1
ĐỀ TÀI
Tiềm năng và định hướng khai thác các điểm, tuyến du
lịch tỉnh Phú Thọ 2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phú Thọ là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm miền Bắc Việt Nam, là cửa ngõ nối
liền giữa các tỉnh miền núi phía Tây Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ. Nơi đây là mảnh đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, có nhiều thế mạnh
về du lịch. Mỗi bước chân trên quê hương Đất Tổ chúng ta sẽ thấy sự đan quyện
của dấu ấn lịch sử, di tích của người xưa và phong cảnh tươi đẹp tạo nên niềm
hướng thú say mê, hấp dẫn lòng người. Chính lịch sử và thiên nhiên trên mảnh
đất này đã tạo nên những di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc, những danh lam thắng
cảnh có giá trị về du lịch. Đó là nguồn lực hết sức quý báu hình thành điểm,
tuyến du lịch trong tỉnh. Trong những năm gần đầy, số lượng khách đến các điểm
du lịch trên địa bàn tỉnh ngày càng đông, song nhìn chung doanh thu còn hạn chế.
Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển điểm,
tuyến du lịch Phú Thọ là rất cần thiết. Xuất phát từ tình cảm chân thành đối với
quê hương, em đã chọn đề tài “Tiềm năng và định hướng khai thác các điểm,
nguồn lực du lịch, nêu lên định hướng phát triển du lịch.
V. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Quan điểm nghiên cứu
1.1 Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu du lịch tỉnh Phú Thọ trên quan điểm hệ thống bao gồm các phân hệ
(tài nguyên, khách du lịch ) từ đó hình thành các điểm, tuyến du lịch trong tỉnh.
1.2 Quan điểm lãnh thổ
Việc phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ là một mắt xích khá quan trọng
trong hệ thống phát triển du lịch của cả nước. Đồng thời khi nghiên cứu tiềm
năng, hiện trạng hoạt động du lịch của tỉnh phải thấy được sự phân hóa theo lãnh
thổ (điểm, tuyến du lịch) để từ đó thấy được mối quan hệ giữa chúng với nhau.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp thu thập tài liệu và điều tra
Đây là phương pháp để khảo sát thực tế, thu thập tài liệu, áp dụng việc
nghiên cứu lí luận gắn với thực tiễn, đồng thời thu thập thông tin, số liệu thực
tiễn bổ sung cho vấn đề lí luận hoàn chỉnh hơn.
2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh và thống kê kinh tế
Đây là phương pháp chính để xử lí số liệu trong phòng sau khi đã thu thập
được tài liệu từ thực tế phát triển du lịch của tỉnh và từ các nguồn khác nhau.
2.3 Phương pháp tranh ảnh, bản đồ
Để đề tài thêm phần trực quan, một số tranh ảnh đã được đưa vào để minh
họa. Sử dụng phương pháp bản đồ, để có được một số bản đồ thể hiện hoạt động
du lịch của tỉnh.
VI. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch.
- Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng khai thác các điểm, tuyến du lịch tỉnh
Phú Thọ.
- Chương 3: Định hướng phát triển hệ thống điểm, tuyến du lịch tỉnh Phú Thọ
Về cấu trúc, HTLTDL là một hệ thống gồm nhiều thành phần có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau. Có thể coi các điều kiện và nhân tố du lịch trong sự thống
nhất của chúng ta là một hệ thống mở phức tạp, gồm có cấu trúc bên trong và cấu
trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động
qua lại với nhau. Cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh
và với các hệ thống khác (tư nhiên, kinh tế, xã hội). Đây là một dạng đặc biệt của
một địa hệ mang tính tổng hợp, có đủ các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội và 5
chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản khác. Toàn bộ cấu trúc của HTLTDL
được thể hiện rõ nét qua hai sơ đồ:
Sơ đồ 1 : Cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch (M. Bưchovarov, 1975)
Chú giải:
Luồng khách du lịch
Các mối liên hệ bên trong hệ thống
Các mối liên hệ với hệ thống khác
Các mối liên hệ thông tin giữa nhu cầu và hệ thống lãnh thổ du lịch
II
1
2
5
4
3
HỆ THỐNG DU LỊCH - Tài
nguyên
- Cơ sở
hạ tầng
- Thông
tin
- Điều
kiện dịch
vụ phục
vụ du
lịch - Các điểm,
trung tâm
3
4
2
3
4
1M
ục ti
êu phát tri
ển du lịch
II. Môi
trường
xã hội
I. Môi
trường
kinh tế 6
Trong sơ đồ cấu trúc này:
- Các số La Mã từ I – IV: Môi trường, điều kiện phát sinh du lịch.
