ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NH
NHÂ
Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ
Ô TH
ỌC
NG
NGÔ
THỊỊ LAN NG
NGỌ
MSSV: 6106335
Ế GI
ỚI NGH
Ệ THU
ẬT
TH
THẾ
GIỚ
Cần Thơ, năm 2013
NG TỔNG QU
ÁT
ĐỀ CƯƠ
ƯƠNG
QUÁ
ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
ẦN NỘI DUNG
PH
PHẦ
CH
ƯƠ
NG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠ
ƯƠNG
1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
1.2 Tình hình văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
2.2 Vấn đề tình yêu trong thơ Nguyễn Bính
2.2.1 Khát vọng tình yêu
2.2.2 Tình yêu dang dở
ƯƠ
NG 3: NGH
Ệ THU
ẬT KH
ẮC HỌA TH
Ế GI
ỚI NGH
Ệ THU
ẬT
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NGHỆ
THUẬ
KHẮ
THẾ
GIỚ
NGHỆ
THUẬ
Ơ NGUY
ỄN BÍNH
TRONG TH
THƠ
NGUYỄ
3.1 Sử dụng thể thơ quen thuộc của dân tộc
3.2 Hình ảnh thơ mang đậm chất dân gian
Đến lúc này, thơ không còn là tiếng nói của cái ta chung chung mà nó đã thực sự là
tiếng nói của cái tôi cá nhân.
Lực lượng sáng tác của phong trào Thơ mới rất phong phú và đa dạng với sự xuất
hiện của nhiều cây bút tên tuổi. Mỗi nhà thơ đều có phong cách nghệ thuật khác nhau.
Xuân Diệu thì có một khát vọng mãnh liệt, rạo rực, khát khao nồng cháy, Hàn Mặc Tử
thì quay cuồng, vật vã trong thế giới đau thương, Chế Lan Viên thì trầm mình trong
thế giới siêu thực, huyền bí. Trong đó, Nguyễn Bính hiện lên với một phong cách giản
đơn, bình dị của một tâm hồn nghệ sĩ đậm chất “chân quê”.
ới ngh
ơ Nguy
ướ
Với đề tài “Th
Thếế gi
giớ
nghệệ thu
thuậật trong th
thơ
Nguyễễn Bính tr
trướ
ướcc năm 1945” chúng
tôi mong muốn có thể chỉ ra được nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của
Nguyễn Bính. Bên cạnh đó, chúng tôi muốn chứng minh cho người đọc biết vì sao
người ta hay gọi Nguyễn Bính với cái tên thân mật là thi sĩ của hồn quê Việt Nam. Bởi
thơ ông luôn gợi lên những hình ảnh về làng quê Việt Nam thân thuộc, mộc mạc. Và
chính những hình ảnh đó đã gợi cho người đọc một chút bâng khuâng bồi hồi mỗi khi
đọc thơ Nguyễn Bính. Một hồn thơ mang đậm dấu ấn về con người Việt Nam, làng
cảnh Việt Nam, những phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa
đến nay. Và đó cũng là lí do vì sao mà mỗi lần đọc thơ Nguyễn Bính người đọc không
cảm thấy nhàm chán mà trái lại còn rất thích thú, ngâm nga. Bởi thơ Nguyễn Bính
và một lần nữa khẳng định tài năng làm thơ của thi sĩ.
2. Lịch sử nghi
nghiêên cứu vấn đề
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như những bài phân tích, phê
bình của các nhà nghiên cứu về cái hay, cái đẹp có trong thơ của Nguyễn Bính. Họ
khai thác rất nhiều khía cạnh của thơ ông. Thông qua những công trình nghiên cứu đó
cho chúng ta thấy được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính.
Hoài Thanh trong quyển Thi nhân Việt Nam đã viết: “Cái đẹp kín đáo của những
vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào mắt
các nhà thông thái thời nay. Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ thế này
thì có gì?. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí
trí, một điều quý vô ngần: hồn xưa đất nước” [16; tr.314]. Như vậy, có thể thấy
Nguyễn Bính đã giữ được cái “hồn xưa” của dân tộc, cái vốn quý của dân tộc Việt
Nam. Hoài Thanh đã thấy được sự xuất hiện đột ngột mang phong cách mới lạ của
Nguyễn Bính so với những nhà thơ khác trước đó.
