GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
.........................................................................................................................................
Bạc Liêu, ngày…..tháng…..năm 2011
Người nhận xét
TS. Nguyễn Thế Truyền
Trường Đại học Bạc Liêu
1
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập, nghiên cứu, rèn luyện ở trường nhờ có sự chỉ dạy tận
tình của quý thầy cô trường Đại học Bạc Liêu đặc biệt là quý thầy cô Khoa Sư phạm
đã giúp em có được ngày càng nhiều kiến thức và những hiểu biết sâu sắc trong học
tập cũng như trong thực tiễn hàng ngày. Và hôm nay khi hoàn thành được niên luận
này em xin chân thành cảm ơn đến:
1.1.2. Thế
giới nghệ thuật của một nhà thơ trữ tình 11
1.2. Vài nét về Hàn Mặc Tử 13
1.2.1. Cuộc đời 13
1.2.2. Sự nghiệp 14
1.2.3. Quan niệm về thơ 15
1.2.4. Quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật 17
Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử 18
2.1 Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh 19
2.1.1. Trong sáng, ngọt ngào 19
2.1.2. Kì dị, lạ thường 21
2.2. Âm nhạc trong thơ 23
Trường Đại học Bạc Liêu
3
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
2.3. Hình tượng: Trăng 25
Chương 3: Sự pha trộn trong thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử 28
3.1. Giữa cổ điển và hiện đại 28
3.1.1. Thơ Đường luật 28
3.1.2. Thơ Mới – Lãng mạn, trữ tình 30
3.1.3. Thơ siêu thực 32
3.2. Đưa màu sắc tôn giáo vào thơ 34
3.2.1. Thiên chúa giáo 34
3.2.2. Phật giáo 35
KẾT LUẬN 38
Tài liệu tham khảo 39
Trường Đại học Bạc Liêu
4
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
PHẦN MỞ ĐẦU
tác của nhà thơ. Từ đó đánh giá đúng vai trò của Hàn Mặc Tử đã góp phần làm nên
sự đa dạng cho nền văn học nước nhà, giúp bổ sung cái nhìn toàn diện về những đặc
sắc trong sáng tác Hàn Mặc Tử.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài để củng cố kỉ năng phân tích, giúp người viết
có thêm nhiều kiến thức về nhà thơ Hàn Mặc Tử và các tác phẩm của ông. Ngoài ra,
nghiên cứu đề tài cũng giúp phục vụ cho công tác học tập, giảng dạy sau này tốt hơn.
Đó cũng là tài liệu cho các bạn sinh viên quan tâm đến vấn đề này.
3. Lịch sử vấn đề
Ngày nay cái tên Hàn Mặc Tử được đông đảo quí đọc giả gần xa biết đến, thơ
ông được đón nhận khá nồng nhiệt. Làm thơ từ năm 16 tuổi, Hàn Mặc Tử bắt đầu sự
nghiệp văn thơ của mình bằng thể thơ Đường luật vốn rất khó khăn, phức tạp. Nhưng
với bàn tay tài hoa của thi sĩ, thể thơ trở nên mượt mà tươi mới và hấp dẫn hơn bao
giờ hết. Nhà thơ được chí sĩ Phan Bội Châu vốn xuất thân Nho học từng đỗ Đầu Xứ
hết lời ngợi khen : “…từ ngày về nước đến nay tôi chưa gặp được bài thơ nào hay
đến thế…”. Sau này, khi gia nhập vào làng thơ Mới với một nguồn thơ đầy sáng tạo,
Hàn Mặc Tử cũng được Hoài Thanh đánh giá cao: “Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng”
và “Vườn thơ Hàn rộng không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh”.
Ngoài ra, với việc tạo cho mình một thế giới nghệ thuật riêng ấy, Hàn Mặc Tử
đã khiến cho các nhà phê bình văn học phải “đau đầu” khi đưa ra nhận xét về thơ
ông, có thể kể đến sau đây:
Trần Tái Phùng: “Nghệ thuật chàng tựa vào một con sông dài đi xuyên qua thế
kỉ chúng ta và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau, đẹp đẽ
đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người”.