- Trong hệ thống du lịch có:
Các điểm du lịch còn có thể phân thành 4 nhóm: điểm du lịch tự nhiên, điểm
du lịch văn hóa, điểm du lịch đô thị và điểm du lịch đầu mối giao thông. 7
Điểm du lịch tự nhiên gồm những điểm du lịch mà hoạt động của nó chủ yếu
dựa vào việc khai thác giá trị các tài nguyên du lịch tự nhiên. Đối với những vùng
có nguồn tài nguyên này, người ta thường xây dựng các trung tâm nghỉ dưỡng và
thể thao.
Điểm du lịch văn hóa phát triển các loại hình du lịch dựa trên những sinh hoạt
văn hóa địa phương có lối sống, phong tục tập quán đặc sắc, các trung tâm lịch
sử, các trung tâm khoa học nổi tiếng như các trường đại học, các viện nghiên cứu
khoa học, thư viện, bảo tàng. Ngoài ra, còn các trung tâm nghệ thuật, trung tâm
tôn giáo…
Điểm du lịch đô thị gồm các điểm du lịch mà ở đó chủ yếu phát triển các loại
hình du lịch liên quan đến các nhân tố kinh tế - chính trị. Đó là các đô thị, trung
tâm kinh tế và chính trị của thế giới, quốc gia hay khu vực
Các đầu mối, mạng lưới giao thông nơi có ga xe lửa, bến cảng, sân bay, nơi giao
cắt các trục đường lớn thường cũng trở thành điểm có nhiều cơ sở vật chất kĩ
thuật du lịch phục vụ du khách như khách sạn, nhà trọ, nhà hàng ăn uống, nơi vui
chơi giải trí, cửa hàng lưu niệm, tạp hóa.
Trên thực tế, các yếu tố tạo nên các điểm du lịch nói trên thường không tách
rời và ảnh hưởng đồng thời lẫn nhau. Bởi vậy, việc sắp xếp các điểm du lịch chủ
yếu theo ý nghĩa của chúng. Đó là hệ thống các điểm du lịch có ý nghĩa địa
phương, vùng, quốc gia và quốc tế. Mỗi đối tượng không gian của hoạt động kinh
tế đều có đặc trưng riêng.
Thứ nhất, điểm du lịch mang tính xen ghép. Tại các điểm du lịch luôn tồn tại
nhiều ngành nghề, đối tượng đa dạng khác nhau và có nhiều hoạt động có thể có
mục đích hỗ trợ hoặc trái ngược. Vì vậy, điểm đến du lịch mang tính phức tạp,
khó kiểm soát và định hướng chặt chẽ.
thống giao thông thuận tiện. Do vây, tuyến du lịch có thể là tuyến đường bộ,
tuyến đường sắt, tuyến đường thủy, tuyến đường không.
Tuyến du lịch là lộ trình nối các điểm du lịch với nhau, về mặt không gian
lãnh thổ trong từng trường hợp cụ thể là tuyến nội vùng hoặc tuyến liên vùng.
