn từ năm 1851 và hoàn chỉnh vào những năm trước khi
thành Gia Định rơi vào tay giặc Pháp. Là một tác phẩm lớn toát ra một tinh thần yêu
nước và căm thù giặc sâu sắc. Trước nguy cơ đổ vỡ cả nền tản đạo đức cố hữu do ý
đồ của quân thù xâm lược, Dương Từ - Hà Mậu như lời kêu gọi mọi người trở về
với “chính đạo”, đủ tạo ra một sức mạnh cứu nguy cho Tổ quốc. Tác phẩm chỉ ra
một trân lý sáng ngời cực kỳ quan trọng là: phải biết tiêp thu những truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng mọi
người đạt tới được sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành
động cho sự tiến bộ của xã hội.
Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ của sự nghiệp văn
chương Nguyễn Đình Chiểu. Giai đoạn này mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới
tràn vào sông Bến Nghé cho đến khi cõi Lục tỉnh Nam Kỳ bị chiếm đóng (tức là
vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX). Ở giai đoạn này thơ văn của Nguyễn
Đình Chiểu đã trở thành lá cờ đầu tiên của thơ văn yêu nước chống Pháp nửa cuối

mệt mỏi cho đạo đức chính nghĩa, cho độc lập tự do của dân tộc. Nguyễn Đình
Chiểu đã viết nên những trang viết đề cao tư tưởng nhân nghĩa và tinh thần yêu
nước sâu sắc. Sự nghiệp văn chương của ông đã đưa ông lên địa vị của một người
mở đầu cho dòng văn học yêu nước và là ngôi sao sáng trong bầu trời văn học dân
tộc trong thời cận đại.

1.1.2.2. Nội dung thơ văn
1.1.2.2.1. Đề cao lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa
Vận mệnh đen tối, cuộc đời bế tắc, phải sống trong cảnh mù lòa, không hề
than trách cho số phận của mình, ông đã vượt qua tất cả. Và chính Nguyễn Đình
Chiểu lại đem đến một nguồn ánh sáng nhân nghĩa chói lọi, đem đến cho nhân loại
một bài học quí về đạo lý làm người. Dẫu là mù nhưng con người ấy có cái tâm
sáng ngời và bằng một ý chí lạc quan kiên cường ông đã chiến thắng được vận
mệnh. Đề cao lý tưởng đạo đức, “nhân nghĩa” là một trong những nội dung cốt lõi
được ông nhắc đến trong những áng thơ văn của mình. Trong đó, có thể nói Lục
Vân Tiên là tác phẩm thể hiện sâu sắc và rõ nét nhất nội dung này. Mục đích mà
14


Nguyễn Đình Chiểu viết nên tác phẩm này là truyền dạy những bài học về đạo làm
người chân chính . Đó là đạo lý mang tinh thần của đạo nho nhưng lại rất đậm đà
tính nhân dân và truyền thống dân tộc. Những mẫu người lí tưởng trong tác phẩm là
những con người sống nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách thẳng ngay, cao
cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực tàn bạo, cứu
nhân độ thế như lời của Lục Vân Tiên:
“Tôi xin ra sức anh hào
Cứu người cho khỏi lao đao buổi này”
Hay “Làm ơn há dễ mong người trả ơn”
Từ khi tác phẩm Lục Vân Tiên ra đời khó mà nói hết được lòng hâm mộ của
bà con miền Nam đối với tác phẩm này. Hầu hết bà con nông dân đều thuộc và kể

không thể nào ràng buộc một người phụ nữ đảm đang bất khuất, biết làm chủ lấy
cuộc sống của mình.
Khi xây dựng nhân vật điển hình ông Quán, cũng như khi xây dụng nhân vật
điển hình Kỳ Nhân Sư trong Ngư Tiều Y thuật vấn đáp, Nhân Sư nói lẽ chính tà,
ông Quán tập chung vào sự ghét thương :
“Quán rằng rét việc tầm phào,
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần.
Ghét đời Ngũ bá phân vân,
Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.
Ghét đời Thúc, Quý phân bằng,
Sớm đầu, tối đánh lằng nhằng rối dân”.
Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng thương ghét sao cho đúng?
Phải biết đánh giá tốt xấu, phải trái, phải biết nhận định nên chăng. Cái nào đáng
ghét thì “ghét cai ghét đắng”, “ghét vào tận tâm”. Cái nào đáng thương thì thýõng
một cách thiết tha, chân thành. Nguyễn Đình Chiểu lấy tiêu chuẩn của sự ghét
thương là “dân”, ai vì dân hay hại dân, vì dân thì ta thương, ai hại dân thì ta ghét.
Trong cuộc đời đầy rẫy phức tạp, tiêu chuẩn ghét thương qua lời ông Quán là xác
đáng. Bởi lẽ phải nhận định được đâu là phải, đâu là tốt xấu, nên chăng mới thật sự
là người có lí tưởng nhân nghĩa.

