TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM HUỲNH Ý NHI
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY
ĐỐI VỚI HỘ NÔNG DÂN
TẠI AGRIBANK CN TX NGÃ BẢY HẬU GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số ngành: 52340201
Tháng 8/ 2013
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Lý do chọn đề tài
Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, là bước đi không có quyền chọn lựa của nền
kinh tế Việt Nam. Hòa cùng thời buổi hội nhập, cả nước ta đang chung tay xây
dựng vì một Việt Nam không những ổn định về chính trị mà còn vững mạnh về
kinh tế. Vì thế, cả nền kinh tế nói chung và đặc biệt là ngành Ngân hàng nói riêng
phải đi đầu trong quá trình hội nhập. Tại sao? Bởi vì đây là một trong những ngành
có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Với
phương châm “đi vay để cho vay”, toàn ngành Ngân hàng đứng ra điều hòa nguồn
vốn cho nền kinh tế, luân chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Trong cơ cấu kinh tế của nước ta, nông nghiệp luôn là thế mạnh, cùng với các
ngành kinh tế khác, nông nghiệp và nông thôn đang có những bước tiến vượt bậc.
Với khát vọng làm giàu cho đất nước cũng như chính bản thân mình, người nông
năm chỉ vào khoảng 2.300 người/ năm, doanh số cho vay 190 tỷ đồng,tăng trưởng
tín dụng tăng theo nhu cầu vốn của hộ nông dân, nhưng trong tình hình kinh tế- xã
hội khó khăn, lạm phát tăng cao thì nhu cầu vốn của hộ nông dân có tỷ lệ thuận
hay không, để mở rộng, phát triển hoạt động cho vay hộ nông dân thì cần phải
phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn vay một cách chính xác. Và từ đó
cũng hiểu rõ về thực trạng cũng như những yếu tố tác động đến hoạt động cho vay
của Agribank chi nhánh thị xã Ngã Bảy Hậu Giang đối với các hộ nông dân. Vì
vậy em đã quyết định chọn đề tài “ Phân tích hoạt động cho vay đối với hộ nông
dân tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh
Thị xã Ngã Bảy Hậu giang ” để làm đề tài tốt nghiệp cho mình.
1.1.2. Căn cứ khoa học và thực tiễn:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở căn cứ vào các yếu tố chủ yếu sau:
- Luật các tổ chức tín dụng và các quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng.
- Một số chủ trương, chính sách về tín dụng hộ nông dân như:Quyết đinh
67/1998/QĐ-TTg; Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010, Quyết định số
63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010.
- Những số liệu thực tế được cung cấp và thông tin thu thập được qua quá
trình thực tập tại phòng Tín Dụng của Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung
Phân tích hoạt động cho vay đối với đối tượng khách hàng là hộ nông dân
tại Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang từ năm 2010 đến năm 2012. Qua đó, đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động cho vay dành cho hộ nông dân tại
Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Phân tích tình hình huy động vốn của chi nhánh để xem nguồn
vốn của chi nhánh có đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng.
- Mục tiêu 2: Phân tích tổng quát về thực trạng hoạt động cho vay đối với
hộ nông dân của Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang qua một số chỉ tiêu: doanh
2.1.1.1. Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong
đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất
định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và
lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Quan hệ giao dịch này được thể hiện
qua nội dung sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định,
giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời lượng giá trị chuyển giao trong
một thời gian nhất định. Sau khi hết thời gian sử dụng người đi vay có nghĩa vụ
phải hoàn trả cho người cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu,
khoản dôi ra gọi là lợi tức tín dụng.
Quan hệ tín dụng còn hiểu theo nghĩa rộng hơn là việc huy động vốn và cho
vay vốn tại các Ngân hàng, theo đó Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong việc
“đi vay để cho vay”. Tín dụng Ngân hàng là hoạt động tài trợ của Ngân hàng cho
khách hàng nhằm thõa mãn nhu cầu về vốn của khách hàng dựa trên nguyên tắc
khách hàng phải trả cả gốc và lãi đúng như thời hạn cam kết.
