Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ BÍCH NGỌC TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


1. Lý do chọn đề tài: 3
2. Lịch sử vấn đề: 4
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu: 6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 7
5. Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn: 7
6. Cấu trúc luận văn: 7
B. Phần nội dung: 9
CHƢƠNG I: THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU TRONG HÀNH TRÌNH THƠ 9
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 9
1.1: Phác thảo diện mạo thơ kháng chiến chống Mĩ : 9
1.3. Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Đức Mậu: 14
1.3.1: Thơ ngƣời ra trận ( NXB Quân đội nhân dân 1971) 16
1.3.2. Cây xanh đất lửa: ( NXB Văn học -1973) 18
1.3.4: Trƣờng ca sƣ đoàn: ( NXB Quân đội nhân dân-1980) 20
1.3.5. Hoa đỏ nguồn sông ( NXB Tác phẩm mới- 1987) 21
1.3.6: Bão và sau bão ( 1994) 23
1.3.7: Cánh rừng nhiều đom đóm bay: 23
CHƢƠNG II: THẾ GIỚI HIỆN THỰC TRONG THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU. 25
2.1. Cảm hứng về thực tại chiến tranh của đất nƣớc. 25
2.1.1. Hình ảnh đất nƣớc. 25
2.1.2. Hình ảnh ngƣời lính. 31
2.1.2. Hình ảnh nhân dân. 37
2.2: Kí ức về chiến tranh trong cuộc sống hòa bình: 40
2.3 Cảm hứng từ cuộc sống đời thƣờng: 49
2.3.1. Đất nƣớc, quê hƣơng, thiên nhiên thanh bình: 49
2.3.2. Những ngƣời thân yêu. 54

2
CHƢƠNG III: NHỮNG PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO TRONG
THƠ NGUYỄN ĐỨC MẬU. 66

Trong tiến trình thơ hiện đại, thơ chống Mỹ giống nhƣ một dàn đồng ca, một
dàn hợp xƣớng lớn bởi nó đƣợc sinh thành trong một bối cảnh tinh thần đặc biệt “
những năm tháng đất nƣớc có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” ( Chế Lan
Viên) và khi nhà thơ “tự hát” thì cũng ý thức đƣợc “ nhƣng giọng anh đơn lẻ - sánh
sao bằng đồng ca”. Tuy thế, trong dàn hợp xƣớng của cả nền thơ, ngƣời ta vẫn nhận
ra nhiều chất giọng khác nhau, nhiều phong cách và thế giới nghệ thuật riêng của
một số nhà thơ tiêu biểu: Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Phạm Tiến Duật, Hữu
Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, Lê Anh Xuân…. Với mỗi tác phẩm của họ, ta nhƣ nhận

4
ra một phong cách riêng, một gƣơng mặt riêng, một dấu ấn riêng của mỗi nhà thơ –
mỗi ngƣời nghệ sĩ.
Là một trong số những nhà thơ trƣởng thành và lăn lộn nhiều năm ở các chiến
trƣờng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, “ đôi tay cầm súng và bản thảo trên
lƣng”, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng và
một thế giới nghệ thuật trong thơ vô cùng rõ nét, đóng góp quan trọng vào thành
công của nền thơ ca thế hệ chống Mỹ. Thơ ông vừa giản dị, chân thành, trải nghiệm
và sâu lắng, ấn tƣợng sâu sắc trong lòng ngƣời đọc về một nhà thơ có phong cách và
tâm hồn thi sĩ nhạy cảm.
Tìm hiểu về Nguyễn Đức Mậu, tôi lựa chọn cách tiếp cận, nghiên cứu về thế
giới nghệ thuật độc đáo trong thơ ông, cũng nhƣ làm sáng tỏ nguồn cảm hứng cùng
những nét đặc sắc nghệ thuật độc đáo trong các tác phẩm của ông. Bên cạnh đó,
xuất phát từ quan niệm Thi pháp học cho rằng “ hình thức nào cũng mang một nội
dung nhất định và nội dung nào cũng nằm trong một hình thức cụ thể”, càng thôi
thúc tôi khai thác đề tài này. Với cá nhân tôi, đây là một cơ hội đào sâu, mở rộng và
tìm hiểu về tiếng thơ Nguyễn Đức Mậu. Qua đó góp phần làm sáng tỏ phần nào nét
đặc sắc về thế giới nghệ thuật trong thơ và tài năng của “ nhà thơ áo lính” này.
2. Lịch sử vấn đề:
Trên tinh thần tiếp thu những quan niệm về phong cách thơ, chúng tôi đi sâu
tìm hiều về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu- một gƣơng mặt tiêu

