1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ HIỀN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ BÍCH KHÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội, 2013
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Mục đích nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp khoa học của luận văn 7
7. Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1. QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SỰ HÌNH
THÀNH TÀI NĂNG THI CA BÍCH KHÊ 8
1.1.Quan niệm về thế giới nghệ thuật của một nhà văn 8
1.2.Sự hình thành tài năng thi ca Bích Khê 10
1.2.1. Cội nguồn của “một bông hoa thi ca thần dị” 10
1.2.2. Vị thế của Bích Khê trong “Trường thơ Loạn” 15
1.2.3.Quá trình hình thành thi nghiệp và quan niệm thẩm mỹ của
Bích Khê 19 1.2.3.1. Sự nghiệp thi ca của Bích Khê 19
1.2.3.2.Quan niệm thẩm mỹ của Bích Khê 22
CHHƢƠNG 2. HỆ THỐNG HÌNH TƢỢNG TRONG THƠ BÍCH KHÊ 32
2.1.Hình tượng cái Tôi trữ tình trong thơ Bích Khê 32
2.1.1. Một cái Tôi trữ tình khao khát sống 33
2.1.2.Một cái Tôi chán chường, tuyệt vọng 40
2.1.3. Một cái Tôi trữ tình phân li 44
“khách đa tình”, nếu như không phải là người yêu thơ Bích Khê và am hiểu thơ
tượng trưng thì khó có thể đọc hiểu được ý nghĩa trong “những tờ thơ nát đầy
hôi hám” kia. Do đó thơ Bích Khê vẫn còn là một miền hoang sơ và tương đối lạ
lẫm đối với người đọc nhiều thập kỉ sau này.
Phong trào Thơ mới 1932-1945 là cuộc chạy đua nước rút của thơ Việt để
bắt kịp với thơ hiện đại trên thế giới và hình mẫu lí tưởng là thơ lãng mạn Pháp
thế kỉ XIX. Nhưng với Bích Khê, Thơ mới đã vượt qua chủ nghĩa lãng mạn để
tiến tới chủ nghĩa tượng trưng và chớm sang chủ nghĩa siêu thực. Vì thế Bích
Khê được đánh giá là nhà thơ có khuynh hướng sáng tác mới và không ngừng 2
tìm tòi cách tân thơ Việt Nam hiện đại.
Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ khá quen thuộc với các nhà nghiên
cứu. Khi tìm hiểu thế giới nghệ thuật của một tác giả sẽ giúp cho người nghiên
cứu có cái nhìn bao quát, toàn diện về sáng tác của nghệ sĩ đó (cả về nội dung,
nghệ thuật và phong cách sáng tác). Đối với các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên, việc đi sâu nghiên cứu về thế giới nghệ thuật đã có khá nhiều công
trình nhưng với Bích Khê, việc nghiên cứu này có thể nói là rất ít và hầu như
chưa có.
Giai đoạn văn học Việt Nam 1930-1945 cũng là một bộ phận kiến thức
khá quan trọng đối với chương trình THPT, do vậy nghiên cứu Thế giới nghệ
thuật trong thơ Bích Khê là hoạt động cần thiết góp phần tìm hiểu thêm về sự
phát triển của thơ Việt Nam giai đoạn này, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu
giảng dạy.
2.Tình hình nghiên cứu
Bích Khê được nhiều người coi là một tài năng kì dị và mang trong mình
cái thiên mệnh, cái định mệnh nghiệt ngã của một thi sĩ: biết làm thơ từ khi còn
là một cậu bé và qua đời khi mới 30 tuổi. Chính vì thế thơ Bích Khê là mật mã
ngôn từ vừa mê hoặc vừa thách thức giới nghiên cứu phê bình trong suốt thời
giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp thơ của Bích Khê như Đôi nét về cuộc đời Bích
Khê của Quách Tấn-1966; Người em Bích Khê của Lê Thị Ngọc Sương -1966;
Nhạc và họa trong thơ Bích Khê của Đinh Cường -1963; Nhân nhớ Bích Khê và
đọc thơ Bích Khê bàn về thơ tượng trưng của Tam Ích-1964; Một kết tinh ảo
diệu của Đinh Hùng - 1967; Tinh huyết của Bích Khê của Lê Huy Oanh 1974…
Nhìn chung những bài viết này đều chỉ ra những đóng góp của Bích Khê cho 4
văn học hiện đại Việt Nam. Đối lập với các ý kiến thiên về ngợi ca, ghi nhận sự
đóng góp của thơ Bích Khê, những lời nhận xét trong Phong trào thơ mới 1932-
1945 (Phan Cự Đệ) lại phủ nhận hoàn toàn giá trị thơ Bích Khê, cho rằng thơ
ông khó hiểu, rơi vào suy đồi trụy lạc, đáng lên án. Thơ Bích Khê là một trong
những mốc đánh dấu sự bế tắc, xuống dốc của Thơ mới.