Trường Đại học Bạc Liêu
6
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
Nhà thơ Chế Lan Viên: “Thơ anh trước không ai có, sau không có ai. Hàn
Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực
rỡ của mình”.
Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ: “Sẽ không giải thích được đầy đủ hiện
tìm tòi sáng tạo của bản thân, tôi vận dụng đưa vào đề tài. Qua đây chúng ta sẽ thấy
rõ hơn vấn đề tại sao gọi là “thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử”, thấy được
những khám phá sáng tạo phi thường của nhà thơ.
5.2. Phương pháp so sánh
Trong quá trình phân tích “thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử”, tôi
tiến hành liên hệ, so sánh điểm khác biệt của ông với các nhà thơ cùng thời. Như vậy
sẽ giúp cho đề tài thêm sức thuyết phục và góp phần khẳng định tài năng cùng những
đóng góp của Hàn Mặc Tủ cho nền văn học nước nhà.
5.3. Phương pháp hệ thống
Người viết nhận thấy rằng sáng tác thơ của Hàn Mặc Tử là một chỉnh thể nghệ
thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống. Vì thế khi nghiên cứu người viết đặt nó trong
một hệ thống chung theo một trật tự nhất định.
5.4. Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích những nhận xét về thơ Hàn Mặc
Tử có chứng cứ cụ thể. Một mặt nào đó giúp cho việc so sánh đối chiếu có thêm sức
thuyết phục.
6. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài “Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử”, người viết
chọn cách tiếp cận với thế giới nghệ thuật mới mẻ trong dòng văn học đương đại,
khai thác tiếng lòng và những đặc trưng thẩm mỹ của một phong cách thơ độc đáo
Người viết cũng hi vọng rằng sau khi nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp
phần nhận diện thơ Hàn Mặc Tử sâu hơn, rộng hơn và đưa ra được cái nhìn đầy đủ có
hệ thống về tác giả.
Trường Đại học Bạc Liêu
8
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
7. Kết cấu niên luận
Chương 1 : Giới thiệu chung
Chương 2 : Thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử
Chương 3 : Sự pha trộn trong thế giới nghệ thuật Hàn Măc Tử
tác văn học được nhìn nhận như một chỉnh thể. Chúng ta đi vào hiện tượng đó như đi
vào một thế giới riêng, đi vào một cõi sống riêng. Trong bài giảng “Thế giới nghệ
thuật của một nhà thơ trữ tình” Chu Văn Sơn có cách định nghĩa như sau: “Xét đến
cùng thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là một thế giới hình tượng hiện ra
như một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào
đó, được xây cắt bằng chất liệu ngôn từ. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ
vừa là hiện thân của tư tưởng sáng tác. Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một
thế giới động, vừa vận động, vừa phụ thuộc vừa phản ánh những biến chuyển trong
tư tưởng của người nghệ sĩ”.
Vậy, tư tưởng của nhà nghệ sĩ thực chất là gì? Khác với tư tưởng của các hoạt
động trí tuệ khác ở chổ nào? Tư tưởng của nhà khoa học chính là sản phẩm của tư
duy khoa học được vận hành chủ yếu bằng lí trí một cách trừu tượng hóa. Còn tư
tưởng của người nghệ sĩ thì khác, đó là tư duy nghệ thuật, không chỉ vận hành bằng lí
trí mà còn bằng tình cảm. “Người nghệ sĩ không chỉ tư duy bằng bộ óc mà còn tư duy
bằng trái tim” (Leptonxtoi). Khi nhà nghệ sĩ tư duy thì lí trí và cảm xúc hòa quyện
vào nhau. Vậy nên thao tác cơ bản của tư duy nghệ thuật không phải là trừu tượng
hóa mà là hình tượng hóa. Sản phẩm cuối cùng của tư duy khoa học là các khái niệm
trừu tượng, sản phẩm cuối cùng của tư duy nghệ thuật là hình tượng. Rõ ràng có sự
khác biệt nhau.