Trong quyển Tác phẩm và dư luận do Tôn Thảo Miên biên soạn, Tô Hoài đã viết
“Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của
mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng. Bởi đấy là cốt lõi
cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính. Quê hương là tất cả, mà cũng là nơi đậm dấu
vết đời mình” [13; r.113]. Qua đó, ta có thể thấy sự khác biệt trong phong cách sáng
tác của Nguyễn Bính với các nhà thơ khác. Nguyễn Bính không sao chép nguyên mẫu
những cảnh vật của đời sống thực nhưng thiên nhiên trong thơ của ông vẫn hiện lên
một cách sinh động. Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa đề cập đến vấn đề con người thôn
5
quê trong thơ ông. Mảng đề tài này ít nhiều cũng đã mang đến sự thành công cho thơ
đến việc miêu tả tâm trạng của những người đang yêu có hạnh phúc nhưng có khi cũng
có không ít đau đớn xót xa.
Trong bài viết Nguyễn Bính thơ của truyền thống, của thế hệ, Lê Đình Kỵ đã
nhận xét: “Thơ Nguyễn Bính không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên ngoài, mà đã tiếp
thu được phần hồn của nó, được thể hiện vào những câu ca dao hay nhất mà một tác
6
giả thời nay có thể viết ra được. Phải thật gần gũi, yêu mến con người, sinh hoạt, cảnh
vật nông thôn mới có những ghi nhận, những rung động đó” [7; tr.220]. Nhà thơ đã
khéo léo sáng tác thơ theo lối văn chương truyền thống của dân tộc, đó là viết theo thể
ca dao. Với thể thơ này, Nguyễn Bính đã thật sự trở thành một cây bút tiêu biểu của
làng quê Việt Nam.
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính mang đậm chất dân gian. Có thể thấy, Nguyễn Bính
luôn có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân gian của dân tộc bằng
cách đưa vào trong thơ ông những “mã ngôn ngữ” của đời sống hằng ngày, gần với lời
ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động. “Có lẽ Nguyễn Bính là người đem
nhiều nhất những mã ngôn ngữ của đời sống dân dã vào thơ Việt Nam hiện đại.
Những giậu mồng tơi, giăng sáng, vườn chè, trống chèo, hoa xoan, hao bưởi, hoa cam,
cánh buồm nâu, vườn dâu, vườn cam, tất cả đã vào trong thơ Nguyễn Bính một cách
trữ tình duyên dáng. Chắc chắn thế kỉ này chưa có nhà thơ nào dám dùng những mã
hiện thực như ao bèo, con lợn, giếng thơi… để mà diễn tả nỗi buồn, nỗi mất mát của
tình yêu trong tâm hồn con người Việt Nam hiện đại.” [7; tr.193]. Đấy là lời nhận xét
của Đoàn Hương khi nói về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính. Qua đó, ta thấy những
vần thơ giản dị của ông cứ tồn tại và sống đời sống riêng của nó, chỗ đứng riêng của
nó. Thơ của ông phản ánh được hầu hết những khía cạnh của đời sống. Bài viết này rất
có ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu. Vì nó cho chúng tôi biết được thơ
Nguyễn Bính có tầm bao quát những gì gần gũi nhất với con người Việt Nam.
thể lục bát. Trong quyển Nguyễn Bính nhà thơ chân quê (Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin, 2000), Đoàn Thị Đặng Hương viết: “Cái giọng thơ riêng của ông rõ ràng không
thể trộn lẫn vào các nhà thơ khác: cái chất, cái hồn quê Việt Nam nguyên vẹn đậm đà
như trong các bài ca dao dân gian. Và điều này cũng thể hiện rõ khi ông chọn thể thơ
cho mình. Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ bậc nhất của thời kì
này về thơ lục bát. Những bài thơ lục bát của ông thường có một thi pháp riêng hết
sức độc đáo” [11; tr.36]. Thơ lục bát từ xưa đến nay luôn giữ được vị trí độc tôn trong
nền văn học dân gian nói riêng và thi đàn văn học Việt Nam nói chung. Nhà thơ
Nguyễn Bính luôn có ý thức giữ gìn nét văn hóa truyền thống ấy của dân tộc. Có thể
nói, trong phong trào Thơ mới Nguyễn Bính là bậc thầy trong việc sử dụng thể thơ lục
bát để sáng tác thơ ca.
