phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh vĩnh long, hiện trạng và định hướng - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Ngọc Sĩ

PHÁT TRIỂN CÁC ĐIỂM, TUYẾN
DU LỊCH TỈNH VĨNH LONG:
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Ngọc Sĩ

PHÁT TRIỂN CÁC ĐIỂM, TUYẾN
DU LỊCH TỈNH VĨNH LONG:
HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
Chuyên ngành

: Địa lí học

Mã số

: 60 31 05 01


lý di tích và cán bộ quản lý du lịch ở các điểm du lịch của tỉnh Vĩnh Long và những
người thân trong gia đình, đồng nghiệp cùng bạn bè đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2013
Tác giả

Nguyễn Ngọc Sĩ

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 5
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 6
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................................. 6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 6
3. Giới hạn nghiên cứu đề tài ............................................................................................. 7
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài ............................................................................................... 7
5. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu ............................................................... 9
6. Đóng góp chủ yếu của đề tài ........................................................................................ 12
7. Cấu trúc luận văn ......................................................................................................... 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC
ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH ........................................................................................ 13
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................................... 13
1.1.1. Khái niệm du lịch ................................................................................................. 13

3.3. Giải pháp thực hiện ................................................................................................... 92
3.3.1. Giải pháp về cơ chế chính sách du lịch ................................................................ 92
3.3.2. Giải pháp về quy hoạch du lịch ............................................................................ 93
3.3.3. Tổ chức, quản lý hoạt động du lịch ...................................................................... 93
3.3.4. Huy động vốn đầu tư cho phát triển du lịch ......................................................... 94
3.3.5. Đầu tư về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch .................... 95
3.3.6. Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch ......................... 96
3.3.7. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch....................................................... 96
3.3.8. Liên kết hợp tác phát triển du lịch ........................................................................ 97
3.3.9. Tuyên truyền quảng bá, xúc tiến phát triển các điểm, tuyến du lịch.................... 98
3.3.10. Bảo vệ môi trường và bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch................................... 98
3.4. Kiến nghị – đề xuất .................................................................................................... 99
3.4.1. Đối với Tổng cục Du lịch ..................................................................................... 99
3.4.2. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long .......................................................... 100
3.4.3. Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long ................................ 100
3.4.4. Đối với các Sở, Ban ngành liên quan ................................................................. 100
3.4.5. Đối với các địa phương ở tỉnh Vĩnh Long có hoạt động du lịch ........................ 101

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 105
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 107

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT

STT


Tổng sản phẩm quốc dân

6

HTLTDL

Hệ thống lãnh thổ du lịch

7

KT – XH

Kinh tế – xã hội

8

Nxb

Nhà xuất bản

9

QHTT

Quy hoạch tổng thể

10

QL


nguồn tài nguyên, góp phần tăng nguồn thu nhập, tạo cơ hội thu hút đầu tư và nâng cao hiệu
quả hoạt động du lịch.
Việt Nam trong tiến trình hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới đã mở ra giai
đoạn phát triển mới cho tất cả các ngành, các lĩnh vực, trong đó có du lịch. Phát triển du lịch
đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển với những chủ trương và chính sách
cụ thể.
Vĩnh Long là một trong những tỉnh ở vùng du lịch ĐBSCL, có nhiều thế mạnh phát triển du
lịch. Với điều kiện khí hậu thuận lợi, những cảnh quan sông nước, hệ sinh thái tự nhiên, vườn
cây ăn trái; những di tích lịch sử, văn hóa gắn với nếp sống của cư dân nông nghiệp, nông thôn
hấp dẫn, đã tạo được sự cuốn hút đối với khách du lịch.
Trong nhiều năm qua, ngành du lịch tỉnh Vĩnh Long đã tận dụng lợi thế phát triển các điểm,
tuyến du lịch đặc trưng, phục vụ nhu cầu của du khách trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, hiện
nay hoạt động du lịch tại các điểm, tuyến du lịch của tỉnh còn đơn điệu, chưa đạt hiệu quả cao
và chưa tương xứng với tiềm năng. Do đó, việc đánh giá thực trạng phát triển các điểm, tuyến
du lịch và đề ra những định hướng phát triển hoàn thiện các điểm, tuyến du lịch theo hướng
phát triển du lịch bền vững là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn trên và từ sự đam mê muốn nghiên cứu về điểm, tuyến du lịch của
tỉnh nhà, tôi quyết định chọn đề tài: “PHÁT TRIỂN CÁC ĐIỂM, TUYẾN DU LỊCH TỈNH
VĨNH LONG: HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG” để thực hiện luận văn thạc sĩ, với mong
muốn góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững của tỉnh.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
6


Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các điểm, tuyến du lịch vào phân tích
thực trạng phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2002 – 2012.
Từ đó đề ra những định hướng phát triển hoàn thiện các điểm, tuyến du lịch nhằm thúc đẩy

7


Từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu
đề cập trực tiếp đến điểm, tuyến du lịch như:
- “Nguyên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch” của Kadaxki (1972),
Sepfer (1973). Đây là công trình đầu tiên đưa ra khung đánh giá sức chứa của điểm du lịch,
nó trở thành công cụ cơ sở cho việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá các tiềm năng của các
điểm du lịch.
- “Nghiên cứu xác định các tuyến, điểm du lịch giữa biên giới Ba Lan và Đức” của
Lechoslaw Czernic, Halina, Orlinska (Ba Lan) và Edfrank (Hà Lan) (1994). Công trình đã
phân tích các điều kiện tự nhiên, KT – XH có tác động đến du lịch và phương pháp xác định
các tuyến, điểm du lịch cũng như việc bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển du lịch
bền vững.
Từ đầu năm 1990 đến nay, việc nghiên cứu về các điểm, tuyến du lịch được quan tâm
nhiều hơn nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch và hạn chế các tác động tiêu cực
của hoạt động du lịch, bảo tồn các giá trị của môi trường tự nhiên, phát huy các giá trị văn
hóa. Trong đó, đáng chú ý là công trình nghiên cứu “Phát triển và quản lý du lịch địa
phương” của Ngô Tất Hổ (Trung Quốc) (2000).
4.2. Ở Việt Nam
Du lịch là một ngành kinh tế có lịch sử phát triển khá trẻ, được nghiên cứu từ giữa thập
kỷ 90 của thế kỷ XX và cũng được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu về du
lịch và môi trường. Các công trình nghiên cứu đề cập đến tuyến, điểm du lịch như:
- “Cơ sở khoa học cho việc xác định các tuyến, điểm du lịch” của Phạm Trung Lương –
Viện nghiên cứu phát triển du lịch (Hà Nội, 1998) đề cập đến cơ sở khoa học cho việc xác
định các tuyến, điểm du lịch và kết quả ứng dụng đối với phát triển các loại hình du lịch ở
Hà Nội và phụ cận.
- “Tuyến, điểm du lịch Việt Nam” của Bùi Thị Hải Yến (Hà Nội, 2006) đề cập đến điều
kiện tự nhiên, KT – XH của các vùng du lịch Việt Nam, xác định một số tuyến du lịch chính
của các vùng du lịch Việt Nam.

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long phải
được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng hợp giữa các mặt kinh tế, xã hội và môi trường và
mối quan hệ lãnh thổ để xác lập các tuyến du lịch nội tỉnh, liên tỉnh và quốc tế.
Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến sự hình thành và phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống là một trong những quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên
cứu du lịch. Nghiên cứu phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long không thể tách
khỏi hệ thống phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Long, của vùng ĐBSCL và của cả nước.