2.3. Từ sau 1986 đến nay
Sau thời kì đổi mới, Bích Khê và thơ ông được nhìn nhận một cách khách
quan và công bằng hơn. Hàng loạt bài viết với những kiến giải, phân tích khá
sâu sắc nối tiếp nhau xuất hiện. Tiêu biểu là các công trình: Thơ Bích Khê của
Chế Lan Viên -1987; Bích Khê - sự thức nhận ngôn từ của Đỗ Lai Thúy – 1994;
Bích Khê con chim Yến của thời gian của Võ Tấn Cường; Bích Khê truyền thống
và cách tân của Lê Đình Kỵ-1997… Mỗi nhà nghiên cứu đều đi vào từng khía
cạnh khác nhau trong đó quan trọng nhất là bài nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy.
Bài viết này đã cho người đọc một hướng tiếp cận thơ Bích Khê từ góc độ thi
pháp học khá độc đáo, tiếp cận từ nghệ thuật ngôn từ với những phương diện
tiêu biểu: nghệ thuật ẩn dụ, biểu tượng, nhạc tính và cách sử dụng hệ thống vật
liệu ngôn ngữ mang cảm giác lạnh… Đây là những phát hiện sâu sắc về các giá
trị thơ Bích Khê từ mặt hình thức biểu hiện và nó cũng sẽ là cơ sở để người viết
tham khảo đi sâu khai thác thế giới nghệ thuật thơ Bích Khê.
Thơ Bích Khê dần dần được trả lại vị trí mà đáng lẽ phải được hưởng từ
lâu. Trong Từ điển Văn học (bộ mới)-2004, Nguyễn Huệ Chi có bài viết giới
tập trung khám phá thơ Bích Khê trên nhiều phương diện như thi pháp, ngôn
ngữ thơ …
Đặc biệt trên Internet có một số trang web có bài viết về Bích Khê hay
liên quan đến Bích Khê như trang “Thơ Bích Khê- nơi gặp gỡ những người yêu
thơ Bích Khê” (Bichkhe.org), trang Thuykhe.free.fr, các trang evan.com.vn… 6
Như vậy với việc điểm qua các công trình, các bài nghiên cứu về thơ Bích
Khê, chúng tôi thấy rằng so với các tác giả thuộc “Trường thơ Loạn” thì các bài
viết về Bích Khê còn hơi ít: thời ông sống bài viết rất ít, trong chiến tranh thì bị
người đời quên lãng, thời hậu chiến người ta nghiên cứu về ông một cách dè dặt.
Và cho đến những năm gần đây, việc đọc hiểu, cảm thụ trang thơ Bích Khê mới
bắt đầu lan rộng. Các bài viết nhìn chung tập trung vào hai ý kiến sau: thứ nhất
thơ ông khó hiểu, khó tiếp cận; thứ hai là trong sáng tác, Bích Khê là người có
những cách tân độc đáo.
