ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHÙNG TRỌNG VĨNH
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn: TS. Lê Hồng My Thái Nguyên - Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính bản thân tôi thực hiện, dưới sự
hướng dẫn của TS. Lê Hồng My. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào, mọi sự trích
dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực
và nguyên bản của luận văn.
Tác giả Phùng Trọng Vĩnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3LỜI CẢM ƠN
Chương 1. KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ HÌNH ẢNH CON NGƯỜI
TRONG THƠ DƯƠNG THUẤN 12
1. “Khu vườn thiếu nhi” với những nhân vật gần gũi trẻ thơ 12
2. Không gian bản Hon và “Người xứ Mây” qua những khúc hát quê hương.
21
3. Không gian Trường Sa và những người lính biển qua “Mười bảy khúc
đảo ca” 42
4. Những miền đất mới và “người muôn phương” 52
Chương 2. NHÂN VẬT TRỮ TÌNH 56
1. “Chú bé bản Hon” với cái nhìn trong sáng tinh khôi 56
2. “Chàng trai của núi” nặng tình với quê hương 59
3. Anh - “Trái tim mang hình em/ Hiện thành câu thơ lấp lánh” 64
4.
Người “Mơ ước một chân trời”- Một cái tôi nhiều khát vọng và trải nghiệm
70
Chương 3. MỘT SỐ ĐẶC SẮC TRONG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 76
1. Ngôn ngữ thơ Dương Thuấn mang đậm bản sắc Tày 76
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn học các dân tộc thiểu số là niềm tự hào của đồng bào các dân
tộc Việt Nam. Những tác giả tiêu biểu như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh
Châu, Hoàng Văn Thụ, Nông Viết Toại, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Mai
Liễu, Vi Thị Kim Bình, Y Phương, Vi Thùy Linh.v.v là những nhà thơ có
nhiều sáng tạo, góp phần đưa nền văn học dân tộc ngày càng phát triển. Hiện
nay chúng ta đã có một đội ngũ những cây bút người dân tộc thiểu số vững
vàng về tay nghề và có ý thức xây dựng thế giới nghệ thuật của mình, góp
phần làm nở hoa kết trái cho nền văn học Việt Nam.
1.2. Trong số các tác giả văn học dân tộc thiểu số, Dương Thuấn là nhà
thơ được nhiều độc giả biết đến. Sinh ra và lớn lên trên quê hương Bắc Kạn,
tuổi thơ gắn liền với gió núi trăng ngàn, Dương Thuấn đã có một cuộc hành
trình “từ bản Hon” đến với “muôn nơi”. Năm 1981, anh tốt nghiệp Khoa Ngữ
Văn - Trường Đại học Sư Phạm Việt Bắc (nay là Trường Đại học Sư Phạm -
Đại học Thái Nguyên). Sau một thời gian dạy học ở quê nhà, vốn “say” thơ
Dương Thuấn đã dần chuyển sang sáng tác. Vừa miệt mài viết, anh vừa bền bỉ
đọc và đi để làm giàu vốn sống và nguồn cảm hứng thơ. Với quãng thời gian
20 năm lao động nghệ thuật từ khi cầm bút đến nay, anh đã có 11 tập thơ (với
số lượng khoảng tám trăm bài và hai trường ca), gồm: Cưỡi ngựa đi săn (viết
cho thiếu nhi), năm 1991, Đi ngược mặt trời (1995), Bà lão và chích chòe
(1997), Hát với sông Năng (2001), Đêm bên sông yên lặng (2004), Thơ với
tuổi thơ (2005), Chia trứng công (2006), Soi bóng vào tôi (2009), Trường ca
Mười bảy khúc đảo ca (2002); các tập thơ tiếng Tày: Lục pjạ hết lúa (1995);
Slíp nhỉ tua khoăn (2002); Trăng Mã Pí Lèng (2002) Anh đã vinh dự được
nhận nhiều giải thưởng văn học. Trong những sáng tác đã xuất bản của anh,
có những bài đã được phổ nhạc như: Đi tìm bóng núi, Tình ca bên suối, Lá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 72
phương Bắc Kạn. Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tư liệu bổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 83
ích đối với quá trình tìm hiểu văn học Bắc Kạn và văn học miền núi nói chung;
đồng thời, bồi dưỡng tình cảm yêu mến, tự hào của bạn đọc gần xa đối với thơ
Dương Thuấn - một nguồn suối trong mát của thơ ca Tày hiện đại Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Khái niệm “Thế giới nghệ thuật”.