2.1.2. Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay đối với hộ nông dân
2.1.2.1. Khái niệm về hộ nông dân
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp sản xuất kinh doanh các
ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp. Có tính chất tự sản xuất, tự tiêu, do cá
nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh.
2.1.2.2. Đặc điểm của hộ nông dân
Hộ nông dân chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài ra còn
nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn. Hộ nông dân có
đặc điểm như sau:
- Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia vào các hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau. Khả năng của hộ chỉ có thể thỏa
mãn nhu cầu tái sản xuất giản đơn nhờ sự kiểm soát tư liệu sản xuất, nhất là ruộng
và lao động.
sẽ là yếu tố quyết định trong xác định khả năng trả nợ của khách hàng. Tuy nhiên
sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn, đặc biệt là những yếu
tố như đất, nước, nhiệt độ, thời tiết, khí hậu. Bên cạnh đó, yếu tố tự nhiên cũng tác
động tới giá cả của nông sản (thời tiết thuận lợi cho mùa bội thu, nhưng giá nông
sản hạ,…) làm ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ của khách hàng đi vay.
Chi phí tổ chức cho vay cao:
Chi phí tổ chức cho vay có liên quan đến nhiều yếu tố như chi phí tổ chức
mạng lưới, chi phí cho việc thẩm định, theo dõi khách hàng/ món vay, chi phí
phòng ngừa rủi ro. Cụ thể là:
5
Cho vay nông nghiệp đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường chi phí
nghiệp vụ cho mỗi đồng vốn vay thường cao do qui mô từng vốn vay nhỏ.
Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi nên mở rộng cho vay
thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ (mở chi nhánh,
bàn giao dịch, tổ cho vay tại xã…).
Bên cạnh đó, do ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao nên chi phí
cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác.
2.1.3. Phân tích tình hình cho vay đối với hộ nông dân:
2.1.3.1. Phân tích doanh số cho vay
Là chỉ tiêu phản ánh các các khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cho vay,
không xét đến việc khoản tín dụng đó đã thu được về hay chưa, thường được xác
định theo tháng, quý hay năm.
2.1.3.2. Phân tích doanh số thu nợ
Là chỉ tiêu phản ánh các khoản thu nợ gốc mà Ngân hàng đã thu về từ các
khoản cho vay của Ngân hàng kể cả các khoản vay của năm nay và những năm
trước đó, kể cả thanh toán dứt điểm hợp đồng và thanh toán một phần.
2.1.3.3. Phân tích dư nợ
hạn còn lại.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định (khoản 2 điều 6
QĐ 18/2007/QĐ-NHNN)
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày.
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định (khoản 2 điều 6
QĐ 18/2007/QĐ-NHNN)
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 10 ngày, trừ
các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn lần đầu tiên phân loại và nhóm 2 theo quy định.
- Các khoản nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3theo quy định (khoản 2 điều 6
QĐ 18/2007/QĐ-NHNN)
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định (khoản 2 điều 6
QĐ 18/2007/QĐ-NHNN)
7
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
Nếu tỷ lệ thu lãi > = 85% là tốt
2.1.4.3. Tỷ lệ dư nợ/Vốn huy động
8
Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy
động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, thể hiện ngân
hàng đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy động.
Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ vốn huy động, nếu chỉ tiêu này lớn
hơn 1 thì ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, vốn huy động tham gia
vào cho vay ít, khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa tốt, nếu chỉ tiêu này
nhỏ hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây
lãng phí.
2.1.4.4. Tỷ lệ dư nợ/ Tổng nguồn vốn (%).
Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung
vốn tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng vốn để cho vay của ngân hàng, chỉ tiêu
càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng cao, ngược lại càng thấp thì ngân hàng
đang bị trị trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí, có thể gây ảnh hưởng đến doanh thu
cũng như tỷ lệ thu lãi của ngân hàng.
2.1.4.5. Hệ số rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng
Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
Ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho Ngân hàng.