đau chƣa nguôi ngoai của chiến tranh, khiến các con chữ bị thƣơng nghiêng
ngả”[21;56] Nói cách khác nhƣ Trịnh Thanh Sơn, sự dằn vặt với quá khứ của nhà
thơ Nguyễn Đức Mậu dai dẳng và săn sâu nhƣ " những ám ảnh hóa thạch"- " hóa
thạch máu và nƣớc mắt của cả một dân tộc đã vùng lên, giữ vững nền độc lập, tự do
cho đất nƣớc" [66;34]
Một số tác giả lại đi sâu phân tích những hình tƣợng nghệ thuật độc đáo của
thơ Nguyễn Đức Mậu nhƣ: tác giả Nguyễn Văn Long, nhà thơ Phạm Hổ cùng chung
sự yêu mến với hình tƣợng: ngƣời lính, tác giả Nguyễn Thanh Tú với hình tƣợng
Đất… đã nhắc đến Nguyễn Đức Mậu nhƣ là một trong những hiện tƣợng tiêu biểu
của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ

6
Và bản thân nhà thơ cũng đã từng bộc bạch: " Kỉ niệm về cuộc sống chiến đấu
nơi chiến trƣờng đã để lại dấu ấn sâu sắc không thể nhạt phai trong tôi. Nghĩ đến
cái chết của đồng đội nhƣ là sự thôi thúc của lƣơng tâm". Chiến tranh đã chạm khắc
rất sâu trong cảm xúc và tƣ duy của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, trở thành một đặc
điểm riêng trong phong cách thơ.
Nhƣ vậy, qua việc tìm kiếm, nghiên cứu tƣ liệu, khảo sát các bài viết, nghiên
cứu về thơ Nguyễn Đức Mậu, cá nhân tôi nhận thấy đã có nhiều bài tiếp cận nghiên
cứu thơ ông bằng nhiều cách khác nhau, làm sáng tỏ những vấn đề khác nhau, đa
dạng và đa chiều nhƣng thực sự phần lớn chỉ là những bài viết nhỏ, những nhận xét,
đánh giá về một bộ phận trong thơ ông, chƣa có công trình nghiên cứu chuyên sâu,
hoàn chỉnh, mang lại cái nhìn khái quát về thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn
Đức Mậu. Đó nhƣ là một khoảng trống gợi ý để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tìm
hiều về “ Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu” một cách có hệ thống.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
Với yêu cầu của nội dung đề tài, tôi tập trung vào khảo sát, tìm hiểu thế giới
nghệ thuật trong thơ Nguyễn Đức Mậu. Sự tìm hiểu này đƣợc tiến hành dựa trên
toàn bộ sáng tác của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đƣợc xuất bản, một số bài thơ lẻ,
những bài giới thiệu thơ, bài phỏng vấn, tiểu luận phê bình văn học, bài viết đăng

- Phƣơng pháp lịch sử: Vận dụng phƣơng pháp này để tìm hiểu ảnh hƣởng của
hoàn cảnh lịch sử, xã hội và các yếu tố con ngƣời, quê hƣơng…. đối với việc góp
phần làm nên một hồn thơ Nguyễn Đức Mậu riêng biệt.
5. Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn:
- Luận văn là một công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong thơ
Nguyễn Đức Mậu. Kết quả nghiên cứu trong luận văn này hy vọng sẽ đem đến một
cái nhìn khái quát, sâu sắc về diện mạo thơ Nguyễn Đức Mậu. Từ đó, ta thấy đƣợc
sự vận động của thơ ông trong tiến trình thơ đồng thời khẳng định những đóng góp
của tiếng thơ Nguyễn Đức Mậu đối với nền thơ Việt Nam hiện đại.
6. Cấu trúc luận văn:
- Ngoài phàn mở đầu, kết luận và danh sách thƣ mục tham khảo, luận văn gồm
3 chƣơng :