Khái niệm Thế giới nghệ thuật xuất hiện từ yêu cầu muốn tiếp cận tác
phẩm văn học trong dạng chỉnh thể. Từ những góc độ khác nhau, các nhà
nghiên cứu văn học đã phát biểu những quan niệm về Thế giới nghệ thuật
phục vụ cho hoạt động nghiên cứu văn học. Nhà nghiên cứu Lý luận văn học
Trần Đình Sử quan niệm: “Văn bản thơ không chỉ gồm những câu chữ, vần
điệu, ngắt nhịp, mà bao gồm cả thế giới hình tượng bên trong như một thế
giới sống đặc thù” [48;6]. Nhà nghiên cứu văn học Lê Quang Hưng trong
cuốn Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước 1945 có nêu: “Thế giới nghệ
thuật thơ trữ tình là một chỉnh thể thống nhất bào hàm các thành tố cấu trúc và
các quy luật cấu trúc chung thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế
giới khách quan bằng tưởng tượng của mình. Một mặt thế giới nghệ thuật ấy
gắn kiền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà
thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ sáng tác của một giai đoạn lịch sử, một
thời đại” [23; 9]. Trong chuyên đề Thế giới nghệ thuật của một nhà thơ trữ
tình, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn có viết: “Xét đến cùng thế giới nghệ thuật
của một nhà văn chính là một thế giới hình tượng hiện ra như một chỉnh thể
sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mĩ nào đó, được xây
cất bằng vật liệu ngôn từ. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là
hiện thân của tư tưởng sáng tác. Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là “Hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [18;109].
Không gian nghệ thuật có thể đồng dạng nhưng không bao giờ trùng khít với
không gian địa lý bởi nó là “hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 105
do nhà văn sáng tạo ra để thể hiện mục đích nghệ thuật của mình. Ví dụ như
không gian làng Đông Xá (Tắt đèn) là sáng tạo của Ngô Tất Tố, không gian
làng Vũ Đại (Chí Phèo) là sáng tạo của Nam Cao.v.v Không gian nghệ
thuật cũng bao hàm các yếu tố thiên nhiên, con người như không gian thực
song những yếu tố ấy có thể được tạo nên từ trí tưởng tượng, hư cấu của tác
giả. Điều đó khiến không gian nghệ thuật mở ra nhiều chiều, nhiều kích cỡ
trong cảm nhận của người đọc so với không gian địa lý. Không gian nghệ
thuật là yếu tố quan trọng trong chỉnh thể thế giới nghệ thuật của nhà văn.
“Hình tượng nhân vật trữ tình là “con người đồng dạng” của tác giả -
nhà thơ - hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình (một chùm thơ, toàn bộ
trường ca, hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có đường nét hay một
vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi
khi có cả nét vẽ chân dung (mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm của một
nhân vật như trong tác phẩm tự sự hay kịch)” [18;162]. Trong thơ có thể có
hoặc không có nhân vật nhưng bao giờ cũng có nhân vật trữ tình. Nhân vật trữ
tình giúp nhà thơ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, chiêm nghiệm của mình trước
con người và cuộc sống. Qua nhân vật trữ tình, người đọc có thể cảm nhận rõ
bức chân dung tâm hồn của nhà thơ.
Ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tình mang tính thẩm mỹ, thể hiện rõ
phong cách, tài năng và sự sáng tạo của nhà thơ. Cùng với ngôn ngữ,
giọng điệu cũng phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu
tác giả; từ đó làm nổi bật cá tính sáng tạo và những đóng góp đối với đời
sống văn học của tác giả.