Nợ xấu
Hệ số rủi ro tín dụng =
này thể hiện trung bình mỗi hộ nông dân chiếm bao nhiêu phần trăm nợ xấu. Điều
này nói lên nếu tỷ lệ nợ xấu trên mỗi hộ nông dân tăng thì hoạt động cho vay trong
lĩnh vực này không tốt, từ đó Ngân hàng nên có hướng điều chuyển vốn hoặc tìm
giải pháp hạn chế.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu từ bên trong Ngân hàng: Số liệu được thu thập là số liệu thứ cấp từ
phòng tín dụng của Agribank CN Tx Ngã Bảy qua 3 năm 2010 –2012. Ngoài ra,
còn thông qua quan sát từ những chuyến thẩm định thực tế kèm theo trao đổi và
học hỏi các cán bộ tín dụng.
Số liệu thu thập từ bên ngoài Ngân hàng: Thu thập từ báo chí, và sách giáo
khoa chuyên ngành đã học.
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
2.2.2.1. Điều kiện so sánh
Các chỉ tiêu so sánh được phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian;
cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường; phương pháp tính toán; quy mô và điều
kiện kinh doanh.
2.2.2.2. Phương pháp so sánh tuyệt đối
Là so sánh mức độ đạt được của chỉ tiêu kinh tế ở những khoảng thời gian
và không gian khác nhau nhằm đánh giá sự biến động về quy mô, khối lượng của
chỉ tiêu kinh tế đó. Từ đó tìm ra nguyên nhân biến động của chỉ tiêu kinh tế và đưa
ra biện pháp khắc phục.
10
Phương pháp so sánh số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ
phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
∆y = y1- yo
Trong đó:
Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng.Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp
Phụng Hiệp trực thuộc của Ngân hàng Phát Triển Nông nghiệp Cần Thơ.
Ngày 14/11/1990, theoNghị định số 400/CT Ngân hàng Phát triển Nông
nghiệp Phụng Hiệp chính thức đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp Phụng Hiệp.
Ngày 15/10/1996 Quyết định số 280/QĐNH của NHNo & PTNT Việt Nam
đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Phụng Hiệp thành NHNo & PTNT Phụng Hiệp là
Chi nhánh trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Cần Thơ.
Đến ngày 01/03/2004 theoQuyết định 64/QĐ/HĐQT – TCCB của Chủ Tịch
Hội Đồng Quản Trị NHNo & PTNT Việt Nam. NHNo & PTNT Huyện Phụng
Hiệp là Chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHNo & PTNT Tỉnh Hậu Giang.
Theo Quyết định số 528/QĐ/HĐQT – TCCB ngày 22/11/2005 của Chủ
Tịch Hội Đồng Quản Trị NHNo & PTNT Việt Nam về việc: “đổi tên Chi nhánh
NHNo &PTNT Huyện Phụng Hiệp thành Chi nhánh NHNo & PTNT Thị xã Tân
Hiệp. Đến ngày 17/01/2007 Quyết định số 23/QĐ - HĐQT - TCCB của Hội Đồng
Quản Trị NHNo & PTNT Việt Nam đổi tên Chi nhánh NHNo & PTNT Thị xã Tân
Hiệp thành NHNo & PTNT Thị xã Ngã Bảy.
Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang là một Chi nhánh cấp 2, với đội ngũ
nhân viên còn thiếu về số lượng. Thế nhưng với sự đoàn kết và nỗ lực của tập thể
Công nhân viên Ngân hàng, trong những năm qua, Chi nhánh đã đóng góp một
phần to lớn trong việc thay đổi bộ mặt kinh tế của thị xã Ngã Bảy và các vùng lân
cận. Chi nhánh luôn thực hiện tốt nhiệm vụ điều hòa nguồn vốn cho nền kinh tế
địa phương, là nơi giao dịch đáng tin cậy của người dân.Hiện nay số lượng khách
hàng biết đến và giao dịch với Chi nhánh ngày càng đông chứng tỏ Agribank thị xã
Ngã Bảy đã rất có uy tín với khách hàng.