Với cấp tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và tuyến du lịch ngoại tỉnh. Tương tự với
các cấp nhỏ hơn một tỉnh như khu vực, một địa phương… cũng có các tuyến nội
ngoại khu vực, địa phương.
2 Các chỉ tiêu để xây dựng điểm, tuyến du lịch
2.1 Các chỉ tiêu cơ bản để xây dựng điểm du lịch
2.1.1 Vị trí của điểm du lịch
Vị trí của điểm du lịch là chỉ tiêu quan trọng trong việc thu hút khách, chúng
được đánh giá thông qua khoảng cách, thời gian đi đường và các loại phương tiện
giao thông có thể sử dụng đến điểm du lịch. Khoảng cách giữa các điểm du lịch
và nơi xuất phát của nguồn khách được tính bằng km với 4 cấp:
- Rất gần: Khoảng cách 10 – 100 km, thời gian đi đường ít hơn 3 giờ, có thể
đi bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng.
- Khá gần: Khoảng cách 100 – 200 km, thời gian đi đường ít hơn 5 giờ, có
thể đi bằng 2 – 3 loại phương tiện thông dụng. 9
- Trung bình: Khoảng cách trên 200 km, dưới 500 km, thời gian đi đường
dưới 12 giờ, có thể đến bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
- Xa: Khoảng cách trên 500 km, thời gian đi đường lớn hơn 24 giờ, có thể đi
bằng 1 – 2 loại phương tiện thông dụng.
2.1.2 Sức hấp dẫn
Độ hấp dẫn khách du lịch là yếu tố có tính chất tổng hợp và thường được
xác định bằng vẻ đẹp của cảnh quan, sự đa dạng của địa hình, sự thích hợp của
khí hậu, tính đặc sắc và độc đáo của các đối tượng du lịch. Sức hấp dẫn của điểm
du lịch được phân thành 4 cấp:
2.1.4 Sức chứa khách du lịch
Là lượng khách tối đa có thể đón đến điểm du lịch trong cùng một thời điểm
mà chưa gây ra những tổn hại đến môi trường tự nhiên, văn hóa – xã hội và
quyền lợi của du khách. Qua khảo sát thực tế, thực nghiệm khi tiến hành các hoạt
động du lịch, các cấp độ về chỉ tiêu sức chứa khách du lịch như sau:
- Rất lớn: Có khả năng tiếp nhận trên 1.000 người/ ngày, trên 250 người/
lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân
văn, con số tương ứng là 500 người/ ngày và 100 người/ lượt tham quan.
- Khá lớn: Có thể tiếp đón 500 – 1.000 người/ ngày, từ 150 – 250 người/
lượt tham quan đối với điểm tài nguyên tự nhiên. Đối với điểm tài nguyên nhân
văn, con số tương ứng là 300 – 500 người/ ngày, 50 – 100 người/ lượt tham quan.
2.1.5 Độ bền vững
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng bền vững của các thành phần hoặc các yếu
tố tự nhiên, nhân văn trước áp lực của hoạt động du lịch, của khách du lịch và các
đối tượng khác hoặc thiên tai. Các mức độ chỉ tiêu bền vững như sau:
- Rất bền vững: Không có thành phần hoặc bộ phận tự nhiên nào bị phá
hoại, khả năng tự phục hồi cân bằng sinh thái của môi trường nhanh; công trình
văn hóa lịch sử còn được bảo tồn tốt, không bị phá hoại bởi môi trường nhiệt đới
ẩm và thiên tai; tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc trên 100 năm; hoạt
động du lịch diễn ra liên tục.
- Khá bền vững: Có từ 1 – 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại
nhưng ở mức độ không đáng kể, có khả năng tự phục hồi tương đối nhanh; công trình
văn hóa lịch sử có bị phá hoại song có khả năng sửa chữa nhanh; tài nguyên có khả
năng tồn tại vững chắc từ 50 – 100 năm; hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên.