2.2. Tình hình nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn.
Dương Thuấn là cây bút có nhiều đóng góp cho thơ. Trong thời gian
hai mươi năm qua (1991-2011), anh lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi
để có được những tập thơ đặc sắc, hấp dẫn. Đã có không ít những công trình
nghiên cứu, phê bình, tiểu luận; những nhận định, đánh giá về thơ Dương
Thuấn; đem đến cho độc giả cảm tình và cái nhìn khoa học về thơ anh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 127
Hiện nay, hầu hết những bài tiểu luận, phê bình văn học về thơ Dương
Thuấn đã được đã được tập hợp tuyển chọn và giới thiệu trong cuốn
Dương
Thuấn hành trình từ bản Hon
(Viện Văn học - năm 2009) gồm 54 bài viết. Những
bài viết này đã tiếp cận thơ Dương Thuấn từ những khía cạnh khác nhau. Bài viết
mở đầu cuốn sách của Đỗ Thị Thu Huyền mang tính chất khái quát, đem đến cho
người đọc một cái nhìn bao quát về sự nghiệp cũng như con người Dương Thuấn.
Kế tiếp là những bài viết đi vào nghiên cứu các mảng đề tài chủ yếu như: con
người, thiên nhiên, quê hương, bản sắc dân tộc, tình yêu.v.v…
Tìm hiểu mảng đề tài quê hương trong thơ Dương Thuấn, tiêu biểu có
bài viết của Nguyễn Hưng Hải với tiêu đề Quê hương trong thơ Dương
Thuấn. Tác giả tập trung phát hiện hình ảnh quê hương qua tập thơ Đêm bên
sông yên lặng. Theo Nguyễn Hưng Hải: “cả tập thơ có 71 bài như 71 bông
hoa rừng đều viết về quê hương và những vấn đề mà quê hương anh nhắn gửi.
Bao trùm và ám ảnh xuyên suốt tập thơ là những hoài niệm về vẻ đẹp nhân
cách thơ Dương Thuấn như các bài viết:Dương Thuấn nhà thơ miền núi
nghĩ sâu, viết chắc của Hoàng Văn An; Nhà thơ Dương Thuấn nói lời cho
quả sai của Vân Long; Sự thô mộc có học của Lò Ngân Sủn; Dương Thuấn
đi tìm bóng núi của Chu Văn Sơn; Nhà Thơ Dương Thuấn của Đỗ Ngọc
Thống; Người rong
ruổi đi tìm bóng núi
của Uông Thái Biểu;
Ta là chàng trai
của núi
của Nguyễn Đăng Điệp.v.v…Ở những bài viết này, các tác giả nêu lên
những nét điển hình trong phong cách sáng tác của Dương Thuấn, gắn với bản
sắc văn hóa Tày sâu đậm.
Một số tác giả khác lại đi khai thác nội dung và nghệ thuật của một số
tập
thơ như:
Hát với sông Năng
của Nguyễn Trọng Hoàn;
Đi tìm bóng núi - Dương
Thuấn đến cõi thơ
của Tạ Duy Anh;
Dương Thuấn và tập Thơ với tuổi thơ
của Trần
Thúy Hằng;
Đọc Chia trứng công của Dương Thuấn
của Phùng Ngọc Diễn
Bên cạnh đó một số bài viết đi sâu phân tích phát hiện vẻ đẹp trong
những
bài thơ cụ thể như
Đi tìm bóng núi
của Nguyễn Trọng Tạo;
cũng đã được nghiên cứu ở mức độ tập trung hơn. Năm 2008, Nguyễn Thị Thu
Huyền chọn đề tài
Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn
[
27
]. Ở luận
văn này, tác giả đã đi sâu vào khảo sát nghiên cứu bản sắc văn hóa Tày trong thơ Y
Phương và thơ Dương Thuấn trong qua hình ảnh thiên nhiên, con người, phong tục
tập quán, hình ảnh thơ, ngôn ngữ, giọng điệu và khẳng định: “Nhà thơ Y Phương và
Dương Thuấn đã góp phần bảo tồn, phát huy và lưu giữ nền văn hóa đặc sắc của
dân tộc Tày trong đời sống văn hóa, văn học Việt Nam hiện đại” [
27
;111].
Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu thơ Dương Thuấn, soi chiếu
vào
nội hàm khái niệm
Thế giới nghệ thuật
đã xác định, chúng tôi thấy, một số
phương diện của thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn cũng đã được đề cập
đến song mới ở mức độ khai phá, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề này. Vận dụng cơ sở lí luận và từ thực tế nghiên cứu nêu trên, tiếp tục
hành trình nghiên cứu thơ Dương Thuấn, chúng tôi tập trung tìm hiểu thế giới
nghệ thuật của nhà thơ.