Mặc dù hiện tại vẫn còn khó khăn, nhưng với sự quyết tâm của một tập thể
đoàn kết, Agribank Thị xã Ngã Bảy luôn phấn đấu với phương châm “lấy nông
thôn làm thành thị, Nông nghiệp làm đối tượng cho vay, khách hàng chính là nông
dân” nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là Nông
nghiệp và Nông thôn.
Nguồn: Phòng KHKD Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức đến 9/2013 của Chi Nhánh
3.2.2. Chức năng các phòng ban của Agribank CN TX Ngã Bảy Hậu Giang
3.2.2.1. Ban giám đốc
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ nhiệm vụ và kế hoạch
kinh doanh, hướng dẫn, giám sát các phòng ban thực hiện đúng chức năng, nhiệm
vụ.
- Có quyền trong việc tổ chức, điều hành, khen thưởng, miễn nhiệm cán bộ
của Ngân hàng.
- Điều hành mọi hoạt động của Ngân hàng, ký kết hợp đồng tín dụng với
khách hàng trong giới hạn ủy quyền của Giám đốc Agribank tỉnh Hậu Giang.
- Tổ chức nghiên cứu, học tập và hướng dẫn thi hành các chế độ, thể lệ
nhiệm vụ của Ngân hàng.
3.2.2.2. Phòng tín dụng
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng.
- Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng
lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao.
- Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền.
13
- Tiếp nhận, làm ủy thác và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn
vốn trong nước, ngoài nước.
- Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm.
- Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và
đề xuất hướng khắc phục.
- Kiểm tra hoạt động tín dụng.
Số tiền
2012
2012/2011
Tỷ lệ (%)
Số tiền
Tỷ lệ(%)
Doanh thu
25.095
43.127
43.942
18.032
72
815
2
Chi phí
Nguồn: Phòng KHKD Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang năm (2010-2012)
14
Qua bảng số liệu 3.1, nhìn chung các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận
của Ngân hàng tăng liên tục qua ba năm (2010- 2012). Trong đó, lợi nhuận là chỉ
tiêu có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cả. Kết quả khả quan này là do Ngân hàng đã
phấn đấu thực hiện mục tiêu lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước, tăng cường
huy động vốn, gìn giữa và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng, tăng
cường quảng bá hình ảnh…Trong ba năm thì năm 2011 là năm có mức lợi nhuận
đạt cao nhất với tốc độ tăng trưởng là 64,3% so với năm 2010. Tuy nhiên, tốc độ
tăng trưởng lợi nhuận 2011 của Ngân đã có phần chậm lại hơn so với năm trước.
Nguyên nhân một phần là do sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại trên địa
bàn, ảnh hưởng không nhỏ đến doanh số cho vay trong năm của ngân hàng, phần
khác là do năm 2012, chi phí hoạt động của Ngân hàng đã gia tăng đáng kể, ảnh
hưởng đến lợi nhuận đạt được trong năm.
Khi xét về chỉ tiêu doanh thu và chi phí, dễ dàng nhận thấy, hai chỉ tiêu này
gia tăng qua mỗi năm. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng doanh thu là 72%, tốc độ
tăng trưởng chi phí là 74%. Sang năm 2012, doanh thu tăng trưởng 2% so với
2011, tốc độ tăng trưởng chi phí là 3,9%. Năm 2011 và 2012, tốc độ tăng trưởng
doanh thu luôn ở phía sau tốc độ tăng trưởng chi phí. Nguyên nhân là do các Ngân
hàng cạnh tranh nhau gia tăng lãi suất huy động khiến chi phí hoạt động cũng tăng
theo, tình trạng lạm phát cao, giá cả sinh hoạt leo thang, chi phí quảng bá, tiếp thị,
khen thưởng... cũng gia tăng. Việc muốn tăng trưởng doanh thu nên kéo theo sự
gia tăng của chi phí hoạt động là một điều dễ lý giải, tuy nhiên, Ngân hàng nên có
những biện pháp cắt giảm chi phí một cách hợp lý để tránh nguy cơ chi phí sẽ có
tốc độ tăng trưởng nhanh hơn doanh thu vào những năm sau.