Tư tưởng của một nghệ sĩ bao giờ cũng là sự hòa điệu giữa quan niệm nhân
sinh và quan niệm thẩm mĩ. Quan niệm nhân sinh trả lời câu hỏi về hạnh phúc, còn
quan niệm thẩm mĩ trả lời câu hỏi về cái đẹp. Cả hai sẽ tạo ra một lực đẩy chung
khiến nghệ sĩ suốt đời tìm kiếm những gì là tinh hoa của cuộc sống. Tư tưởng ấy
cũng chi phối toàn bộ việc kiến tạo nên cái thế giới nghệ thuật của nghệ sĩ đó. Bởi
vậy, muốn nắm được tư tưởng của một người nghệ sĩ không thể né tránh câu hỏi then
chốt: Vẻ đẹp anh ta khao khát là gì? Kết quả anh ta ao ước là gì?
Trường Đại học Bạc Liêu
10
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
Tinh hoa của sự sống theo quan niệm Hàn Mặc Tử đó là vẻ đẹp “Tinh Khiết
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
của Xuân Diệu, hay “đi chậm” của Huy Cận, “bước nhanh” của Tố Hữu, hay “gào,
hét, rên, hú” của Hàn Mặc Tử.
Hình tượng người tình của hồn thơ chính là mẫu hình lí tưởng, chính là cái
đẹp bằng xương bằng thịt mà hồn thơ ấy tôn thờ. Vì thế nó vừa cụ thể, vừa khái quát,
vừa vô hình vừa hữu hình. Thường đối với nam thi sĩ người tình ấy là EM, còn nữ thi
sĩ thì là ANH. Người tình ấy được thi sĩ khắc họa qua những hình tượng phụ nữ trong
thơ mình. Như Hàn Mặc Tử ở tập thơ “Gái quê” người tình hiện lên là một cô gái
trinh trắng, đoan trang. Nguyễn Bính xác định người tình trong bài “Chân quê” khá
rõ, đó là cô gái còn giữ được những nền nếp của thôn quê.
Và sau cùng hình tượng tạo nên thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình là Thế
giới. Thế giới được hiểu như môi trường bao quanh nhân vật Tôi - Người tình, nó bao
gồm: Thiên nhiên (không gian và thời gian), đời sống xã hội (cuộc sống của thi nhân
và các nhân vật trong thơ). Thế giới bao quanh cặp nhân vật Tôi – Em trong thơ Xuân
Diệu là trường tình, với Tố Hữu là một trường tranh đấu.
Thông thường, từng kiểu nhà thơ lại có cá tính sáng tạo khác nhau. Trong thơ
trung đại phần thiên nhiên đậm hơn phần cuộc sống. Thơ cách mạng thì nói nhiều về
tình cảm lớn: đó là tình cảm cái tôi đối với cộng đồng, quê hương, hình tượng lãnh
tụ, người mẹ, người chiến sĩ rất đậm. Hình tượng người yêu nhạt đi, nếu có hình
tượng này phải nương vào tình cảm lớn: tình yêu lứa đôi lồng trong tình đồng chí
(Đồi tím hoa sim - Hữu Loan, Núi đôi - Vũ Cao). Còn thơ lãng mạn chủ yếu nói về
tình yêu cá nhân, những cảm xúc mà thi nhân gặp phải trong cuộc sống đời thường.
Ví dụ như Tố Hữu – một nhà thơ trữ tình chính trị, cái tôi ông thể hiện là
người chiến sĩ, người tình trong thơ là tình đồng chí, thế giới bao quanh nó là cả một
trường tranh đấu.
Ta thử đến với Hàn Mặc Tử - một nhà thơ lãng mạn, sẽ có sự khác biệt như
thế nào? Cái tôi ông muốn thể hiện là chính bản thân mình, với những cảm xúc hết
sức chân thật. Có khi vui vẻ, yêu đời, khi thì đau đớn đến tuyệt vọng. Ngoài ra, Hàn
Mặc Tử còn hiện rõ là một tín đồ tôn giáo, một “con chiên ngoan đạo”, bởi thơ ông
có sự hòa lẫn Thiên chúa giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Tôn giáo ấy là thứ tôn giáo lãng
Hoàn cảnh kinh tế gia đình lúc này sa sút, Hàn Mặc Tử phải bỏ học. Ông làm
viên chức tại sở Đạc Điền Quy Nhơn (1932 - 1933), rồi vào Sài Gòn làm báo
Trường Đại học Bạc Liêu
13
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
(1934 -1935). Đến năm 1936, Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong ông về hẳn Quy Nhơn
chữa bệnh và mất đi tại trại phong Quy Hòa (11/11/1940).