Nguyễn Quốc Túy đã viết: “Không gian nghệ thuật của Thơ mới dân gian
Nguyễn Bính là một thứ không gian cổ tích, của huyền thoại. Thời gian nghệ thuật là
một thứ trộn lẫn giữa xưa và nay…Chính cái không gian nghệ thuật cổ tích, huyền
thoại và trộn lẫn xưa và nay, thực và hư đã đưa lại cho Thơ mới dân gian Nguyễn
Bính một vẻ đẹp tươi riêng vừa duyên, óng ả, lại vừa mượt mà, mộng mơ” [13; tr.290].
Thơ Nguyễn Bính không chỉ hay ở nội dung mà hình thức nghệ thuật cũng làm người
đọc phải thán phục hơn về tài năng của ông. Chính không gian, thời gian ấy giúp Thơ
mới dân gian Nguyễn Bính có được vị trí nhất định trên thi đàn văn học Việt Nam thời
8
kì hiện đại. Đây cũng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn khi thực
hiện đề tài này.
Thơ Nguyễn Bính thực sự như có “ma lực” làm lay động tâm hồn những ai là “tín
đồ” của thơ ông. Viết về cảnh vật, con người Việt Nam hay vấn đề tình yêu đôi lứa,
Nguyễn Bính luôn chú ý đến việc làm sao cho thơ ông vừa gợi được hình ảnh quen
Thếế gi
giớ
nghệệ thu
thuậật trong th
thơ
Nguyễễn Bính tr
trướ
ướcc năm
1945
1945, chúng tôi có tham khảo tài liệu của các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về thơ
Nguyễn Bính. Có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về thơ Nguyễn Bính ở
các phương diện nội dung, nghệ thuật hay phong cách sáng tác của ông, nhưng ở đây,
chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu về thế giới nghệ thuật trong thơ ông để
9
thấy được cái hay cái đẹp của thơ Nguyễn Bính. Bên cạnh đó, chúng tôi có so sánh đối
chiếu với thơ của các nhà thơ khác để có cách nhìn khách quan hơn trong nghiên cứu.
ươ
ng ph
áp nghi
5. Ph
Phươ
ương
phá
nghiêên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp tiểu sử: Đây là phương pháp cần thiết trong việc nghiên cứu, tìm
cùng.
Trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914), Việt Nam bị
chia cắt thành 3 kì: Bắc kì, Trung kì và Nam kì với ba chế độ cai trị khác nhau. Trong
đó, Bắc kì và Trung kì là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về
hình thức, còn Nam kì là thuộc địa hoàn toàn của Pháp do chúng nắm quyền. Để giúp
việc cho bộ máy hành chính cai trị của Pháp, thực dân Pháp vẫn giữ lại hệ thống chính
quyền phong kiến: dưới làng xã có các xã trưởng, hương trưởng và hội đồng kì hào do
bọn tay sai đứng đầu. Mục đích chính của Pháp chính là muốn chia cắt nước ta, chia rẽ
sự đoàn kết đấu tranh của nhân dân ta và để dễ dàng thống trị nước Việt Nam.
Tiếp sau đó chính quyền thực dân thực hiện ngay công cuộc khai thác thuộc địa
lần thứ hai (1914 – 1918), trên lĩnh vực kinh tế, thực dân Pháp tiến hành chính sách
“cải lương hương chính” nhằm bành trướng thế lực chính trị và từng bước thâu tóm
toàn bộ bộ máy chính quyền của làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ
máy làng xã Việt Nam. Như ta đã biết, dù Pháp là nước thắng trận trong chiến tranh
thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) nhưng vẫn phải hứng chịu hậu quả nặng nề do
chiến tranh gây ra.
Với tình hình như thế buộc chính quyền Pháp phải nhanh chóng tìm ra biện pháp
cần thiết để hàn gắn vết thương chiến tranh. Việt Nam là mục tiêu mà chúng hướng
đến để giúp chúng giải quyết vấn đề trên. Cụ thể trong nông nghiệp, ngoài những cánh
đồng trồng lúa đã xuất hiện thêm những đồn điền cao su, chè, cà phê, hạt tiêu… theo
chủ trương của Pháp thì các chủ đồn điền phải đẩy mạnh việc khai thác nhiều phương
thức canh tác mới, tăng cường bóc lột sức lao động của nông dân, tá điền để nhanh
11
chóng khôi phục lại kinh tế. Còn ở lĩnh vực thương nghiệp, thương nghiệp Việt Nam
đã xuất hiện bóng dáng của nhiều khu chợ lớn như chợ Bến Thành (Sài Gòn), chợ
Đông Ba (Huế), chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Cả lĩnh vực ngoại thương thực dân Pháp
cũng chen chân vào, chúng dựng hàng rào thuế quan để bảo hộ hàng hóa của chúng,
hạn chế đến mức tối đa hàng hóa của nước ngoài nhập và Đông Dương, tạo điều kiện
hình thức đấu tranh phong phú và quyết liệt. Tuy thất bại nhưng cũng đã khẳng định
được đường lối đúng đắn của Đảng, sự đoàn kết khối liên minh công – nông.