Tóm lại, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian qua khá phát
triển, lợi nhuận gia tăng. Tuy nhiên, chi phí hoạt động cũng đang tăng với tốc độ
trong công tác cho vay và thu hồi nợ. Điều này đã góp phần giúp cho Chi nhánh
hoàn thành tốt các chỉ tiêu được giao.
- Công tác kiểm tra kiểm soát từ các Ngân hàng cấp trên được tăng cường
chặt chẽ vì thế những sai sót được phát hiện và xử lý kịp thời.
3.4.2. Khó khăn của Agribank CN TX Ngã Bảy Hậu Giang.
- Tình hình cạnh tranh trên địa bàn ngày càng gay gắt. Điển hình là sự xuất
hiện ngày càng nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) như:
SacomBank, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Bắc Á, Ngân hàng Nam Việt, Ngân
hàng Miền Tây,…Các NHTMCP này lại thường thường xuyên tổ chức đi quảng
cáo, tiếp thị trực tiếp đến khách hàng, giới thiệu nhiều sản phẩm dịch vụ mới nhằm
thu hút khách hàng, đồng thời ưu đãi về phí chuyển tiền cùng hệ thống. Hơn nữa
lại làm việc thêm ngày thứ 7 nên thu hút lượng khách hàng tương đối lớn. Và trong
tương lai sẽ còn nhiều các tổ chức tín dụng khác đóng trụ sở thị xã Ngã Bảy vì thế
tạo sức ép rất lớn cho Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang.
- Phần lớn người dân thị xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh
doanh nhỏ lẻ, trình độ dân trí còn thấp nên gây nhiều khó khăn cho Ngân hàng
trong việc cho vay và thu nợ.
- Chi nhánh có cả 2 mặt tiền đều giáp lộ, lộ hẹp, lại không có bãi giữ xe.
Nhân viên và khách hàng phải đậu xe lấn đường lộ. Việc này cũng gây khó khăn ít
nhiều cho nhân viên và khách hàng khi đến giao dịch tại Ngân hàng.Điều này ảnh
hưởng không nhỏ đến việc mở rộng dịch vụ của Ngân hàng và giữ chân những
khách hàng lớn.
16
- Tuy Chi nhánh được sự quan tâm giúp đỡ của các Ban ngành, cơ quan
chức năng như: chính quyền địa phương, tòa án, cơ quan thi hành án… nhưng
chưa có sự hỗ trợ đúng mức trong công tác thu hồi nợ. Nhiều hồ sơ của Chi nhánh
yêu cầu phát mãi tài sản để thu hồi nợ nhưng trong khoảng thời gian rất dài vẫn
GIANG QUA CÁC NĂM (2010-2012).
4.1.1. Khái quát tình hình sản xuất của hộ nông dân tại thị xã Ngã Bảy
Hậu Giang.
Thị xã Ngã Bảy là một trong hai thị xã của tỉnh Hậu Giang, kinh tế chủ yếu
nông nghiệp và sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng khang
trang, đời sống nhân dân được năng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm, Ngã Bảy có diện
tích gieo trồng lúa hằng năm hơn 200 nghìn ha, sản lượng ổn định từ 1,1 đến 1,2
triệu tấn/năm. Cây mía đã có vùng nguyên liệu với diện tích lớn (hơn 14 nghìn ha),
năng suất cao so các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL). Diện tích cây ăn
trái của tỉnh đạt hơn 26 nghìn ha, sản lượng đạt hơn 202.840 tấn. Nhiều loại nông
sản như: bưởi năm roi, bưởi hồ lô, cam sành, quýt đường, xoài cát Hòa Lộc, chanh
không hạt, khóm (dứa), cá thát lát, cá rô Ngã Bảy... rất nổi tiếng, được nhiều nơi
biết đến. Nhất là đảm đương tiêu thụ diện tích trên 7.000 ha cam sành của người
dân huyện Châu Thành và thị xã Ngã Bảy. Cũng theo ngành Nông nghiệp tỉnh,
Hậu Giang có khoảng 1.700ha bưởi Năm Roi, tập trung chủ yếu ở huyện Châu
Thành. Hàng năm nhà vườn trong tỉnh cung ứng khoảng 24.800 tấn/năm bưởi Năm
Roi cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung
ương 7 (Khóa X), sau 5 năm tập trung khai thác lợi thế về lúa gạo, thủy sản và cây
ăn trái, giá trị sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp năm 2012 của tỉnh đạt gần 4.000 tỷ
đồng (tăng 18,66% so với năm 2009), ước năm 2013 tăng 23,9% so với năm 2009.