- Trung bình: Điểm du lịch có từ 1 – 2 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị
phá hoại đáng kể, phải có sự hỗ trợ tích cực của con người mới phục hồi nhanh
được; công trình văn hóa, lịch sử bị phá hoại tương đối, có khả năng sửa chữa tôn
tạo lại nhưng chậm; tài nguyên có khả năng tồn tại vững chắc từ 10 – 50 năm;
hoạt động du lịch có thể bị hạn chế.
- Kém bền vững: Có từ 2 – 3 thành phần hoặc bộ phận tự nhiên bị phá hoại
các tuyến. Việc xác định các chỉ tiêu để xây dựng điểm, tuyến du lịch và làm cơ
sở cho định hướng khai thác nói trên không chỉ dừng lại ở những điểm, tuyến du
lịch đã khai thác mà còn đánh giá các điểm, tuyến du lịch dưới dạng tiềm năng
chưa có sự quản lí khai thác.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC ĐIỂM, TUYẾN DU
LỊCH VIỆT NAM
Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỷ XX các công trình nghiên cứu
về địa lí du lịch; nhất là những vấn đề về TCLT, cơ sở lý luận và phương pháp
nghiên cứu du lịch chưa nhiều. Chỉ bước vào những năm đầu thập niên 90, khi
hoạt động du lịch Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến, nhiều công trình
nghiên cứu làm cơ sở cho phát triển du lịch đã được thực hiện trong đó việc xác
định, xây dựng các điểm, tuyến du lịch là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giá.
Một số đề tài đã đi sâu nghiên cứu cơ sở cho việc xác định và xây dựng các điểm,
tuyến du lịch dựa trên hệ thống các chỉ tiêu mang tính định lượng, tiêu biều là: 12
“Cơ sở khoa học cho việc xác định các điểm, tuyến du lịch tỉnh Nghệ An” –
Nguyễn Thế Chinh (1995), “Cơ sở khoa học cho việc xây dựng tuyến du lịch” –
Phạm Trung Lương (1996).
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về TCLT du lịch Việt Nam cũng như kết
quả xác định và xây dựng các điểm, tuyến du lịch; hệ thống các điểm, tuyến du
lịch Việt Nam được xác định cụ thể ở các vùng như sau:
- Vùng du lịch Bắc Bộ: Gồm 28 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương từ
Hà Tĩnh trở ra, trung tâm Hà Nội và phụ cận – là nơi tập trung nhiều nguồn tài
nguyên du lịch nhân văn vật thể và phi vật thể. Các sản phẩm du lịch chủ yếu: du
lịch văn hóa – lịch sử, tham quan tìm hiểu văn hóa dân tộc, du lịch sinh thái, du
lịch nghỉ dưỡng biển, núi, chữa bệnh, du lịch thương mại, du lịch làng quê, du
lịch lễ hội, làng nghề.
- Vùng du lịch Bắc Trung Bộ: Gồm 6 tỉnh trực thuộc TW từ Quảng Bình
thoại”, “Con đường di sản”, “Con đường xanh Tây Nguyên”); tuyến du lịch
đường biên vùng núi phía Bắc (chủ yếu theo quốc lộ 4A, B, C, D) và tuyến du
lịch duyên hải Bắc Bộ (theo quốc lộ 10).
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC
ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ
I. TIỀM NĂNG DU LỊCH TỈNH PHÚ THỌ
1. Vị trí địa lí
Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 3.532,5 km
2
(năm 2009) chiếm 1.2% diện
tích cả nước. Dân số toàn tỉnh năm 2009 là 1.316,7 nghìn người. Mật độ dân số
của tỉnh là 373 người/ km
2
. Trong đó, thành phố Việt Trì là nơi tập trung dân cư
đông đúc nhất (trên 1.767 người/ km
2
), sau đó là thị xã Phú Thọ (trên 1.292
người/ km
2
) và huyện Lâm Thao (trên 923 người/ km
2
). Nơi có mật độ dân cư
thưa thớt nhất là huyện Thanh Sơn (133,7 người/ km
2
). Như vậy, sự phân bố dân
cư tỉnh không đồng đều theo các huyện. Những nơi có mật độ cao là thành phố,
thị xã, cac huyện đồng bằng, còn những huyện có mật độ thấp đều là các huyện
miền núi ở phía Bắc và phía Tây của tỉnh.