Tiếp đó cuộc khủng hoảng kinh tế (1929 - 1933) của thế giới cũng ảnh hưởng đến
Việt Nam, nhất là ở lĩnh vực kinh tế. Trong nông nghiệp, lúa gạo trên thị trường thế
giới bị mất giá làm cho lúa gạo Việt Nam không xuất khẩu được, nhân dân buộc phải
bỏ hoang ruộng đất. Trong sản xuất công nghiệp, sản xuất công nghiệp của Việt Nam
bị đình trệ do thiếu vốn đầu tư bởi thực dân Pháp đã rút vốn đầu tư ở Đông Dương và
dùng ngân sách Đông Dương để hỗ trợ cho thực dân Pháp. Vì vậy, công nhân thất
nghiệp ngày càng nhiều, số người có việc làm thì tiền lương bị giảm đi từ 30 – 50%,
thêm vào đó thực dân Pháp còn tăng sưu thuế lên gấp 2, 3 lần, chính cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới đã làm cho cuộc sống của các tầng lớp trong xã hội Việt Nam
lâm vào cảnh khốn khổ đến tột cùng.
Giai đoạn 1936 - 1939, đánh dấu bước ngoặt lớn cho cách mạng Việt Nam bằng
việc Đảng cộng sản Việt Nam được hoạt động công khai tạo điều kiện cho cả sách báo
của Đảng được tự do công khai phát hành rộng rãi: Tiền phong, Dân chúng, Lao động,
Tin tức… nhằm tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ..
Cụ thể từ tháng 6 - 1936 đến 9 - 1939 đã có tới 43 tờ báo của Đảng được phát hành.
Lúc này, trên thế giới chủ nghĩa phát xít bắt đầu manh nha xuất hiện và tạm thời
thắng thế ở một số nước như Tây Ban Nha, Đức, Italia, Nhật Bản, điều này cho thấy
có nguy cơ xảy ra chiến tranh trên toàn thế giới. Vì vậy, Đại hội VII của Quốc tế Cộng
sản (tháng 7 - 1935) xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít và nguy cơ chiến
tranh lan rộng, bảo vệ hòa bình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi.
Ở nước ta, dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) vẫn còn
tồn tại, trong khi đó thực dân Pháp lại tiến hành chiến dịch khủng bố để đàn áp phong
trào Cách mạng 1930 – 1931 của quân và dân Việt Nam. Với tình hình đó, Hội nghị
ban thường vụ trung ương Đảng họp tại Thượng Hải (Trung Quốc) và tháng 7 – 1936
đã đề ra nhiệm vụ là đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, hòa bình
cho dân tộc. Hội nghị cũng thông qua việc thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân
phản đế Đông Dương nhưng sau đó đã đổi tên thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương
Đúng lúc này, trên thế giới lại nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 –
1945). Đối với Việt Nam, đặc biệt trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đã diễn
ra rất nhiều cao trào nổi dậy giành độc lập nhưng tất cả đều bị thất bại. Vẫn chưa kịp
xây dựng lại lực lượng từ sau những thất bại trên thì một lần nữa cách mạng Việt Nam
lại phải đối mặt với những khó khăn khác đó là việc phát xít Nhật xâm lược nước ta
ngày 22 - 9 - 1940, chúng xâm lược nước ta nhằm mục đích xây dựng căn cứ quân sự
để đánh quân Đồng minh ở Đông Nam Á. Tại thời điểm đó, Việt Nam vẫn còn là một
nước nghèo và lạc hậu so với nhiều quốc gia khác trong khu vực nhưng lại phải chịu
ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai dẫn đến tình trạng Việt
Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến. Nhật Bản bắt đầu bành trướng thế lực ở Đông
Nam Á. Hơn nữa, ngày 9 - 3 - 1945 Nhật vào Đông Dương hất cẳng Pháp ra khỏi Việt
14
Nam. Thực sự chính lúc này đời sống nhân dân ta vô cùng khốn khổ và hậu quả là nạn
đói lớn diễn ra rộng khắp cả nước và có đến 2 triệu người dân chết vì đói.