16


Đọc những câu thơ trên của Nguyễn Đình Chiểu, ta không thể không nhớ lại
bậc thi hào dân tộc Nguyễn Trãi đồng thời cũng là nhà chính trị lỗi lạc với câu nói
bất hủ:



Đó là Trương Định:
“Giúp đời dốc trọn ơn nam tử;
Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần”
Đó là Phan Tòng:
“Viên đạn nghịch thần treo trước mắt,
Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay”
Và cùng nhân dân chiến đáu đến hơi thở cuối cùng: “Bởi lòng chúng ta
chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; theo bụng dân phải chịu
tướng quân thù, gánh vác nột vai khổn ngoại” (Văn tế Trương Định). Dưới ngọn cờ
đó là đông đảo những người nông dân nghèo khổ, “cui cút làm ăn”, “chỉ biết ruộng
trâu ở trong làng bộ”, ấy vậy mà họ lại có một ý chí sắt đá thà làm quân chiêu mộ
chứ không chịu khuất phục trước quân thù “Thà thác mà đặng câu địch khái, về
theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ” (Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc). Bên cạnh những người nghĩa sĩ nông dân vì nghĩa quên mình
thì Kỳ Nhân Sư, người thầy thuốc giỏi trong Ngư Tiều Y thuật vấn đáp dẫu không
thể làm gì để cứu vãn tình thế đất nước, vẫn biểu thị tấm lòng kiên trung ái quốc
bằng cách tự xông mù đôi mắt chứ không chịu phụng sự quân giặc, để lại cho đợi
một bài học nhân sinh vô cùng cao cả:
“Dù đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ”.
Và chính ở đây ta bắt gặp một nguyên tắc trong cuộc sống của Nguyễn Đình
Chiểu. Cũng như tất cả các nhà thơ yêu nước chống Pháp đương thời như Cử Trị,
Thủ khoa huân, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Duy Cung…Nguyễn Đình Chiểu căm
ghét bọn xâm lược Pháp đến cực độ. Ông khước từ mọi sự mời mọc cám dỗ của bọ
Pháp. Đối với những việc trái tai, gai mắt Nguyễn Đình Chiểu cũng đã mượn nhân
vật của mình để cất lên tiếng nói giữ vững khí tiết trong sạch, giữ vững cái chính
nghĩa của dân tộc:
“Thà cho trước mắt mù mù,

đứng cao hơn Kỳ Nhân Sư. Ông không là người chỉ có ghét, chỉ có bất hợp tác. Mặt
dù mù nhưng ông nhìn rất rõ mọi việc bằng tất cả mọi mối quan hệ với nhân dân.
Ông không chọn cuộc sống ở ẩn để thoát li cái thực tại đen tối ấy, ngược lại ông đã
dám dùng ngòi bút của mình để “đương đầu” đấu tranh với địch, với bọn bán nước
cầu vinh.

19


“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm;
Đâm mấy thằng giang bút chẳng tà”
Hai câu thơ hừng hực khí phách chiến đấu, đã trở thành vũ khí vô cùng lợi
hại cho quân và dân ta. Sự nghiệp thơ văn của ông đã đưa ông lên địa vị của người
mở đầu cho dòng văn học yêu nước và là ngôi sao sáng trong bầu trời dân tộc trong
thời cận đại. Ông đã để lại những giá trị vô cùng lớn lao cho mai hậu.

1.1.2.3. Nghệ thuật thơ văn
Về nghệ thuật, thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu mới thoáng đọc, tưởng như
giá trị nghệ thuật không cao. Nhưng thật ra đó là một “vì sao có ánh sáng khác
thường, nhưng con mắt của chúng ta phải châm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn
thì càng thấy sáng” [16; tr. 83]. Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu không óng
mượt, nõn nà, không dùng thứ ngôn ngữ khoa trương bóng bẩy và có chổ còn thô
kệch. Ấy thế mà nó lại mang đến một vẻ đẹp chân chất, bình dị của cánh đồng lúa
xanh uốn mình trong gió nhẹ. Vẻ đẹp ấy không phát lộ rực rỡ ở bề ngoài mà tiềm ẩn
trong tầng sâu của cảm xúc và suy ngẫm. Ngôn ngữ bình dị, hình tượng nhân vật
độc đáo, đặc biệt là thơ văn Nguyễn Đình Chiểu còn rất đậm đà sắc thái Nam Bộ.
Mỗi người dân Nam Bộ đều có thể bắt gặp mình ở các nhân vật của ông, từ lời ăn
tiếng nói bình dị đến tâm hồn nồng nhiệt, chất phác, cách sử sự khoáng đạt, hồn
nhiên…Lối thơ thiên về kể lể trong các truyện của ông cũng mang màu sắc diễn
sướng rất phổ biến trong văn học nhân gian Nam Bộ. Những nhân vật tích cực ở

dân Pháp xâm lược. Trong bối cảnh đất nước đấm chìm trong lửa đạn chiến tranh,
rơi vào cuộc chiến đấu hoàn toàn không cân sức với thực dân Pháp thì sự hi sinh vì
đại nghĩa này quả thật có sức cổ vũ và khích lệ rất lớn. Bởi thế, bài văn tế nhanh
chóng được truyền tụng khắp nơi trong cả nước, làm xúc động lòng người. Có thể
nói, lần đầu tiên trong văn học trung đại người nông dân chân lấm, tay bùn đã trở
thành người nghĩa sĩ anh hùng oai phong lẫm liệt và đã dựng thành bức tượng đài
nghệ thuật bất tử.
1.2.2. Văn

bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Như chúng ta đã biết, Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ trải qua nhiều biến
cố thăng trầm. Phải sống trong cảnh mù lòa, đó là việc trở ngại rất lớn cho một
người sáng tác thơ văn nên hầu hết các tác phẩm của ông điều do học trò chép lại và
được nhân dân truyền tụng. Chính vì thế, các tác phẩm của ông có rất nhiều dị bản.
Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc này theo chúng tôi được biết tác phẩm này cũng
có rất nhiều dị bản :


Bản in trong cuốn Thơ văn yêu nước Nam Bộ nữa sau thế kỷ XIX.



Bản in trong cuốn Thi phú văn từ của Võ Sâm (1986)



Bản in trong cuốn Gia lễ (1986)
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status