3. Mục đích nghiên cứu.
Làm sáng rõ các phương diện cơ bản, nổi trội trong thế giới nghệ thuật
thơ Dương Thuấn trong suốt hành trình sáng tác của nhà thơ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
11
7. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã xác định, chúng tôi sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát các phương diện trong thế
giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn, từ đó cung cấp cứ liệu để phân tích, chứng
minh cho các luận điểm và rút ra kết luận.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp này nhằm chỉ ra hiệu
quả nghệ thuật mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm.
- Phương pháp so sánh: Nhằm làm nổi bật những nét riêng trong thế
giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn .
- Phương pháp tổng hợp, khái quát: sử dụng để tổng hợp, khái quát vấn
đề nghiên cứu.
8. Đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn”, chúng tôi hy
vọng sẽ đem lại cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về nội dung và
nghệ thuật trong thơ Dương Thuấn; từ đó góp phần tiếp tục khẳng định
những đóng góp của nhà thơ Dương Thuấn đối với thơ ca dân tộc Tày và
thơ hiện đại Việt Nam.
- Cung cấp thêm một tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu
văn học địa phương ở Bắc Kạn nói riêng và khu vực miền núi nói chung.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
Thế giới nghệ thuật thơ Dương Thuấn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Không gian nghệ thuật và hình ảnh con người
Chương 2. Hình tượng nhân vật trữ tình
Chương 3. Một số đặc sắc trong phương thức thể hiện
không khí của làng quê, được làm quen với thiên nhiên, con người và phong
tục của làng quê Việt. Chính điều đó đã sớm hình thành một tình yêu với quê
hương ngay từ tấm bé.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1813
Thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ vẫn là chất liệu quen thuộc ít nhiều
được các nhà thơ khác đề cập đến trong cuộc sống đời thường. Trong thơ
ông, trẻ thơ bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong đời sống hàng ngày như
con dao, cái kéo, cái chổi, cây cầu chì, con chó, con mèo, cây na. quả
khế Nhưng “điểm nhấn” trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là tình
bạn trẻ thơ. Phạm Hổ muốn đem đến cho trẻ thơ những câu chuyện bổ ích về
tình bạn. Dấu hiệu nhận biết chủ đề tình bạn được thể hiện ở việc đặt tên cho
các tập thơ: Bạn trong vườn, Những người bạn im lặng, Những người bạn ồn
ào, Chú bò tìm bạn Chủ đề tình bạn gần như xuyên suốt mọi bài thơ, tập thơ
viết cho thiếu nhi của ông.
Đóng góp vào bước phát triển của thơ viết cho thiếu nhi, Dương Thuấn
có các tập thơ Cưỡi ngựa đi săn (1991); Bà lão và chích chòe (1997); Chia
trứng công (2006). Ba tập thơ trên được đưa vào Tuyển tập Dương Thuấn -
Tập III với số lượng hơn 200 bài.
Viết cho thiếu nhi, Dương Thuấn đã xây dựng thành công “Khu vườn
thiếu nhi” (theo cách gọi của Chu Văn Sơn) - Một không gian sinh hoạt của
đồng bào miền núi vừa rộng lớn, lãng mạn, nhưng lại rất gần gũi với các em.