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương. Ban Thường
vụ mở rộng của Trung ương Đảng đã triệu tập khẩn cấp họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh)
dưới sự chủ tọa của Tổng bí thư Trường Chinh, hội nghị ra quyết định phát động cao
trào kháng Nhật cứu nước, lãnh đạo toàn dân gấp rút chuẩn bị sẵn sàng khởi nghĩa vũ
trang giành chính quyền. Hội nghị cũng đề ra nhiệm vụ cụ thể, các hình thức đấu tranh
làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công.
1.2 Tình hình văn học Vi
Việệt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là một bước ngoặt đánh dấu sự chuyển
hướng mạnh mẽ từ thi pháp trung đại sang thi pháp hiện đại trong sáng tác văn chương.
Trên con đường hiện đại hóa, chỉ trong vòng mười lăm năm ngắn ngủi, văn chương
hiện đại Việt Nam đã tạo nên một sự phát triển nhanh chóng, nhảy vọt.
tiêu biểu cho giai đoạn này đó là Đoạn tuy
tuyệệt (Nhất Linh), Bướ
ướm
trắắng (Nhất Linh),
ừng xu
m mơ ti
Nửa ch
chừ
xuâân (Khái Hưng), Hồn bướ
ướm
tiêên (Khái Hưng). Thứ hai, phong trào
Thơ mới xuất hiện với niềm kháo khát mãnh liệt muốn nhanh chóng thoát khỏi những
nguyên tắc, luật lệ của thơ cũ, giải phóng cái “tôi” bản thể của con người cá nhân. Đi
đầu cho phong trào này có thể kể đến tiếng thơ của Thế Lữ với tác phẩm Mấy vần
ơ, Lưu Trọng Lư với Nắng mới.
ng
ngâây th
thơ
Lưu phái văn chương hiện thực phê phán ở giai đoạn này mới được hình thành,
vẫn chưa có điều kiện phát triển. Một phần cũng là do các tầng lớp tư sản, tiểu tư sản
vẫn còn bị thu hút mạnh bởi tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và Thơ mới. Các nhà văn hiện
thực phê phán thời kì này chỉ sáng tác trong giới hạn phạm vi đề tài về cuộc sống cơ
cực, nghèo khổ của nông dân, đề tài về dân thành thị bị phá sản, bần cùng hóa…
Những vấn đề xã hội quan trọng như chính trị, kinh tế, văn hóa vẫn chưa được đề cập
đến. Tính chất phê phán còn yếu. Có thể kể đến Nguyễn Công Hoan với tập truyện
ngắn trào phúng Kép Tư Bền, Vũ Trọng Phụng với vở kịch Kh
Khôông một ti
tiếếng vang,
mạn không còn chiếm ưu thế trên văn đàn văn học nhưng vẫn phát triển mạnh. Điều
đó được thể hiện ở hai nét chính, thứ nhất, nội dung tiểu thuyết, truyện ngắn của nhóm
Tự lực văn đoàn tiếp tục lên án chống lễ giáo phong kiến, hủ tục lạc hậu, mặt khác chủ
đề cải cách xã hội có phần ảo tưởng cũng được Tự lực văn đoàn khai thác và đưa vào
văn chương. Cụ thể, họ đưa ra một số tiểu thuyết luận đề nhằm vạch ra một lối đi mới
cho người trí thức giàu có đó là quay trở về mảnh đất quê, thành lập đồn điền theo lối
“văn minh” để có thể hưởng được thú vui cuộc sống thanh bình, mặt khác thực thi
những chính sách giảm thuế, mở chợ, trường học cho nông nhân nghèo. Những tác
ng sáng của Hoàng Đạo, tiểu thuyết Gia đì
nh
phẩm tiêu biểu như tiểu thuyết Con đườ
đường
đình
của Khái Hưng, tiểu thuyết Lầm than của Lan Khai, tiểu thuyết Con tr
trââu, Sau lũy tre
của Trần Tiêu. Nét chính thứ hai, phong trào Thơ mới phát triển đến đỉnh cao rồi rơi
vào bế tắc. Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất cho Thơ mới giai đoạn này. Tình yêu
trong thơ ông đã chạm đến tận đáy sâu trong tâm hồn của cái “tôi” tiểu tư sản, tuy yêu
đời, sôi nổi nhưng lại cô độc, bế tắc. Đối với phong trào Thơ mới, Xuân Diệu như cái
bản lề đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ nhất nhưng đồng thời ông cũng là người mở
đầu cho thời kì khủng hoảng của Thơ mới. Ngoài Xuân Diệu thì còn có cái buồn thê
lương của Huy Cận, thơ “điên” mạng đậm chất tượng trưng, siêu thực của Hàn Mặc
Tử.