Thông qua khảo sát các công trình nghiên cứu về Bích Khê, chúng tôi
nhận thấy hầu như các bài viết mới chỉ dừng lại ở những khía cạnh riêng lẻ chứ
chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, trọn vẹn về Thế giới nghệ thuật trong
thơ Bích Khê. Chính vì thế, trong công trình này chúng tôi cố gắng đưa ra một
cách nghiên cứu tương đối có tính hệ thống về Thế giới nghệ thuật trong thơ
Bích Khê trên cơ sở tiếp thu có lựa chọn của những công trình trước đó. Hi vọng
luận văn sẽ đem lại cho người yêu thơ Bích Khê một cái nhìn toàn vẹn hơn về
thế giới nghệ thuật trong thơ ông để từ đó thấy rõ vai trò của Bích Khê trong tiến
trình vận động của thơ ca Việt Nam hiện đại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của công trình này là hai tập thơ Tinh huyết và
Tinh hoa và những văn bản tư liệu về Bích Khê.
-Phạm vi tư liệu: Luận văn sử dụng cuốn Thơ Bích Khê của NXB Tổng
hợp Đồng Nai 2006 làm cứ liệu chủ yếu để nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi có
Chương 2. Hệ thống hình tượng trong thơ Bích Khê
Chương 3. Đặc trưng nghệ thuật trong thơ Bích Khê 9
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SỰ HÌNH
THÀNH TÀI NĂNG THI CA BÍCH KHÊ
1.1.Quan niệm về thế giới nghệ thuật của một nhà văn
Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ ngày càng được sử dụng nhiều trong
nghiên cứu văn học khi nghiên cứu tìm hiểu về một nhà văn, một trường phái,
một khuynh hướng sáng tác hay một thể loại văn học. Những nhà văn, nhà thơ
lớn, những người nghệ sĩ tài năng bao giờ cũng tạo dựng được một thế giới nghệ
thuật riêng. Trong thế giới ấy, người nghệ sĩ có thể phát huy được hết những tài
năng và sở trường của mình. Tìm hiểu về thế giới nghệ thuật, chúng ta thấy từ
xa xưa, Arixtot đã cho rằng:“nghệ thuật là thực hiện một phần những điều mà tự
nhiên không thể nào làm được bằng cách một phần bắt chước tự nhiên” [27,
tr.41]. Nói tới nghệ thuật thi ca là nói tới những sáng tạo của người nghệ sĩ. Do
đó thế giới nghệ thuật trong thi ca là bức tranh tổng thể được người nghệ sĩ sáng
tạo bằng ngôn từ, nó chưa từng tồn tại trong thế giới thực tại vật chất và mãi mãi
không bao giờ có thể biến thành thực tại vật chất thế nhưng nó lại mang sự sống,
tâm hồn chân thực của con người, của một thế hệ, của một thời đại. Đó là sản
phẩm sáng tạo đặc biệt, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan của nhà
thơ. Thế giới nghệ thuật vừa phản ánh thế giới xung quanh được cảm thấy vừa
phản ánh thế giới tự cảm thấy của chủ thể sáng tạo.
Trong Từ điển văn học bộ mới, GS.Trần Đình Sử quan niệm: “Thế giới
PGS.TS Lê Quang Hưng trong Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trước
1945 có đưa ra cách hiểu như sau: Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một chỉnh
thể thống nhất bao hàm các thành tố cấu trúc và các qui luật cấu trúc chung thể
hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng 1
1
tượng của mình. Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá
nhân, với phong cách sáng tác của bản thân nhà thơ, mặt khác nó phản ánh
trình độ sáng tác của một giai đoạn lịch sử, một thời đại [21, tr.30], trong công
trình này tác giả đã đi sâu vào ba chương đó là “hình tượng cái Tôi”; “hình
tượng thế giới” và “Tổ chức lời thơ” trong những sáng tác của Xuân Diệu trước
1945.
Tổng hợp các ý kiến nêu trên, có thể rút ra được những nội dung cơ bản
khi tìm hiểu thế giới nghệ thuật của một nhà văn, nhà thơ là: cần phải tìm hiểu về
thân thế, con người nhà thơ, các luồng tư tưởng chịu ảnh hưởng, bối cảnh xã hội,
quan niệm nghệ thuật của tác giả đó, quan niệm ấy có thể được phát biểu trực
tiếp hoặc gián tiếp trong các sáng tác nghệ thuật; thứ hai là cần phải nghiên cứu,
tìm hiểu thế giới hình tượng của người nghệ sĩ để xem anh ta thường đi sâu khai
thác những hình tượng nào và những hình tượng ấy có mối liên hệ gì trong thực
tế xã hội (ảnh hưởng của xã hội, của nhà văn, của thời đại); thứ ba là nghiên cứu
tìm hiểu xem để thể hiện thế giới nghệ thuật ấy, nhà văn, nhà thơ đã sử dụng
ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật gì và chúng ta cần phân biệt tác giả ấy với các
tác giả khác.