“Khu vườn” ấy được Dương Thuấn dày công xây đắp, tỉ mẩn tạo dựng từ
những chất liệu gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người Tày
ở vùng núi Bắc Kạn. Điều này làm nên nét khác biệt giữa thơ viết cho thiếu
nhi của Dương Thuấn so với thơ của nhiều nhà thơ khác. Bước vào khu vườn
đó, trẻ thơ được hòa mình vào thế giới tự nhiên, được hít thở bầu không khí
yêu, vừa ngồ ngộ, vui vui lại được diễn đạt bằng cách nói dân tộc, độc
đáo” (Trần Thị Đoàn - Mai Việt Hồng)
[9]. Những tập thơ viết cho thiếu
nhi là món quà quí giá mà Dương Thuấn dành tặng các em. Trước hết, nhà
thơ giúp các em có thêm nhận thức về thế giới xung quanh mình. Mỗi loài
cây, mỗi con vật một đặc tính. Loài con sâu róm đen xì, gớm ghiếc, con
sâu cơi to bằng ngón tay “cặp mắt nổi vằn xanh vằn đỏ” dữ tợn, những
con chèo bẻo dũng mãnh “thắng diều hâu” bảo vệ đàn vịt trời, con xấu hổ
thì đúng như tên gọi của nó “Mỗi khi thấy người/ Tay che kín mặt/ Xấu hổ
nhất đời”. Chúng cũng có những thói quen khác nhau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2015
Cá dưới vực sâu
Vừa bơi vừa ngủ
Con ngựa ở tàu
Suốt đời đứng ngủ
Con chim đậu vững
Ngủ trên ngọn cây
Con rơi ngủ ngày
Chân cheo vòm đá
(Đi ngủ- Chia trứng công)
Bên cạnh những con vật ngộ nghĩnh, các em thiếu nhi còn được biết
đến nguồn gốc các sự vật, hiện tượng xung quanh mình qua lời kể của tác giả.
Ví như trăng trên trời cao thay đổi hình dạng theo thời gian. Đó là sự thay đổi
theo quy luật của tự nhiên. Sự thay đổi đó được nhà thơ liên tưởng và giải
thích bằng những hình ảnh rất cụ thể và gần gũi đời thường như lưỡi liềm mẹ
mang ra đồng, chiếc võng ru em nằm ngủ, trái bưởi vàng thơm nơi góc sân
vẫn chỉ là bạn của các em thôi, thật là gần gũi và thân thiết. Với thiếu nhi,
trăng thì phải có cuội, cuội ở trên cung trăng - điều đó ăn sâu trong tiềm
thức của trẻ thơ.
Để đơm hương kết trái cho đời, nhiều loài cây đã phải chịu đau đớn cũng
như người mẹ trong nỗi đau sinh thành đứa con. Dương Thuấn đã giúp trẻ thơ
quan sát và nhận biết quá trình “sinh con” của cây tre trên núi: “Tung muôn hạt
đi xa,rồi cả rừng chết đứng”; hoặc của cây hồng ven suối:
“Sau mùa hái quả
Chém đứt rễ hồng
Từ vết nhựa ứ
Mọc lên cây mầm”
(Hồng sinh con)
Dương Thuấn còn giúp trẻ thơ có những liên tưởng thú vị khi hình
dung mười ngón tay như mười anh em mồ côi sớm tối có nhau, cùng nhau
đoàn kết, cùng nhau chung sống:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2217
Mười anh em mồ côi
Đêm ngày giúp nhau mọi việc
Một người bị đau, chín người buồn khổ
Mười anh em mồ côi
Mỗi người có một viên ngói che đầu
Quấn quít bên nhau, suốt đời thương nhau
Mười anh em mồ côi
Hai anh em chuột
Bàn tán lao xao
Mèo vằn nghe thấy
Kêu lên ngoao ngoao
Chuột em cầu khẩn:
- Chúa ơi, nhanh nào
Ra mà dẹp giặc
Chuột anh hốt hoảng
Ôm chặt chuột em.
(Anh em chuột)
Bài thơ ngầm phê phán những ai hèn nhát, bề ngoài luôn tỏ ra mình
hơn người khác nhưng khi gặp hiểm nguy lại vội chùn bước cầu an; đồng thời
ca ngợi những người dũng cảm dám đương đầu với cái ác.
Hình ảnh chú ếch không lạ lẫm với trẻ thơ, bởi ít nhiều các em đã
từng biết đến qua những câu chuyện cổ tích hoặc nhìn thấy trong đời sống
hàng ngày. Thế nhưng khi bắt gặp chú ếch trong thơ Dương Thuấn, chắc
các em vẫn bị hấp dẫn bởi nét ngộ nghĩnh, đáng yêu: ếch thích mưa nên cố
há miệng hớp trăng sao trên trời vì nghĩ rằng làm như thế trời sẽ mau tối lại
thành cơn mưa rào:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2419
Một đêm mùa hạ
Trời đầy trăng sao
Có một chú ếch
Ngồi ở bờ ao
Mồm luôn đớp đớp
Uống bóng trăng vào