Về mặt hành chính, toàn tỉnh có 1 thành phố thuộc tỉnh, 1 thị xã, 11 huyện,
vùng núi Tây Bắc, có địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Địa
hình Phú Thọ khá đa dạng: núi thấp, đồi, thung lũng… Phía Tây và Tây Nam của
tỉnh là hệ thống núi thấp là phần kéo dài của dãy Hoàng Liên Sơn bao gồm các
huyện Yên Lập, Sông Thao, Thanh Sơn và Hạ Hòa. Vùng trung du gồm các đồi
thấp xen kẽ đồng bằng bao gồm các huyện Đoan Hùng, Thanh Ba, Phù Ninh…
Phía Đông Nam của tỉnh tương đối bằng phẳng thuộc địa phận các huyện Tam
Nông, Thanh Thủy, Lâm Thao và thành phố Việt Trì.
Địa hình đặc trưng và phổ biến nhất của tỉnh
Phú Thọ là các dãy đồi chạy lúp xúp, gần như
cùng chung một dạng: tròn, đỉnh đồi phẳng, sườn
lồi, bề mặt có phủ một lớp đất đỏ. Độ cao tương
đối của các đồi trung bình khoảng 20 – 25 m.
Những vùng đồi này được khai thác từ lâu, lớp
phủ thực vật tự nhiên đã bị phá hoại nhiều thay
vào đó là các cây công nghiệp quý như sơn, trẩu,
sả và nhất là chè… và một số loại cây ăn quả.
Trên những vùng đồi này còn có diện tích khá
lớn cây cọ mọc tự nhiên, cũng chính vì vậy mà “Rừng cọ đồi chè” từ lâu trở
thành biểu tượng của tỉnh Phú Thọ.
15
Hầu hết lãnh thổ của tỉnh Phú Thọ nằm trong vùng đồi núi chiếm hơn 65%
diện tích tự nhiên của tỉnh. Thực chất đây là mặt san bằng cổ tương đối ổn định
về cấu tạo, đã bị xâm thực chia cắt từ lâu và đang nằm trong sự phát triển đi
xuống, biểu hiện ở chỗ đỉnh đồi ngày càng bị san bằng, các sườn thoài hơn và các
thung lũng ngày càng được mở rộng.
Sự đa dạng, phong phú của các dạng địa hình tại Phú Thọ có giá trị du lịch,
đặc biệt về cảnh quan. Non xanh nước biếc lại được dát nắng vàng ban mai hay
tham quan, cắm trại kết hợp với du lịch về nguồn, góp phần góp cho ngành du
lịch của tỉnh phát triển tốt.
2.1.2 Khí hậu
Cùng chung đặc điểm khí hậu của vùng núi phía Bắc Việt Nam, Phú Thọ là
tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp
của gió mùa.
Do ảnh hưởng của địa hình nên về mùa hè với luồng mở của địa hình Phú
Thọ, thuận lợi đón gió mùa hạ nên mưa ở đây khá lớn. Riêng vùng núi Thanh
Sơn, Yên Lập thì mang sắc thái á chí tuyến khá rõ
Chế độ nhiệt của Phú Thọ có đặc điểm nhiệt độ trung bình năm là 23,5
0
C.
Trong chế độ nhiệt phân ra hai mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.