9


Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích thực trạng và
định hướng phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long phải phù hợp với sự phát triển
KT – XH và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ở phạm vi cả nước, vùng và địa phương.
5.1.3. Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hay phát triển theo quá trình phát
sinh của nó. Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu
của quá trình phát triển hệ thống du lịch của Vĩnh Long.
Vĩnh Long là vùng đất được thành lập với hàng trăm năm, có nhiều lần đổi tên và thay
đổi về ranh giới hành chính. Tuy nhiên cho đến nay, vùng đất này vẫn còn giữ được những
đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, văn hóa và con người. Những đặc điểm này được
khai thác cho phát triển KT – XH nói chung, phát triển du lịch nói riêng. Nghiên cứu thực
trạng phát triển các điểm, tuyến du lịch của tỉnh trong quá khứ để có được những đánh giá
đúng đắn hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển mới có cơ sở để đưa ra những
định hướng phát triển các điểm, tuyến du lịch của tỉnh đạt hiệu quả.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển du lịch đã trở thành một ngành kinh tế đem lại hiệu quả cao, góp phần thúc
đẩy sự phát triển KT – XH của tỉnh và của đất nước. Song, phát triển du lịch phải gắn với

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và có tính
giáo dục cao về môi trường, thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương, … Phân tích, so
sánh, tổng hợp sẽ tìm ra được sự khác biệt về mặt địa lý, tìm ra những kết quả có tính quy
luật của du lịch.
Trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả đã phân tích, so sánh, tổng hợp về thực trạng
phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long, từ đó đề xuất những định hướng và giải
pháp phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long.
5.2.4. Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp truyền thống và đặc thù của địa lý học, được sử dụng rộng rãi
trong địa lý du lịch nhằm tích lũy tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm
của TCLTDL. Trong quá trình thực hiện luận văn, phương pháp này luôn được coi trọng vì
nó phản ánh thực tiễn khách quan của đề tài luận văn nghiên cứu.
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, khi nghiên cứu về các điểm, tuyến du lịch, tác giả đã tiến
hành thực địa ở nhiều điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh Long.
Các nguyên cứu thực địa đã được tiến hành nhiều đợt, từ những đợt thực địa quan sát,
ghi chép, khám phá đến những đợt thực địa tham gia các buổi thuyết trình, hội thảo, sau đó
tổng kết và đưa ra những nhận định khái quát về phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh
Long.
5.2.5. Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nguyên cứu, tác giả luôn tranh thủ ý kiến của các chuyên gia đầu
ngành về du lịch, các nhà quản lý du lịch địa phương và cộng đồng dân cư địa phương về
11


những định hướng và giải pháp phát triển các điểm, tuyến du lịch tỉnh Vĩnh long trong
tương lai.
5.2.6. Phương pháp bản đồ
Đây là phương pháp đặc thù của nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý du lịch nói
riêng. Phương pháp này được sử dụng từ khâu đầu tiên đến khâu cuối của quá trình tìm
hiểu, khảo sát nghiên cứu. Các mối liên hệ về không gian, thời gian, số lượng, chất lượng

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một nhu
cầu, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người.
Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã
hội và được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng của nhiều nước trên thế giới.
Tuy nhiên, khái niệm du lịch được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan
điểm riêng.
Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối
hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”

[18] . Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du
lịch.
Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian
của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. [18]
Theo I.I Pirojnik (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi
liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ
ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc
thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”. [18]
Tháng 6 năm 1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê Du lịch đã định
nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên
(nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được
các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các
hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”. [18]
Hội nghị lần thứ 27 (1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm
du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi
khác với môi trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại đó để
tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù
lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”. [18]
13



và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản. [18]
14


4

I

1

2

3

5
II

Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch (M. Buchovarop, 1975)
Trong đó:

I

Môi trường với các điều kiện phát sinh (nhu cầu du lịch)

II

Hệ thống lãnh thổ du lịch

Các mối liên hệ
thông tin giữa I và II



HỆ THỐNG LÃNH THỔ DU LỊCH
I.
Môi
trường
kinh tế

II.
Môi
trường
xã hội

Mục tiêu phát triển du lịch

Vào

Phân tích hệ thống

- Tài
nguyên
- Cơ sở
hạ tầng
- Thông tin
- Điều kiện
dịch vụ
phục vụ
du lịch

III.