Như vậy khi tìm hiểu thế giới nghệ thuật của một nhà văn, nhà thơ có
nghĩa là người nghiên cứu cần phải có kiến thức tổng hợp về cuộc đời, sự nghiệp
của nhà văn, tìm hiểu về xã hội mà nhà văn đang sống, cần phải đọc kĩ, thống kê,
nghiên cứu, tìm hiểu những sáng tác của anh ta để từ đó có cái nhìn bao quát,
toàn diện về sự nghiệp văn học của một đời văn, từ đó hiểu rõ hơn về tư tưởng,
có những tháp Chàm vắng lặng tạo ra nét riêng cho không gian văn hóa của
mảnh đất này, 500 năm sau nơi đây vẫn bình yên lặng lẽ. Sinh ra trên mảnh đất
quê hương có truyền thống văn hóa, Bích Khê rất tự hào về quê hương núi Ấn
sông Trà: 1
3
Trà giang Thiên Ấn chuông gầm sóng
Vang tiếng ngàn năm đất Cấm Thành
Ngàn năm quả Ấn nằm trơ mốc
Một giải sông Trà chảy sậm xanh
(Trên núi Ấn nhìn sông Trà)
Bản thân con người Bích Khê: ngay từ khi còn nhỏ, Bích Khê đã nổi tiếng
thông minh, chăm học. Năm 12 tuổi, Bích Khê đã biết làm thơ Đường luật và
bước đầu đã gặt hái được những thành công, trở thành niềm hãnh diện của gia
đình. Năm 16 tuổi khi học xong trung học ở Huế, Bích Khê tiếp tục ra Hà Nội
học ban tú tài tại một trường tư nhưng vì muốn giúp đỡ một người bạn cùng lớp
khỏi bị thất học nên ông nửa chừng bỏ dở. Cuộc đời của Bích Khê sau đó gặp
khá nhiều bất hạnh, từng dạy học tư ở Phan Thiết và ở Huế để kiếm tiền mưu
sinh nhưng những ngày tháng làm “giáo khổ trường tư” này cũng hết sức lận đận.
Đau đớn hơn, năm 22 tuổi, ở vào độ tuổi đẹp nhất với biết bao ước mơ, khát
vọng thì Bích Khê biết mình mắc phải bệnh lao phổi, một trong “tứ chứng nan y”
lúc bấy giờ. Là con út trong một gia đình có 9 anh chị em nên ông rất được chiều
chuộng và khi biết tin ông mắc bệnh, gia đình cũng đã cố gắng hết sức để chạy
chữa cho ông. Trước cú sốc về bệnh tật và thực tế thường xuyên bị bệnh tình dày
vò, đau đớn, Bích Khê hay rơi vào trạng thái đau buồn. Cũng giống như Hàn
Mặc Tử, ông đứng chông chênh giữa bờ vực của sự sống và cái chết. Cái chết
hiện hình trong những cơn đau, trong những cơn ho khiến cho thể trạng nhà thơ
trở nên héo mòn. Điều này khiến cho Bích Khê luôn nhìn đời ở hai trạng thái đối
“điên cuồng” sống, “điên cuồng” chống trả số phận bằng những sáng tạo nghệ
thuật hiểu theo nghĩa là nhà thơ đã dốc hết “tinh huyết, tinh hoa” cho những
sáng tác. Cũng giống như Hàn Mặc Tử, xuất phát từ kiểu thơ Đường luật, nhưng
đến 1937-1938, nhà thơ đã hòa mình vào phong trào Thơ mới với mong muốn sẽ 1
5
có những sáng tạo, những cách tân táo bạo nhất cho thơ ca mình. Vào những
năm cuối đời, mặc dù bị bệnh tật hành hạ đau đớn thế nhưng đó cũng lại là
những năm Bích Khê sáng tác nhiều nhất, ông đã dồn hết tâm huyết mình cho
thơ ca.