Ở giai đoạn này, lưu phái văn chương hiện thực phê phán phát triển đến đỉnh cao
vì không khí chính trị xã hội đã thoáng hơn, chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp
không còn gắt gao như trước, đồng thời còn có tiếng nói của Đảng. Nội dung văn học
giai đoạn này là vạch trần mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Những
cái xấu xa, bề đen của xã hội được vạch trần một cách chân thật. Đồng thời thể hiện
khá thành công các nhân vật thuộc tầng lớp nhân dân lao động. Nhiều tác phẩm đã đưa
tiềền và Ông kí cóp của Vi Huyền Đắc.
Còn lưu phái văn chương cách mạng vô sản thì phát triển hơn so với thời kì đầu.
Hàng loạt nhà thơ cách mạng trẻ tuổi, xuất thân từ tầng lớp thanh niên trí thức tiến bộ
thể hiện sự giác ngộ lí tưởng cách mạng. Phong trào “thơ bình dân” phát triển mạnh
mẽ trên các báo chí cách mạng. Tố Hữu xuất hiện đánh dấu bước tiến mới cho thơ ca
cách mạng nói riêng và thơ ca dân tộc nói chung. Có thể nói ở giai đoạn này cả thơ,
văn tự sự, và văn chính luận đều đổi mới theo hướng hiện đại hóa. Tác phẩm tiêu biểu
ục KomTum của Lê Văn Hiến, văn lí luận phê phán của Hải Triều.
như phóng sự Ng
Ngụ
Giai đoạn 1940 - 1945, đây là giai đoạn rơi vào khủng hoảng đến đỉnh điểm đối
với lưu phái văn chương lãng mạn. Đây là thời kì xuống dốc của Tự lực văn đoàn với
m tr
một số tác phẩm như Bướ
ướm
trắắng (Nhất Linh), Thanh Đứ
Đứcc (Khái Hưng), sau đó, Nhất
Linh chuyển sang hoạt động chính trị cho Nhật, ngay cả Khái Hưng và Nguyễn Tường
Long, Nguyễn Tường Bách cũng viết báo để tuyên truyền cho chính phủ bù nhìn của
Trần Trọng Kim mà đứng đằng sau là quân Nhật và còn cho đăng báo truyện dài
Xi
Xiềềng xích để ca ngợi bọn phản cách mạng. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945,
Khái Hưng chuyển sang hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, sáng tác
hàng loạt truyện và kịch ngắn, tiểu luận với nội dung xuyên tạc những người làm cộng
sản, chống lại cách mạng trên tuần báo Chính nghĩa, báo hằng ngày Việt Nam. Lúc này
Thơ mới thật sự rơi vào tình trạng hỗn loạn. Thơ điên, thơ say, thơ loạn ngày càng
phát triển mạnh, trong bối cảnh đó mỗi nhà thơ lại tìm cho mình một con đường thoát
Sống nh
nhờ
Ngoạại ô, Ng
Ngõõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp), tập truyện ngắn
Nằm vạ (Bùi Hiển) đó là những tín hiệu đáng mừng cho lưu phái văn chương hiện
thực phê phán.
Ở giai đoạn này, lưu phái văn chương cách mạng vô sản mặc dù rút vào hoạt
động bí mật nhưng vẫn phát triển mạnh. Thơ ca trong tù hòa với thơ ca mặt trận văn
minh trên tinh thần cứu nước, tinh thần lạc quan, hi vọng một tương lai tươi sáng rực
rỡ cho dân tộc ta. Lúc này, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của thơ cách mạng Tố
Hữu thì bên kia biên giới tập thơ Nh
Nhậật kí trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đời,
đóng góp to lớn cho thơ ca cách mạng Việt Nam. Ngoài ra còn có những tác phẩm của
các tác giả khác như Sóng Hồng, Hồng Quang, Trần Minh Đức, Hồng Chương, văn
chính luận của Trường Chinh.