Chính đất Thần Kinh với non nước hữu tình, nơi quy tụ nhiều nhân tài và đặc
biệt sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học đã ảnh hưởng và khai mở hồn thơ
Trọng Trí để sau này ông trở thành nhà thơ thiên tài.
1.2.2. Sự nghiệp
Nguyễn Trọng Trí mở đầu sự nghiệp thơ văn của mình với bút hiệu Minh Duệ
Thị bằng thể thơ Đường luật ngay khi tuổi đời chỉ mới 16. Trong khoảng thời gian
này, cụ Phan Bội Châu mở thi xã Mộng Du, lên tiếng kêu gọi các thức giả xướng họa
thơ văn. Nguyễn Trọng Trí cũng gởi bài đi với bút danh Phong Trần được cụ họa lại
và hết lời khen ngợi.
Tháng 10/1935, ông bỏ sở Đạc điền cùng với một số người bạn thơ văn vào
Sài Gòn làm báo. Tại đây Nguyễn Trọng Trí lấy bút hiệu là Lệ Thanh (tên làng Lệ
Mĩ, chánh quán Tân Thanh ghép lại), ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ của một câu lạc
bộ thơ, bút hiệu Lệ Thanh cũng nổi tiếng từ đó. Nguyễn Trọng Trí cộng tác với báo
Trong Khuê Phòng, Đông Dương tuần báo, báo Người Mới. Năm 1936, khi phụ trách
trang văn chương báo Sài Gòn, Nguyễn Trọng Trí mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử và
sau này thành Hàn Mặc Tử nghĩa là “khách văn chương” theo lời khuyên của một vài
người bạn.
Tuy cuộc đời nhiều bi thương nhưng Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ
có sức sáng tạo nhất trong phong trào thơ Mới. Bắt đầu bằng thơ cổ điển Đường luật
rồi chuyển sang sáng tác với khuynh hướng thơ Mới lãng mạn và sau này tiến xa hơn
là dòng thơ tượng trưng siêu thực. Với một diện mạo hết sức phức tạp và một hồn thơ
bí ẩn của Hàn Mặc Tử người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đau đớn hướng về cuộc đời
trần trụi nơi ông.
Ta thử nghe nhà thơ tiên đoán về cái chết của mình:
“Một mai kia bên khe nước ngọc
Với sương sao anh nằm chết như trăng
Anh không thấy một nàng tiên mô đến khóc
Trường Đại học Bạc Liêu
15
GVHD: TS. Nguyễn Thế Truyền SVTH: Trương Mỹ Yến
Đến hôn anh và rửa vết thương lòng”.
(Duyên kì ngộ)
Và sự thật là thế, khi nhà thơ qua đời không bóng dáng một người thân, bạn bè nào
đến tiễn đưa.
Ở Phan Thiết! Phan Thiết,! thi sĩ thả trí tưởng tượng của mình lên chính tầng
trời:
“Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay lên chín tầng trời cao ngất”.
Đây là tiếng kêu rên từ nội tâm của một linh hồn tuyệt vọng vì thế nó hết sức chân
thật. Hay nỗi đau với giai nhân Mộng Cầm đã khiến cho Hàn Mặc Tử phải “hóa điên
hóa dại”:
“Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”.
(Những giọt lệ)
Trong trường Thơ mới, thơ Hàn Mặc Tử lạ hơn thơ mới và mới hơn những
người làm ra nền thơ ấy. Ông không cắt lìa hồn thơ mình với hồn thơ dân tộc, mà giữ
lại tinh hoa truyền thống nhưng lại có kiểu tư duy lạ. Nguồn thơ ấy không bao giờ vơi
cạn vì Hàn Mặc Tử hiến dâng cho thơ tất cả đời mình:
“Ta muốn hồn ta trào ra đầu ngọn bút
Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta”.
(Rướm máu)
1.2.4. Quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật
Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? Đó là câu hỏi vẫn đang