Bích Khê không chỉ trải qua bất hạnh trong bệnh tật, trong việc kiếm kế
sinh nhai mà ngay trong chuyện tình cảm, thi sĩ cũng gặp những khó khăn, yêu
ba người và cả ba mối tình ấy đều lần lượt tan vỡ. Người đầu tiên là Song Châu,
vốn dĩ là một cô học trò, có đôi mắt say sưa, có làn da trắng mịn với dáng điệu
mảnh khảnh yêu kiều. Người thứ hai là Bích Thủy, trước đó Bích Khê đã gặp
nàng ở nhà anh trai cả ở Mũi Né (Phan Thiết), Bích Thủy rất yêu Bích Khê, nàng
muốn tính chuyện trăm năm nhưng Bích Khê đã không đồng ý, theo Bích Khê
“gần nhau mãi có đẹp gì”. Sự từ chối này do chính quan niệm về tình yêu có tính
chất lí tưởng hóa của bản thân nhà thơ. Người thứ ba là Ngọc Kiều, Bích Khê
gặp Ngọc Kiều khi nhà thơ cùng với chị gái vào Nam mở trường dạy học. Ngọc
Kiều hiền lành, đôi mắt buồn như báo trước những điều tan vỡ, hai người yêu
nhau tha thiết nhưng gia đình Ngọc Kiều từ chối vì đã hứa gả con gái cho một
gia đình phú thương. Ngọc Kiều loạn trí, đòi quyên sinh, để cứu con gái, gia
đình Ngọc Kiều đã đồng ý gả nàng cho Bích Khê nhưng đến lúc này Bích Khê
lại không ưng bởi cái tính sĩ diện của thi sĩ. Như vậy là cả ba mối tình đều tan vỡ,
nguyên nhân chính là do tính tự ái của Bích Khê. Dường như nhà thơ muốn giữ
mãi vẻ đẹp của mối tình đầy mộng ảo để khao khát, để ngưỡng vọng hơn là tiến
tới thực tế của một cuộc hôn nhân. Những mối tình không thành nhưng bóng
thân con người nhà thơ (một người thông minh, ham học; phải chịu nhiều bất
hạnh về bệnh tật, cay đắng trong chuyện tình yêu), tất cả những yếu tố này đã
góp phần hình thành nên tài năng thi ca Bích Khê.
1.2.2. Vị thế của Bích Khê trong “Trƣờng thơ Loạn”
Quy Nhơn- Bình Định là một vùng đất địa linh nhân kiệt- một không gian 1
7
văn hóa lịch sử đặc biệt, nơi chứng kiến sự sụp đổ của một vương triều, bao
nhiêu chiến binh tử trận, thành Đồ Bàn ngày nào còn lại một dãy gò sỏi mênh
mông với những tháp Chàm đổ nát. Đến những năm 1932-1945, nơi đây lại xuất
hiện những đỉnh cao Thơ mới mà “Trường thơ Loạn” là tiêu biểu.
“Trường thơ Loạn” ra đời trên cơ sở nhóm thơ Bình Định mà nhóm thơ
này vốn được hình thành từ nhóm Thái Dương Văn Đoàn. Nhóm Thái Dương
Văn Đoàn là một tập hợp đông đảo học sinh, trí thức Nam Trung Bộ sống ở
thành phố Quy Nhơn, bao gồm những người yêu thơ, tập làm thơ và có mộng trở
thành thi sĩ. Chính từ thi đàn này đã hình thành ra nhóm thơ Bình Định (1936)
với 4 gương mặt đó là Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan (còn
được gọi là Bàn Thành Tứ Hữu hay nhóm Tứ Linh). Về sau trong nhóm thơ
Bình Định lại có sự phân hóa khuynh hướng sáng tác và quan điểm thẩm mỹ:
Quách Tấn sáng tác theo khuynh hướng cổ điển, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,
Yến Lan lại sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn và bắt đầu thiên về địa hạt
tượng trưng, ba nhà thơ này đã tách ra thành lập “Trường thơ Loạn”. Bài tựa tập
Điêu tàn và bài tựa tập Thơ Điên được xem như lời tuyên ngôn nghệ thuật lúc
khai trương Trường thơ trước thi đàn Thơ mới ở Nam Trung Bộ. Từ sau 1938
thì “Trường thơ Loạn” có thêm Bích Khê (Quảng Ngãi) và Quỳnh Dao (Hà
Tĩnh). Như vậy, Bích Khê đến với Thơ mới sau Hàn Mặc Tử, do đó quan niệm
nghệ thuật của Hàn Mặc Tử đã được Bích Khê hưởng ứng và hơn thế, nó thấm
sâu vào tư duy nghệ thuật thơ Bích Khê. Chính vì thế mà Quách Tấn đã nhận xét:
quan niệm mỹ học của các nhà thơ tượng trưng Pháp, đặc biệt là Baudelaire.