8
* Chƣơng 1: Thơ Nguyễn Đức Mậu trong hành trình thơ hiện đại Việt Nam.
1.1 Phác thảo diện mạo thơ kháng chiến chống Mỹ.
1.2. Diện mạo thơ Việt Nam sau năm 1975.
1.3. Hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Đức Mậu.
* Chƣơng 2: Thế giới hiện thực trong thơ Nguyễn Đức Mậu:
2.1: Cảm hứng về thực tại chiến tranh của đất nƣớc.
2.1.1. Hình ảnh đất nƣớc.
2.1.2. Hình ảnh ngƣời lính.
2.1.2. Hình ảnh nhân dân.
2.2: Kí ức về chiến tranh trong cuộc sống hòa bình.
2.3: Cảm hứng từ cuộc sống đời thƣờng.
2.3.1: Đất nƣớc, quê hƣơng, thiên nhiên thanh bình.
2.3.2: Những ngƣời thân yêu.
* Chƣơng 3: Những phƣơng diện nghệ thuật độc đáo trong thơ Nguyễn Đức Mậu.
1. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
2. Phƣơng thức chuyển nghĩa và sáng tạo hình ảnh.

một thời kỳ vẻ vang của dân tộc, nó vừa là “ngƣời thƣ ký trung thành của thời đại”
vừa để lại những ấn tƣợng sâu lắng, những cảm xúc chan chứa mang tầm cao tƣ
tƣởng, có giá trị và sức sống lâu bền với thời gian
Tiếp nối văn học kháng chiến chống Pháp, văn học chống Mỹ hƣớng vào sự
ngợi ca các chiến công, kỳ tích anh hùng của dân tộc. Chủ nghĩa anh hùng cách
mạng Việt Nam trong văn học giai đoạn này nói chung và thơ ca nói riêng là sợi chỉ
đỏ xuyên suốt toàn bộ các tác phẩm. Chủ nghĩa anh hùng đƣợc phản ánh ngay ở
chính những con ngƣời đang sống, chiến đấu cho một lý tƣởng xã hội cao cả. Họ là
những con ngƣời xuất phát từ quần chúng bình thƣờng, đƣợc quần chúng tin yêu, có
tinh thần cách mạng tiến công, sẵn sàng hi sinh cho đất nƣớc. Dƣới sự lãnh đạo chặt
chẽ và thống nhất của Đảng, thơ ca kháng chiến chống Mỹ có những bƣớc chuyển
mình phát triển tạo nên một diện mạo mới cho nền văn học nƣớc nhà.
Một đặc điểm đáng chú ý nhất của thơ ca thời chống Mỹ là sự mở rộng của
hình ảnh cái Ta, thu nhỏ cái Tôi trữ tình. Hình ảnh dân tộc, nhân dân, hình ảnh non

10
sông đất nƣớc cùng với những tình cảm lớn hƣớng về quê hƣơng, Tổ quốc, hƣớng
tới cộng đồng đã dần dần trở thành xu hƣớng khái quát của thơ ca. Cái Ta ở đây là
cái tổng thể với ý nghĩa trọn vẹn nhằm đối lập với kẻ thù, tạo nên một mối đồng
cảm chung của mọi tầng lớp nhân dân. Cái Ta thật sự trở nên hoàn chỉnh, tròn đầy
vừa có ý nghĩa bao quát, vừa có ý nghĩa cụ thể, nó vừa là một nhân vật, một con
ngƣời, một biểu tƣợng:
Ta sẵn sàng xé trái tim ta
Cho Tổ quốc và cho tất cả
Lá cờ này là máu là da
Của ta của con ngƣời vô giá
(Tố Hữu)
Do xu hƣớng ngày càng mở rộng cái ta nên cái tôi trữ tình dần dần bị ẩn khuất.
Các nhà thơ nhân danh đất nƣớc mình, dân tộc mình để nói đến những tình cảm
chung, khát vọng chung, ca ngợi những con ngƣời sống, chiến đấu, hi sinh cho lý

nền thơ mang tính nhân dân, tính quần chúng, rộng rãi sâu sắc nhất từ trƣớc cho tới
nay. Phản ánh đƣợc hiện thực chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Việt Nam.Thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử mà Đảng và dân tộc giao phó kêu
gọi nhân dân hành động, đánh giặc, là tiếng nói tự hào, kiêu hãnh của ngƣời Việt
Nam trong giai đoạn chống Mỹ cứu nƣớc. Với những thành tựu đã đạt đƣợc, thơ ca
giai đoạn chống Mỹ có thể sánh với bất kỳ một nền thơ phát triển nào của nhân loại,
xứng đáng đứng ở vị trí tiên phong của nền văn học chống đế quốc.
1.2. Diện mạo thơ Việt Nam sau năm 1975.
Sau năm 1975, cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với
cuộc sống thời chiến tranh. Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao
cho thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới. Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nƣớc và
nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ
“bè cao” sang “giọng trầm”. Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái
nhìn phi sử thi. Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho văn học giai đoạn này
thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc. Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức
cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975.