- Thể tổng
hợp du lịch
- Quy hoạch
du lịch

IV.
Môi
trường
sinh
thái

V.
Môi
trường
chính
trị
Sơ đồ 1.2 : Cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch (kết hợp sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch của M.
Bưchovarop, 1975 và hệ thống không gian du lịch của Ce – caspar, 1990)
Trong đó:

- I, II, III, IV, V: Môi trường, điều kiện phát sinh du lịch.
- Trong hệ thống lãnh thổ du lịch:
+ Đầu vào: Tài nguyên, cơ sở hạ tầng, thông tin, điều kiện dịch vụ phục vụ du lịch.
+ Phân tích hệ thống: A, B, C là các kiểu hệ thống lãnh thổ du lịch, gồm các phân hệ: 1.
Khách du lịch; 2. Cán bộ phục vụ; 3. Tài nguyên du lịch; 4. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
+ Đầu ra: Các điểm du lịch, trung tâm du lịch, các tuyến du lịch, các vùng du lịch, thể
tổng hợp du lịch, quy hoạch du lịch.
1.1.2.2. Điểm du lịch
Điểm du lịch là cấp phân vị thấp nhất, là kết quả đầu ra trước tiên trong HTLTDL. Về
mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ. Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta có thể

1.1.2.3. Tuyến du lịch
Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch, được tạo bởi nhiều điểm du
lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch với nhau thành
một lộ trình du lịch phù hợp và thuận lợi nhất cho du khách trên lãnh thổ. Cơ sở tiền đề cho
việc xác định các tuyến du lịch là các điểm du lịch và hệ thống giao thông thuận tiện.
Hiện nay có nhiều cách phân loại tuyến du lịch:
17


- Theo hệ thống giao thông: Tuyến du lịch bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy,
đường hàng không.
- Xét về mặt không gian lãnh thổ: Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia có tuyến du lịch
nội vùng và tuyến du lịch liên vùng; trong phạm vi cấp tỉnh có tuyến du lịch nội tỉnh và
tuyến du lịch ngoại tỉnh.
- Theo chức năng của các điểm du lịch: Tuyến du lịch tổng hợp và tuyến du lịch
chuyên đề.
Theo Khoản 9, Điều 4, Chương I, Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Tuyến du lịch là lộ
trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các
tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”. [18]
Và theo các Khoản 1, 2, Điều 25, Chương IV, Luật Du lịch Việt Nam (2005), tuyến du
lịch phân chia thành hai cấp:
- Tuyến du lịch quốc gia: Là tuyến nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu
du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu
quốc tế; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch
dọc theo tuyến. [18]
- Tuyến du lịch địa phương: Là tuyến nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi
địa phương; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du
lịch dọc theo tuyến. [18]
1.1.2.4. Một số khái niệm liên quan đến việc phát triển điểm, tuyến du lịch
- Sản phẩm du lịch:

các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi
xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi. Tuy nhiên, cần phân biệt tour du lịch với tuyến du
lịch. Tuyến du lịch là lộ trình nối các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du
lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không,
còn tour du lịch là chương trình du lịch về sản phẩm du lịch có quy định giá bán, lịch trình
chuyến đi.
Nội dung của chương trình (tour) du lịch bao gồm :
- Tổng quỹ thời gian n ngày và n – 1 đêm.
- Tiến hành trình (lộ trình).
- Kế hoạch hoạt động chi tiết cho từng ngày.
- Phương án vận chuyển, ăn uống, lưu trú cùng hoạt động tham quan, vui chơi giải
trí, …
- Mức giá chương trình.
- Các điều khoản trong điều kiện của chương trình du lịch.
Chương trình du lịch được phân thành các nhóm như sau:
- Căn cứ vào phương thức tổ chức chương trình du lịch, bao gồm:
19