Phong trào Thơ mới ra đời và phát triển là một sự kiện nổi bật của thơ ca Việt
Nam giai đoạn 1930 - 1945 trên con đường hiện đại hóa. Chỉ trong vòng mười lăm
năm ngắn ngủi phong trào Thơ Mới đã tạo nên một đội ngũ sáng tác khá hùng hậu,
mỗi nhà thơ với phong cách nghệ thuật riêng mang đến cho thơ ca Việt Nam nhiều tác
phẩm có giá trị cả về số lượng lẫn chất lượng. Từ khi ra đời cho đến nay, phong trào
Thơ mới đã trải qua những bước thăng trầm do sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của những
tầng lớp khác nhau trong xã hội. Tuy trải qua nhiều khó khăn nhưng sự kiện phong
trào Thơ mới ra đời tạo cho thơ Việt Nam một diện mạo mới, bước ngoặt quan trọng
mở ra kỉ nguyên mới và nâng tầm thơ ca Việt Nam lên ngang tầm với nền thi ca hiện
đại thế giới.
19
ả Nguy
ngợi quê hương đất nước Việt Nam mà ông còn sáng tác thơ để phục vụ cách mạng, cổ
vũ tinh thần chiến đấu cho quân đội, nhân dân.
Năm 1946 - 1947, ông được giao phụ trách Hội văn nghệ cứu quốc tỉnh Rạch Giá.
ơ yêu nướ
Với Tập th
thơ
ướcc gồm khoảng 10 bài thơ, là những bài thơ kêu gọi tinh thần
chiến đấu vì tổ quốc của Nguyễn Bính. Tập thơ ra đời đánh dấu mốc quan trọng trong
sự nghiệp văn chương của ông với vai trò là một nhà văn - chiến sĩ.
20
Năm 1948 - 1951, Nguyễn Bính công tác tại liên khu Miền Tây, và không ngừng
sáng tác những tác phẩm phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng. Giai đoạn này, ông
vừa làm nhiệm vụ chính trị vừa sáng tác thơ ca cách mạng.
Năm 1952, ông về U Minh sinh sống và sau đó kết hôn với cô Hồng Châu và sinh
được hai cô con gái Hồng Cầu và Hương Mai.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, ra đi mang theo nỗi nhớ vợ con, nhớ miền Nam
thân yêu. Nỗi nhớ ấy cứ âm ĩ, không nguôi trong lòng nhà thơ Nguyễn Bính. Sau
khoảng thời gian tập kết ra Bắc ông trở về công tác tại Hội nhà văn Việt Nam.
Vừa đánh bại được quân Pháp ra khỏi nước ta thì ngay sau đó giặc Mỹ lại tấn
công vào nước ta. Đến lúc này, ông theo cơ quan sơ tán về huyện Lý Nhân, sống tại đó
và tiếp tục sự nghiệp thơ ca của mình.
Ngày 20 tháng 01 năm 1966, Nguyễn Bính qua đời để lại sự nghiệp thơ ca đồ sộ
cho nền văn học Việt Nam. Dù ông đã mất nhưng những áng thơ ca của ông thì luôn
được thế hệ trẻ gìn giữ, dù ở bất cứ nơi đâu ta vẫn thường nghe những bài thơ của ông
được người đời ngâm nga, hát xướng.
Năm 2000, Nguyễn Bính đã được nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
ng Th
Năm 1955, Nguyễn Bính sáng tác liên tiếp 3 tập thơ Đồ
Đồng
Thááp Mườ
ườii, Tr
Trảả ta về,
ườ
Gửi ng
ngườ
ườii vợ ở mi
miềền Nam … Đó là những hoài niệm về mảnh đất đã gắn bó với ông,
một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết.
Những sáng tác của Nguyễn Bính ở cả giai đoạn trước và sau cách mạng tháng
Tám đều đạt được thành công rực rỡ, một điều đáng tự hào cho phong tào Thơ mới nói
riêng và cho văn học Việt Nam giai đoạn bước vào thời kì hiện đại hóa nói chung.
Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính ở cả hai giai đoạn sáng tác trước và
sau năm 1945:
Giai đoạn
ướ
Tr
Trướ
ướcc cách mạng
áng Tám
th
thá
ẩm
Tên tác ph
1941
ườ
Tập thơ Ng
Ngườ
ườii con gái ở lầu hoa
1942
Tập thơ Mườ
ườii hai bến nướ
ướcc
1942
Tập thơ Mây tần
1942
Bóng giai nh
nhâân ( Kịch thơ)
1942
Kh
Khôông nhan sắc ( Truyện)
1942
Tập thơ Sóng bi
biểển cỏ
1947
m
Tập thơ Ông lão mài gươ
ươm
1947
ơ Yêu nướ
Tập thơ Tập th
thơ
ướcc
1947
Sang máu (truyện)
1947
ng
Tập thơ Tr
Trăăng kia đã đứ
đứng
1953
u
1955
ườ
Gửi ng
ngườ
ườii vợ ở mi
miềền Nam
1955
ng Th
Đồ
Đồng
Thááp Mườ
ườii
1955
Tr
Trôông bóng cờ bay ( Truyện thơ)
1957
ơi
Tập thơ Nướ
ướcc gi
giếếng th
thơ
đôii ta
1968
thơ)
23
ới ngh
1.4 Vấn đề th
thếế gi
giớ
nghệệ thu
thuậật trong tác ph
phẩẩm văn học
ái ni
ới ngh
1.4.1 Kh
Khá
niệệm th
thếế gi
giớ
nghệệ thu
thuậật
Trong quyển Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (Nxb Thế giới TP Hồ
Chí Minh), các tác giả đã định nghĩa thế giới nghệ thuật trong văn học như sau: “Thế
giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (tác phẩm,
sáng tác của một tác giả, trào lưu) … Thế giới này là một mô hình có cấu trúc riêng,
mang ý nghĩa khác hẳn so với nghĩa thực của chúng trong thực tại khách quan. Mỗi
24
giai đoạn lịch sử văn học có một hình thái ý thức xã hội khác nhau. Nhân vật cũng thế,
mỗi nhân vật trong tác phẩm của một giai đoạn văn học tượng trưng cho một ý nghĩa
nhất định và những hình tượng ấy mang ý nghĩa như thế nào, điều này phụ thuộc vào
chủ thể sáng tác của tác phẩm.. Ngày nay, nhiều người cho rằng tại sao cô Tấm trong
truyện cổ tích Tấm Cám lại hiền lành đến mức ngây thơ?, bị mẹ con cô Cám lừa gạt
bao nhiêu lần cũng không hay biết, cứ vâng lời làm theo. Một số truyện cổ tích khác
cũng có môtíp giống như vậy như truyện Th
Thạạch Sanh, Cây kh
khếế, Ho
Hoààng tử cứu mẹ,
Sự tích con kh
khỉỉ… Những nhân vật hiền lành như cô Tấm, anh chàng Thạch Sanh,
hoàng hậu Ngọc Lan, cô Mận…đều bị những kẻ xấu xa lừa gạt, hãm hại. Trong xã hội
ngày nay, những ai tính tình hiền lành, ngây thơ như Tấm chắc có lẽ sẽ bị nhiều người
cho là ngốc, quá ngây thơ nhưng đối với thế giới trong truyện cổ tích thì nhân vật Tấm
hành động và cư xử như vậy thì không có gì là sai cả. Nó đúng với quan niệm nhân
sinh của dân gian của một truyện cổ tích. Người hiền sẽ gặp lành, kẻ ác bị trừng phạt.
Bởi thế giới của truyện cổ tích chú ý nhiều đến việc giáo dục đạo đức con người hơn là
chú ý đén tính cách hay hành động của nhân vật. Kết thúc câu truyện, nhân vật tốt
bụng, hiền hậu như cô Tấm, anh chàng Thạch Sanh đều có được hạnh phúc trọn vẹn.
Còn những kẻ xấu xa, gian ác như cô Cám, Lí Thông đều bị trừng phạt thích đáng.
Như vậy, thế giới truyện cổ tích là thế giới của sự đấu tranh giữa thiện và ác. Đó là
một cuộc đấu tranh lâu dài và triệt để để cuối cùng những con người lương thiện sẽ
được đền bù bằng sự vinh hoa, cuộc sống hạnh phúc mãi về sau.
Còn đối với ngôn từ trong thế giới nghệ thuật, ngôn từ trong tác phẩm văn học