Nếu Xuân Diệu đã nhận từ Baudelaire tư duy tương ứng, chủ yếu là tương ứng
giữa các giác quan để đi vào thế giới du dương của trần thế thì các nhà thơ trong
“Trường thơ Loạn” lại tiếp nhận từ Baudelaire một cảm quan ma quái để đi vào
thế giới đau thương. Baudelaire tìm kiếm chất thơ ở những gì ghê rợn, kinh hãi
như xác chết, máu me, xương tủy, sự dâm đãng… Các nhà thơ “Trường thơ
Loạn” cũng nói đến xác chết, đầu lâu, xương khô, sự trần truồng, trong thơ Hàn 1
9
Mặc Tử có “hương thơm và mật đắng”, “máu cuồng và hồn điên”; thơ Bích Khê
có “nhạc và lệ”, “đẹp – dâm”, “đẹp – cuồng và ánh sáng”; thơ Chế Lan Viên đầy
rẫy những “ma”, “tinh”, “yêu”, “xương”, “máu”. Chất tượng trưng đã ngấm sâu
vào huyết quản của cả “Trường thơ Loạn”, các nhà thơ này bắt đầu đi tìm cái
đẹp ở “những bờ bến xa lạ của cảm giác” (chữ dùng của Hàn Mặc Tử), tìm
những khoái lạc bệnh tật ở những vùng đất chưa được khám phá.
Tuy nhiên quan niệm về cái đẹp của các nhà thơ “Trường thơ Loạn” vẫn
có một diện mạo riêng. Nguyên tắc mỹ học cao nhất chi phối quan niệm của
Trường thơ đó là Cái Tột Cùng. Trong lời Tựa Điêu Tàn- Tuyên ngôn của
Trường thơ, Chế Lan Viên đã khẳng định: “Cái gì của nó cũng Tột cùng”.
Nguyên tắc này là mơ ước chung của người nghệ sĩ nhưng chỉ ở “Trường thơ
Loạn” nó mới nó mới trở thành chủ trương, thành nguyên tắc cao nhất trong
sáng tác. Tột Cùng của “Trường thơ Loạn” là Thơ trên Thơ, Ánh Sáng trên Ánh
Sáng, Đau Khổ ở trên mọi Đau Khổ, Sung Sướng trên mọi sự Sung Sướng….
Các nhà thơ muốn đi tìm những cảm giác dù đau thương hay hờn giận thì cũng
phải ở mức đạt đến đỉnh cao nhất.
Ở địa hạt kinh dị, cái đẹp là sự phá cách trong những kết hợp nghịch lý
nhưng lại thống nhất: “đẹp – kinh dị”, “đẹp – dâm”, “đẹp – cuồng”, “đẹp – thần bí”.
Ở góc độ truyền thống là cái đẹp thanh cao, trong trắng, Hàn Mặc Tử
học vừa có điểm giống các thi hữu lại đồng thời thể hiện cá tính riêng của mình.
1.2.3.Quá trình hình thành thi nghiệp và quan niệm thẩm mỹ của Bích Khê
1.2.3.1. Sự nghiệp thi ca của Bích Khê
Yếu tố thời đại, gia đình, bản thân con người nhà thơ cộng với việc Bích
Khê tham gia trong “Trường thơ Loạn”, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng
trưng siêu thực Pháp nên đã hình thành một sự nghiệp văn học và quan niệm