Năm 2013, ước thu nhập trên địa bàn tỉnh đạt 21,5 triệu đồng/người/năm,
tăng gấp 2 lần so với 2009. Trong đó, thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt từ
8,9 triệu đồng/người (năm 2009) lên 19,48 triệu đồng/người (năm 2013), tăng 2,2
lần. Tỷ lệ hộ nghèo hiện còn 14,51%. Thị xã Ngã Bảy đã triển khai nhiều chương
trình, đề án, dự án phát triển sản xuất; tiến hành xây dựng một số chuỗi các giá trị
sản phẩm có thế mạnh như: Lúa gạo, chanh không hạt, mía…
Nông sản hàng hóa ngày càng đa dạng, đạt chất lượng, hiệu quả, một số mặt
hàng nông sản bước đầu hình thành mối liên kết bốn nhà; tỷ lệ cơ giới hóa ở các
khâu trong sản xuất nông nghiệp tăng khá, đời sống văn hóa, tinh thần của người
nông dân ngày càng được cải thiện, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính
2011
2012
Số tiền
Số tiền
Số tiền
2011-2010
2012-2011
Số tiền
(%)
342
(0.015)
(4,4)
0.019
5,8
VHĐ
(%)
Nguồn: Phòng kế toán Agribank Tx Ngã Bảy trong giai đoạn 2010-2012.
năm 2010
năm 2011
VĐC
0,18
%
VĐC
VHĐ
năm 2012
VĐC
0,14
%
VHĐ
99,82
%
VĐC
VĐC
0,1%
ngân hàng cấp trên. Nhờ cho vay mà ngân hàng có được thu nhập để từ đó bồi
hoàn lại khoản tiền gửi của khách hàng, các chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận
cho ngân hàng. Ngân hàng đạt được những thành công trong việc huy động vốn
như vậy chủ yếu là do các nguyên nhân chủ quan sau: Ban lãnh đạo Chi nhánh có
chính sách kịp thời, vận dụng cơ chế linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường để
giữ khách hàng một cách ổn định và bền vững. Chi nhánh tăng cường công tác tiếp
thị, thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi tăng huy động vốn và cho vay như:
quà tặng, bốc thăm trúng thưởng, quay số ...Thêm vào đó, Ngân hàng được thành
lập từ rất lâu (tiếp nhận ngân hàng chế độ cũ năm 1987 đến nay) vì thế uy tín của
ngân hàng rất cao, được khách hàng tin cậy.
Tình hình biến động nguồn vốn: Xét về tình hình biến động nguồn vốn qua
3 năm, nguồn vốn của ngân hàng liên tục tăng, đấy là một tín hiệu tốt cho thấy
hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển và mở rộng. Năm 2012 cơ cấu
nguồn vốn tăng nhanh hơn so với các năm khác, tăng 126.219 triệu đồng (tương
ứng 56,4%) so với năm 2011. Nguyên nhân chủ quan là nhờ Agribank chi nhánh
thị xã Ngã Bảy đã kịp thời có một số chương trình Marketing huy động vốn trong
dân hiệu quả, mở rộng và phát triển thêm nhiều sản phẩm, những cố gắng trong
việc cải thiện và rút ngắn thời gian làm thủ tục để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách
hàng. Trong năm 2012 vốn điều chuyển cũng có phần tăng nhưng không đáng kể.