12
Nhà thơ không còn bị vƣớng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ
yếu, không bị bó buộc trong những khung tƣ tƣởng định sẵn mà cố gắng thể hiện
tính đa chiều của hiện thực. Nói đúng hơn, hiện thực trong văn học phải là thứ hiện
thực của suy tƣ. Chỉ một khi nhà thơ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cá nhân, nói lên
tiếng nói cá nhân, lúc đó mới hi vọng anh ta tạo nên giọng điệu và tƣ tƣởng nghệ
thuật riêng. Tuy nhiên, trong những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, cần chú ý
đến hai mạch chính trong sự vận động của tƣ duy thơ. Thứ nhất, cảm hứng sử thi
vẫn đƣợc tiếp nối nhƣ một quán tính nghệ thuật. Không phải ngẫu nhiên mà giai
đoạn này xuất hiện hàng loạt trƣờng ca có ý nghĩa nhƣ những bức tranh hoành tráng
tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Sự thay đổi trong cái nhìn nghệ thuật
trong các trƣờng ca này so với thơ ca thời chống Mỹ là ở chỗ, tuy vẫn mang chủ âm
hào hùng, nhƣng các nhà thơ đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch của con ngƣời.

khi công cuộc đổi mới đƣợc khởi xƣớng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm
thay đổi cuộc sống nƣớc ta vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc. Văn nghệ,
trong tình hình mới đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều
sự thật đau lòng. Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng đƣợc giải phóng triệt
để hơn. Cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thƣ Nguyễn Văn Linh và giới văn nghệ sĩ cả
nƣớc vào tháng 10 năm 1987 có tác động rất lớn đến tinh thần của những ngƣời cầm
bút. Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải và mặt trái của nó khiến các nhà
thơ không thể nhìn cuộc sống nhƣ trƣớc đây mà buộc họ phải thích ứng với những
thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc sống. Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về
tƣ duy nghệ thuật thơ giai đoạn này qua ba điểm đáng chú ý sau đây:
Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra nhƣ một hình
thức tra vấn không ngừng về đời sống. Khát vọng đổi mới ấy trong nghệ thuật đã
đƣợc tiếp sức bởi công cuộc đổi mới của đất nƣớc. Màu sắc duy lí “tỉnh táo, tỉnh
bơ” khá đậm trong thơ cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan nghệ thuật mới của
nhiều nghệ sĩ. ý thức ấy bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản: thứ nhất, thơ ca đã bắt đầu
bứt thoát khỏi những trận mƣa trữ tình và sự ngọt ngào thƣờng thấy trong thơ 1945-
1975 để tiến đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao,
giọng điệu thơ gần gũi với đời sống thƣờng ngày; thứ hai, cái nhìn tỉnh táo của nhà

14
thơ thực ra là cái nhìn giàu chất suy tƣ, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên
trong. Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tƣ duy nghệ thuật là vị thế của
nhà thơ trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những ngƣời rao giảng đạo đức
hay minh họa cho một tƣ tƣởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những
khát khao, những niềm trắc ẩn của con ngƣời trên cơ sở trình bày cảm nhận của
mình về các giá trị.
Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi
kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị
mới Với tƣ cách là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra đƣợc quan
niệm riêng về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô

mà anh dũng đã ảnh hƣởng không nhỏ đến phẩm chất con ngƣời và phẩm chất thơ
Nguyễn Đức Mậu.
Say mê sống và say mê sáng tạo, Nguyễn Đức Mậu là ngƣời đam mê thơ ca thuở
ấu thơ. Ngay từ nhỏ, ông đã làm thơ có tác phẩm đăng báo, Mƣời bảy tuổi lên đƣờng
nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc, Nguyễn Đức Mậu đã phải sống những tháng ngày
gian khổ, đã giáp mặt với chiến tranh, cận kề với bom đạn và cái chết những thử thách
đó, nhƣ lửa thử vàng càng làm sáng tỏ lý tƣởng cách mạng kiên định trong tâm hồn nhà
thơ. Cuộc đời chiến sĩ với năng khiếu bẩm sinh, Nguyễn Đức Mậu đã biết chắt lọc từ
khói lửa, trong hy sinh mất mát những vần thơ mang âm hƣởng sử thi hào hùng. Nói
đến duyên thơ của Nguyễn Đức Mậu không thể không nhắc đến sự song song và thống
nhất của con đƣờng văn nghiệp và con đƣờng binh nghiệp. Đến nay, với trên hai chục
đầu sách gồm cả thơ, văn, tác phẩm viết cho thiếu nhi tất cả đã cho thấy Nguyễn Đức
Mậu có một sức sáng tạo thật dồi dào.
Với công việc biên tập thơ cho tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà thơ Nguyễn
Đức Mậu càng góp đƣợc nhiều hơn cho sự nghiệp thơ ca. Bằng kinh nghiệm sáng
tác của mình, Nguyễn Đức Mậu đã góp phần vun đắp những tài năng thơ đƣơng đại.
Hiện nay, ông đã nghỉ hƣu nhƣng vẫn tiếp tục bền bỉ trên con đƣờng sáng tác, nhƣ
ngày nào ông viết những vần thơ trong nỗi đam mê không thể dứt: Với nhà thơ, thơ
là nỗi đam mê
Họ theo đuổi, suốt đời chƣa dứt đƣợc
…Khi kết thúc tập thơ mới nhất
Lại bắt đầu vỡ đất tập thơ sau
( Ghi chép về thơ)

16
Chính vì thế, thơ Nguyễn Đức Mậu là sự kết tinh trí tuệ và cảm xúc- trí tuệ
giàu có, tƣ duy sắc sảo và một tấm lòng, một trái tim có sức lay động tâm hồn ngƣời
đọc. Thơ ông đã để lại ấn tƣợng sâu sắc về tiếng nói thơ đầy trách nhiệm trƣớc đất
nƣớc và cuộc sống đồng thời cũng phản ánh rõ những chuyển biến của tƣ duy thời
đại. Xin đƣa ra mốc thời gian phân chia chặng đƣờng sáng tác của thơ Nguyễn Đức

say nồng của tuổi trẻ ( Tháng ba, mùa đông lên đƣờng…) khao khát sống và chiến
đấu một cách chân thành, trong sáng ( Khát, Mùa xuân Trƣờng Sơn, mƣa Trƣờng
Sơn….)
Nguyễn Đức Mậu đƣa ngƣời đọc theo bƣớc chân của ngƣời lính từ giã thôn
xóm, làng mạc ra đi, hòa nhập cùng đồng đội trên mọi nẻo chiến trƣờng
Sống dồn sức trẻ băng ra biển
Tôi mặc màu xanh đến chiến trƣờng
Tháng ba trống vỗ căng trời rộng
Đƣờng đông ngƣời đi khi còn sƣơng
( Tháng ba)
Nhà thơ nhƣ hòa cùng khí thế lên đƣờng của cả một thế hệ, đi trong tiếng
trống giục giã, sôi động, trong niềm tự hào “ tôi mặc màu xanh đến chiến trƣờng”, “
tôi đƣợc là ngƣời lính", đƣợc lên đƣờng chiến đấu.
Không chỉ có vậy, tập thơ còn tái hiện đƣợc phần nào không khí của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc nhƣng hiện thực nóng bỏng của cuộc chiến đấu
vẫn còn chƣa có nhiều ở tập thơ này. Hình ảnh con ngƣời thời đại chống Mỹ chủ
yếu đƣợc nhấn mạnh ở sự thanh tao, bình dị, nhƣng lại ánh lên sức mạnh của cả một
thế hệ, một dân tộc kiên cƣờng.
Suối ơi: in nhịp cầu xa tắp
Rừng già bom dội suốt mùa khô
Đánh trăm trận đã quen cơn khát
Những vẫn không nguôi khát diệt thù
( Khát)
Mặc dù không tránh khỏi những non nớt của tập thơ đầu tay và suy nghĩ của
một thanh niên trẻ tuối, nhƣng đây vẫn đƣợc coi là một tập thơ thành công, đáng ghi

18
nhận, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển của thơ Nguyễn Đức Mậu ở những
chặng đƣờng sau, định hình một phong cách riêng “ thơ viết về ngƣời lính một cách
trung thực và giản dị”. Ngoài ra trong một số bài thơ của tập thơ này, Nguyễn Đức