Hàng năm, trên toàn tỉnh có từ 2 đến 3 tháng có nhiệt độ dưới 18
0
C. Riêng ở
những vùng miền núi như Thanh Sơn, Yên Lập thì có khoảng 3 đến 4 tháng lạnh
dưới 18
0
C và tháng 1 là tháng lạnh nhất trong năm. Vào mùa hè do ảnh hưởng
của địa hình nên nhiệt độ ở đây không quá cao, nhiệt độ tháng cao nhất trong năm
là tháng 7 cũng chỉ dao động từ 28
0
C đến 29
0
C.
Như vậy, với chế độ nhiệt này thì nhiệt độ tối thấp tuyệt đối ở đây thường
xuất hiện vào tháng 1 và có thể xuống tới 3
0
321
311 384 96 147
32
16 1822
Minh Đài 39 44 112
80 262
474
405 423 170
348
39
22 2418
Phú Hộ 30 54 130
88 202
341
286 283 106
148
ẩm, hơi ẩm, tháng III còn có
mưa phùn nhưng ít.
Rất thuận lợi
cho du lịch văn
hóa, lễ hội
VI→IX Nắng nóng, mưa
nhiều
Nhiệt độ 27
0
- 30
0
C, lượng mưa
TB là 278 mm/ tháng, cực đại
vào tháng 8 là 384 mm, chịu
ảnh hưởng của bão.
Thuận lợi cho
du lịch thăm
quan, cắm trại,
du lịch sinh thái
X, XI Hơi ẩm đến khô,
hới lạnh đến lạnh
Nhiệt độ 19
0
- 25
0
C, thời tiết
khô, mát mẻ.
Thuận lợi
Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ 2009
Hình 3: Đầm Ao Châu được coi là một Hạ Long trên đất Phú Thọ 19
Đầm Ao Châu là một hồ nước ngọt bán tự nhiên với diện tích là 280 ha,
cách trung tâm thị trấn huyện Hạ Hòa 2 km theo hướng Đông Bắc. Nguồn nước
của hồ khoảng 15 triệu m
3
nước ngọt với chất lượng nước tốt được dung cho
công nghiệp, sinh hoạt của nhân dân và dùng cho nông nghiệp địa phương. Hồ
đóng vai trò điều hòa vi khí hậu trong khu vực, làm tăng độ ẩm của những đồi
ven hồ, làm cho quá trình phục hồi rừng dễ dàng hơn.
Qua bến Ao Châu thấy mở ra cả một vùng hồ mênh mông xanh ngắt. Nhiều
đồi vải đã khép tàn, rồi đồi chè, đồi mơ… tất cả như vô vàn cây cầu xanh đang
trôi nổi trên mặt hồ bồng bềnh xao động. Hồ tỏa ra những nhánh, những ngách
bao quanh đồi núi, có những nhánh chạy sâu hun hút về chân núi xa. Thuyền
thẳng ra nơi có cảnh quan kỳ thú, với những dãy kiến trúc cổ gồm những ngôi
nhà tám mái, nhà đỉnh tròn. Những mái ngói và ngọn tháp khuất hở nhô cao sau
những tán cao.
Hiện nay, đầm Ao Châu đang nổi lên như một điểm du lịch hấp dẫn. Đầm có
99 ngách lớn thu nước của 99 con suối lớn nhỏ đổ về. Trong phạm vi của đầm có
khoảng 25 đảo và một bán đảo rộng lớn. Phía Tây Nam của đầm thông với sông
Hồng bằng một con ngòi có tên rất huyền thoại Ngòi Lửa.
Đầm Ao Châu là một hồ nước ngọt rộng nhất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đó
là một thắng cảnh hiếm có ở vùng đồi trung du và khả năng sẽ có một điểm du
lịch chính của Phú Thọ trong tương lai không xa.