Điều này chứng tỏ khả năng huy động và tự chủ về vốn của Ngân hàng ngày càng
được tăng lên, số vốn điều chuyển từ trên xuống ngày càng giảm.
Năm 2010, tổng nguồn vốn của ngân hàng là 189.116 triệu đồng. Sang năm
2011, nguồn vốn đã gia tăng thêm 34.848 triệu đồng tương ứng tốc độ tăng trưởng
18,4%. Nguyên nhân năm 2011, nguồn vốn của ngân hàng chỉ tăng được như vậy
là do những biến động kinh tế bất thường trong năm, lạm phát tăng cao, sản xuất
kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó là là sự chạy đua lãi suất gay gắt giữa
các ngân hàng thương mại, những điều chỉnh của Ngân hàng Trung Ương như hạn
chế tín dụng trong một số lĩnh vực, những chính sách điều chỉnh nhằm nâng cao
tiêu chuẩn an toàn của hệ thống Ngân hàng.
khi huy động được nguồn vốn rẻ giúp Ngân hàng tiết kiệm được chi phí trả lãi,
mạnh dạn đầu tư làm tăng lợi nhuận và rủi ro của Ngân hàng cũng được giảm
thiểu. Đây là điều mà bất kỳ Ngân hàng nào hoạt động vì mục đích lợi nhuận cũng
muốn đạt được.
Trong những năm qua, nền kinh tế có nhiều biến động. Hoạt động của
Ngân hàng cũng vì thế bị ảnh hưởng không ít. Tình hình lãi suất, tỷ giá, giá
vàng biến động không ngừng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của
người dân trong việc đầu tư mua vàng hay gởi tiền vào Ngân hàng. Tuy nhiên,
đối với Chi nhánh Agribank Thị xã Ngã Bảy tình hình huy động vốn có rất
nhiều khả quan.
21
Hoạt động huy động vốn của Chi nhánh dưới các hình thức: nhận tiền gửi
của kho bạc, các tổ chức kinh tế, dân cư dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn,
tiền gửi có kỳ hạn. Tình hình huy động vốn của Agribank CN Tx Ngã Bảy trong
giai đoạn như sau:
Bảng 4.2: Tình hình huy động vốn của Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang
qua ba năm (2010-2012).
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
Chênh lệch
2010
2011
147.646
191.686
307.750
44.040
6.374
4.551
11.097
141.272
187.134
296.654
45.862
TG TCTD
41
381
410
4.468
0,2
30
116.064
61
(1.823) (28,6)
6.546
143,8
32,5
109.520
58,5
340
829
29
7,6
toán trong quá trình kinh doanh. Nhìn chung tiền gửi của TCKT tăng qua các
năm.Năm 2012 là huy động được 14.435 triệu đồng tăng 3.488 triệu đồng tương
ứng với tốc độ tăng trưởng là 32% so với năm 2011, đây cũng là năm có mức
huy động cao nhất trong ba năm. Tuy nhiên, khoản tiền gửi của các TCKT vẫn
còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, nguyên nhân là do hiện
nay các doanh nghiệp tập trung tại thị xã Ngã Bảy còn thấp nên vốn này chiếm
tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, do đó ảnh hưởng rất ít đến
nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Thêm vào đó, là ảnh hưởng chung của tình
hình kinh tế của cả nước nên việc kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức
22
kinh tế trong những năm vừa qua gặp không ít khó khăn nên tiền gửi của các tổ
chức kinh tế trong những năm vừa qua tăng trưởng không ổn định.