đời sống chiến trƣờng, nó càng khẳng định tài năng và bản lĩnh ngƣời nghệ sĩ
Nguyễn Đức Mậu.
1.3.3: Mƣa trong rừng cháy (NXB Giải Phóng- 1976)
Tập thơ gồm 25 bài xuất bản năm 1976. Ở tập này, Nguyễn Đức Mậu đã thực
sự khẳng định tiếng nói riêng của mình qua những vần thơ giàu cảm xúc sinh động
nhƣ còn vƣơng bụi chiến trƣờng, khét mùi bom đạn, mang khí thế hừng hực của
cuộc chiến đấu. Nếu nhƣ ở hai tập thơ trƣớc, Nguyễn Đức Mậu có khuynh hƣớng đi
tìm chất thơ trong mảng hiện thực đời sống nên thơ thì ở tập thơ này, ngƣời đọc
cảm nhận ông đã nhìn thấy chất thơ ngay cả trong hiện thực trần trụi, thô nhám, dữ
dội và đầy ác liệt của cuộc sống chiến trƣờng. Cảm hứng thơ vì thế mà càng mãnh
liệt, sôi nổi và sâu sắc hơn ( kỉ niệm về một ngƣời anh, Nói với con, Điệp khúc một
con đƣờng, Bến cảng mặt trời)… Đồng thời ý thức về cái tôi đầy tự hào ( Lời tâm
tình, Cánh rừng nhiễm độc, Khoảng trời mùa thu trong trận sốt, Tƣởng nhớ số II ).
Phần lớn những bài thơ trong Mƣa trong rừng cháy đều mang tâm sự riêng tƣ của
ngƣời lính; lại vừa là cái tôi thế hệ ý thức, chiêm nghiệm về vị trí, nhiệm vụ của
mình cũng nhƣ là tất cả những ngƣời lính trong cuộc đối đầu lịch sử với kẻ thù dân
tộc. Có lẽ vì thế mà ngƣời đọc cảm nhận đƣợc những bài thơ gần nhau về vóc dáng
và trùng nhau về chủ đề, nhƣng bổ sung cho nhau, tạo dựng hình ảnh đời sống chiến
đấu. Chƣa bao giờ, hình ảnh thế hệ trẻ sống, chiến đấu giữa chiến trƣờng lại đƣợc
tập trung khắc họa đạt tới tính chân thực cao nhƣ vậy (Lời tâm tình, thơ ngƣời đi
biển gửi ngƣời đi rừng, Điệp khúc một con đƣờng…)
Nhà thơ đã từng tâm sự “ Con đƣờng Trƣờng Sơn và miền đất nóng bỏng kia
có dài rộng đến vô cùng. Hai mƣơi năm qua đất nƣớc mình dồn sức lực và của cải
vào đó để làm nên giai đoạn lịch sử hào hùng. So với độ dài của con đƣờng, so với
chiến công lớn lao của những trận đánh , chúng tôi cảm thấy còn viết quá ít”. Có lẽ
vì thế mà trong tập thơ này, các chi tiết đời sống mặt trận đƣợc nhà thơ chăm chỉ
lƣu giữ. Mỗi bài thơ nhƣ khái quát từng mảng hiện thực lớn của cuộc chiến tranh
chống Mỹ với tính chất ác liệt và dữ dội, làm ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách

20

21
Và cuối cùng, tất nhiên chiến thắng phải dành về ta- những ngƣời lính dũng cảm,
sản sinh từ một dân tộc kiên cƣờng
Cuộc đọ sức giữa con ngƣời và sắt thép
Giữa rừng cây và loài thú phá rừng
Cây mãi xanh tƣơi, con ngƣời chiến thắng
Ngôi sao vàng tìm đến lòng dân
( Mặt trân miền Tây)
“Trƣờng ca sƣ đoàn” không chỉ khám phá những ngọn nguồi sâu sa của sức
mạnh Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù mà còn thể hiện sự suy tƣ sâu
sắc, một cái nhìn trầm tĩnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Hiện thực
chiến tranh theo đó mà đƣợc tái hiện toàn vẹn, đầy đặn và cô cùng sắc nét. Bản thận
nhà thơ cũng đã từng nói rằng “ Trƣờng ca sƣ đoàn là tác phẩm dài hơi và ông cảm
thấy hài lòng nhất”. Tác phẩm đã chứng tỏ một bƣớc tiến mới trong thơ Nguyễn
Đức Mậu. Bƣớc tiến ấy khiến cho chính những đồng nghiệp cũng cảm thấy cảm
phục : “ Chúng tôi thấy thơ anh thật lạ lùng. Nhƣng rồi chúng tôi hiểu đƣợc. Đó là
những hoa trái mà anh trồng nên, hái đƣợc về sau bao năm dũng cảm, cần cù quyết
tâm lao vào cuộc sống ác liệt và anh hùng, đã thâu nhận và vun đắp một cách đáng
quý, đáng trọng [ 23:6]. Đó chính là lý do vì sao mà Trƣờng ca sƣ đoàn thƣờng
đƣợc đọc vang lên nhƣ một bản hùng ca đầy hào sảng. Phải chăng tác phẩm thể hiện
niềm tự hào, tiếng nói chung của những ngƣời lính bộ binh đã từng “ nằm gai, nếm
mật” trong cuộc chiến khốc liệt đã qua? Chỉ biết rằng, với độc giả và đồng nghiệp,
Nguyễn Đức Mậu đã để lại một dấu ấn sâu sắc về một hồn thơ thực sự trƣởng thành
trong khói lửa chiến tranh.
1.3.5. Hoa đỏ nguồn sông ( NXB Tác phẩm mới- 1987)
Sau trƣờng ca sƣ đoàn, bảy năm sau thì Nguyễn Đức Mậu bắt đầu cho ra đời tập
thơ có cái tên rất trữ tình- chính trị: “ Hoa đỏ nguồn sông”. Tập thơ gồm 26 bài. Và
cũng giống nhƣ tập thơ trƣớc, ông coi đây là tập thơ ghi chép lại những âm vang vọng
về từ quá khứ. Hoa đỏ nguồn sông chính là những ký ức về một thời tuổi trẻ, của chiến
tranh đã lùi xa vào quá khứ nay “ trở về” trong ông thật bi tráng, bi hùng.

Chung sống chết, căn hầm sụp đổ.
( Từ hạ vào thu)

23
Để rồi nhà thơ nhƣ khắc khoải đi tìm lại những dấu vết của quá khứ với biết
bao vui vui buồn tuổi trẻ trong chiến tranh khốc liệt:
Năm chiến tranh
Đâu mảnh thuyền tan
Đâu là nơi non bão nát nhàu
Tôi nhƣ con sóng và cơn gió
Tìm mảnh thuyền tan tìm chiếc lá đau.
( Bão và sau bão)
1.3.6: Bão và sau bão ( 1994)
Với Bão và sau bão, ngƣời đọc dễ dàng nhận thấy sự mở rộng đề tài trong
thơ Nguyễn Đức Mậu. Ông đã dành những trang thơ đẹp để khắc họa những tâm sự
đời tƣ, những vui- buồn, mừng- lo trong cuộc sống bề bộn¸khắc họa chân dung
những con ngƣời bình thƣờng nhƣng vẻ đẹp giản dị nhƣng vô cùng cao quý. Đó là :
ngƣời mẹ nhân hậu ( Dâng mẹ), ngƣời đàn bà bất hạnh ( Cô tôi), ngƣời hát rong (
trong tác phẩm cùng tên) , ngƣời chiến binh già, ông nghệ nhân,ngƣời bán chổi…
Qua đó thể hiện những suy tƣ, trải nghiệm rất “ con ngƣời”.
Trong tác phẩm này, ông đã thể hiện nội dung tƣ tƣởng, những lời bộc bạch,
suy tƣ một cách chân thành. Những suy nghĩ ấy đôi khi đƣợc bôc lộ một cách tự
nhiên, thông qua những sự vật nhỏ bé, sự kiện bình dị: Nhánh xƣơng rồng ( nhánh
xƣơng rồng trên cát), hạt lúa ( Ngợi ca hạt lúa), pho tƣợng đá ( Nghìn năm tuổi),
dòng suối ( Suối mát), bông hoa quỳnh ( Thức với hoa quỳnh) hay: Độc thoại đêm
30 Tết, Nhà bạn bên cầu Chƣơng Dƣơng, Tự sự, Thƣ những ngày xa…
Với sự từng trải chiến trƣờng, cuộc sống cùng kinh nghiệm trong nghiệp cầm
bút, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã vinh dự nhận giải thƣởng của hội nhà văn Việt
Nam với tập thơ “ Bão và sau bão” này.
1.3.7: Cánh rừng nhiều đom đóm bay:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status