Đầm Cả nằm ở khu hành chính mới của tỉnh cách trung tâm thành phố
Việt Trì khoảng 1,2 km về phía Đông. Đầm Cả có diện tích mặt nước 58,77
ha, nằm trong quy hoạch xây dựng công viên Văn Lang (111 ha) với tổng vốn
đầu tư là 300 tỷ đồng. Trong thời gian ngắn nữa khi công trình này khánh
về thành phần loài động thực vật, ở đây còn có nhiều loài quý hiếm vừa có giá trị
kinh tế cao, lại có giá trị du lịch như gà lôi, phượng hoàng đất, sóc bay… tuy vậy,
hiện nay vẫn chưa được khai thác đầy đủ. Khu bảo tồn Xuân Sơn được thành lập
tại khu vực này, trong tương lai có thể phát triển các loại hình du lịch, tham quan,
nơi nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới trên núi.
2.1.5 Các khu bảo tồn
Phú Thọ có một số khu bảo tồn quan trọng có giá trị kinh tế, khoa học và
đặc biệt có giá trị về du lịch.
2.1.5.1 Khu bảo tồn Xuân Sơn – huyện Thanh Sơn
Vườn quốc gia Xuân Sơn thuộc địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Vị
trí vườn nằm ở đúng điểm cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, cửa ngõ của vùng tây
Bắc Bộ. Được coi là tiềm năng du lịch tự nhiên nổi trội nhất của Phú Thọ. Vườn
quốc gia Xuân Sơn xứng đáng là một trong những di sản thiên nhiên đặc sắc của
quốc gia. Vườn quốc gia có tổng diện tích 15.048 ha, vùng đệm 18.639 ha, trong
đó khu bảo vệ nghiêm ngặt là 9.099 ha. Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn
quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi. Xuân Sơn được đánh giá
là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình
kiến tạo nên đa dạng cảnh quan. 21
Vườn quốc gia Xuân Sơn có 726 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 475
chi và 134 họ trong đó có 52 loài thuộc ngành quyết và ngành hạt trần. Có 365
loài động vật, trong đó có 46 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 18 loài ghi trong
sách đỏ thế giới. Ngoài các loài đặc trưng cho khu hệ động vật Tây Bắc như vooc
xám, vượn chó, cày bạc má, sóc bụng đỏ đuôi trắng, gấu, báo… về chim có gà
lôi, gà tiền, đại bang đất, riếng sơn dương có nhiều nhất toàn quốc.
Đến Xuân Sơn còn là đến với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú. Tại đây
có 3 đỉnh núi cao trên 1.000 m là núi Voi, núi Ten và núi Cẩn với hàng trăm
hang động, sông suối như suối Lấp, suối Thang, các thác nước… Trong đó,
các lễ hội truyền thống, các làng nghề thủ công truyền thống, những giá trị văn
hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội, ẩm thực thể hiện bản sắc văn
hóa địa phương.
Phú Thọ là vùng Đất Tổ - chiếc nôi của văn hóa Việt Nam mà sự phát triển
của nó gắn với cồng cuộc dựng nước, giữ nước của cha ông ta với bề dầy lịch sử
trên 1.000 năm. Vì vậy, tài nguyên nhân văn ở đây cũng khá đa dạng có thể khai
thác cho mục đích du lịch.
2.2.1 Các di tích văn hóa lịch sử
Lịch sử hình thành và phát triển đã tạo cho Phú Thọ nhiều tiềm năng về các
di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, lịch sử cách mạng… có giá trị cho
nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch. Mỗi thời kỳ lịch sử đều để lại cho Phú
Thọ những di tích có ý nghĩa khác nhau nhưng đều mang đậm bản sắc văn hóa
vùng Đất Tổ. Tính đến 4/2001 toàn tỉnh có 51 di tích được xếp hạng cấp quốc gia
và nhiều di tích có ý nghĩa địa phương.