+ Chương trình du lịch theo nguyện vọng của khách du lịch.
+ Chương trình du lịch do công ty lữ hành chủ động xây dựng và thực hiện.
+ Chương trình kết hợp giữa hai hình thức trên.
- Căn cứ vào thời gian tổ chức chương trình du lịch, bao gồm:
+ Chương trình du lịch dài ngày.
+ Chương trình du lịch ngắn ngày.
- Căn cứ vào mức giá chương trình du lịch, bao gồm:
+ Chương trình du lịch theo giá trọn gói.
+ Chương trình du lịch theo mức giá cơ bản.
+ Chương trình du lịch theo giá một phần.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ

vị trí địa lý là yếu tố cơ sở, tiền đề quan trọng được xem xem xét đầu tiên trong không gian
lãnh thổ và yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát
triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn.
1.1.3.2. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của
chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm
đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững. [18]
Tài nguyên du lịch vừa là một phân hệ trong HTLTDL vừa là yếu tố cơ bản để tạo thành
các sản phẩm du lịch và là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch.
Du lịch là ngành có sự định hướng tài nguyên. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp
đến cơ cấu, quy mô hoạt động du lịch và ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển du
lịch của một quốc gia hay một vùng hay một địa phương. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài
nguyên du lịch với chất lượng càng cao và mức kết hợp các loại tài nguyên càng phong phú
thì sức thu hút khách du lịch của nó càng mạnh.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh
chúng ta bị lôi cuốn vào hoạt động du lịch. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại Chương
II, Điều 13: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí
hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du
lịch”. [19]
+ Tài nguyên địa chất – địa hình:
Đối với hoạt động du lịch, tài nguyên địa chất tại các điểm du lịch dựa vào tự nhiên
cần nghiên cứu tìm tòi và khai thác là: lịch sử phát triển địa chất, các quá trình địa chất, các
vận động địa chất trong các thời kì lịch sử của Trái Đất trong quá khứ và hiện tại, tương lai.
Đối với hoạt động du lịch, việc nghiên cứu phát hiện những đặc điểm giá trị lịch sử phát
triển địa chất, các quá trình địa chất của các lãnh thổ du lịch có ý nghĩa phục vụ như: phục
21


vụ cho việc bố trí, xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch có hiệu quả, tránh được các tác động


22


- Tài nguyên du lịch nhân văn:
Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra có giá
trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại
Chương II, Điều 13: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố
văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao
động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử
dụng phục vụ mục đích du lịch”. [19]
Tài nguyên du lịch nhân văn mang những đặc điểm chung như có mối quan hệ chặt
chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các điều kiện KT – XH, chịu sự chi phối
của các quy luật tự nhiên, quy luật phát triển văn hóa và quy luật xã hội, ... Vì vậy mỗi địa
phương, mỗi quốc gia thường có tài nguyên du lịch nhân văn mang tính đặc sắc, độc đáo để
hấp dẫn du khách riêng.
Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản phẩm văn hóa được con người tạo ra trong
suốt quá trình phát triển lịch sử, ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia do những yếu tố hình
thành, nuôi dưỡng rất đa dạng và phong phú nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cũng rất
đa dạng và phong phú. Cho đến nay, dựa vào đặc tính vật chất có hình thể có thể nhìn hoặc
sờ thấy được hoặc không có hình thể hay sự tồn tại hình thể không liên tục, các nhà nguyên
cứu phân tài nguyên du lịch nhân văn thành hai loại chính là tài nguyên du lịch nhân văn vật
thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể. [24]
+ Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể gồm: Di sản văn hóa thế giới vật thể, các di
tích văn hóa lịch sử, danh thắng cấp quốc gia và địa phương, các cổ vật và bảo vật quốc gia,
các công trình đương đại.
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể thực chất là những di sản văn hóa, hấp dẫn du
khách có thể bảo tồn, khai thác vào mục đích du lịch, mang lại hiệu quả về KT – XH và môi
trường. [24]
Theo Luật Di sản Văn hóa (2003): “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status