Các di tích lịch sử văn hóa của Phú Thọ gồm 4 loại di tích cơ bản sau:
Hình 4: Đài tưởng niệm chiến thắng sông Lô – Đoan Hùng
- Di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến là nơi lưu niệm những sự kiện lịch
sử, lưu niệm danh nhân, căn cứ địa cách mạng, chiến thắng, nơi ghi dấu tội ác 23
như: Chiến khu Hiền Lương (Hạ Hòa), chiến thắng sông Lô (Đoan Hùng), di tích
lưu niệm Hồ Chủ Tịch ở Cổ Tiết (Tam Thanh), chiến khu 10 Đại Phạm…
Theo thống kê, loại di tích nay gồm 23 di tích, chủ yếu nằm ở các huyện
miền núi như Hạ Hòa, Đoan Hùng.
- Di tích khảo cổ học gồm 6 di chỉ là địa điểm cư trú của loài người tiền sử
đã được nghiên cứu, khai quật và xác minh như: Vi Sơn, Phùng Nguyên (Phong
Châu), làng Cả (Việt Trì) và một số địa điểm khác nằm rải rác ở các huyện Tam
Nông, Hạ Hòa.
(Tính đến tháng 4/ 2009) Tổng số
Trong đó
Quốc gia Địa phương
Tổng số 129 51 78
Theo loại hình
Đình
Chùa
Đền
Lăng
Di tích khác
52
27
37
1
12
19
11
11
10
33
16
26
1
8
1
4
2
7
14
3
1
5
9
1
20
6
4
8
4
12
6
1
Nguồn: Sở thương mại du lịch Phú Thọ
Bảng 5: Mật độ các di tích đã được xếp hạng của Phú Thọ
(Tính đến tháng 4/ 2009)
STT
Huyện, thị Diện tích
(km
2
- Ít: Có từ 2 - 4 di tích được xếp hạng trên 100 km
2
- Rất ít: Có từ 0 - 1 di tích được xếp hạng trên 100 km
2
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ:
- Những huyện, thị có nhiều di tích được xếp hạng: thành phố Việt Trì,
huyện Tam Nông, huyện Lâm Thao.
- Những huyện thị có số di tích được xếp hạng ở mức trung bình: thị xã Phú
Thọ, huyện Thanh Thủy, Sông Thao, Phong Châu, Thanh Ba.
- Những huyện có số di tích được xếp hạng ở mức ít: huyện Đoan Hùng, Hạ Hòa.
- Những huyện có số di tích được xếp hạng ở mức rất ít là huyện Thanh Sơn,
Yên Lập.
Có thể nói, Phú Thọ là một tỉnh có nhiều di sản văn hóa lịch sử, có nhiều
kiểu kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, có ý nghĩa lịch sử.
Đánh giá về tiềm năng du lịch Phú Thọ, sẽ thật thiếu sót nếu không nói đến
vẻ đẹp riêng của các làng cổ ở Việt Trì. Đó là các làng đồi, những ngôi nhà được
xây dựng ven đồi, thấp thoáng sau những tán cây. Hướng nhà ở đây đều quay về
các triền sông hoặc hướng theo dòng chảy sông. Vẻ đẹp ở đây ngoài giá trị lịch
sử lâu đời còn có sự hài hòa của cảnh sắc thiên nhiên, con người: mỗi nhà đều có
vườn cây, ao cá… Mỗi làng lại có một ngôi đình, ngôi chùa được xây dựng từ
lâu, với những kiến trúc độc đáo thể hiện tư duy, tình cảm của nhân dân, của các
bậc tài hoa thủa trước. Những nét đẹp truyền thống cổ xưa vẫn được nhân dân ở
đây trân trọng và duy trì thể hiện qua từng lời ăn, tiềng nói, giao tiếp ứng xử.
Với lịch sử phát triển là vùng đất cội nguồn dân tộc, những di tích lịch sử
văn hóa còn để lại, nó có ý nghĩa lịch sử giáo dục truyền thống, ngoài ra còn phục
vụ cho công tác nghiên cứu khoa học đặc biệt trong thời kỳ mở cửa nó có giá trị
lớn phát triển du lịch