Tiền gửi kho bạc:
Đây là lượng tiền thu từ thuế, phí, lệ phí của Kho bạc thị xã Ngã Bảy chưa
có nhu cầu chi trong một thời gian nhất định vì vậy gửi vào ngân hàng. Kho bạc là
một trong những đối tượng có tiền gửi khá lớn vào Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu
Giang, loại tiền gửi này chủ yếu gửi dưới hình thức không kỳ hạn vì nhu cầu rút
vốn của Kho bạc là thường xuyên để phục vụ cho việc chi tiêu ngân sách. Trong
giai đoạn 2010–2012 lượng tiền gửi của Kho bạc có sự tăng giảm không ổn
định.Năm 2010, số tiền gửi của Kho bạc tại Agribank Ngã Bảy lớn nhất trong giai
đoạn 2010 –2012 với số tiền 32.577 triệu đồng. Nguyên nhân là do trên địa bàn thị
xã có một số công trình bồi thường giải toả (xây giải tỏa để xây cầu Phụng hiệp,
làm đường giao thông...) để phát triển kinh tế nên lượng tiền từ cấp trên về Kho
bạc lớn, trong thời gian chờ bồi thường giải toả thì một trong những biện pháp giữ
an toàn và hiệu quả nhất đó chính là gửi vào Ngân hàng. Năm 2011, tiền gửi của
Kho bạc giảm 12.204 triệu đồng (tương ứng tốc độ tăng trưởng giảm 0,4% so với
năm 2010). Sang năm 2012, tiền gửi của Kho bạc tăng thêm 4.468 triệu đồng
nên Ngân hàng phải trích lập dự trữ bắt buộc theo qui định và Ngân hàng không
chủ động được nguồn vốn cho nên lãi suất áp dụng cho loại hình tiền gửi này
thường rất thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn:
Chủ thể của các khoản tiền gửi này thường là các cán bộ, công nhân viên,
các hộ sản xuất, cá nhân, có thu nhập ổn định. Họ dùng số tiền tạm thời nhàn rỗi
để gửi vào Ngân hàng nhằm hưởng lãi là chính.
Qua bảng số liệu ta thấy tiền gửi dân cư có kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao so
với tiền gửi không kỳ hạn và cao nhất trong tổng vốn huy động. Cụ thể, năm 2011
với tốc độ tăng trưởng tăng 32,5% so với năm 2010, đến năm 2012 tiếp tục tăng
với tốc độ tăng trưởng 58,5% so với năm 2011. Đạt được kết quả như vậy là do
Ngân hàng luôn xây dựng một phương án kinh doanh và huy động vốn cụ thể, chú
trọng vào đối tượng dân cư. Thêm vào đó, Agribank CN Tx Ngã Bảy Hậu Giang là
một Ngân hàng Nhà Nước nên có được sự tin cậy của người dân. Ở nông thôn khi
người dân có tiền thường là họ mua vàng để cắt trữ nhưng những năm qua tuy giá
vàng có tăng cao nhưng lại biến động bất thường, lo sợ rủi ro nên các hộ chuyển
sang gửi tiền tại Ngân hàng là nơi cất trữ an toàn và được hưỡng lãi nên vốn huy
động của Ngân hàng tăng dần qua các năm. Bên cạnh đó, Ngân hàng không ngừng
tăng lãi suất tiết kiệm và mở rộng các chương trình bốc thăm trúng thưởng với
nhiều phần quà hấp dẫn. Điển hình là chương trình tiết kiệm bốc thăm trúng
thưởngvới nhiều phần quà hấp dẫn như: Giải đặc biệt 01 xe tay ga Honda
Airblade, giải nhất 01 xe Honda Wave RS 110, 02 giải nhì mỗi giải 01 Tivi 03 giải
ba mỗi giải 01 máy ảnh kỹ thuật số Canon A480, 05 giải tư mỗi giải 0,5 chỉ vàng
AAA… Đặc biệt đối với hình thức rút thăm trúng thưởng này khách hàng không
được rút tiền trước hạn, khi cần vốn khách hàng có thể vay cầm cố sổ tiết kiệm của
mình tại Chi nhánh. Đạt được kết quả như thế là điều đáng mừng cho Chi nhánh,
vì trong thời buổi kinh tế cả nước đang gặp khó khăn mà hoạt động của Ngân hàng
lại rất có hiệu quả. Thành quả này phải kể đến tài chỉ đạo của Ban Giám Đốc Chi
nhánh và sự đồng thuận nỗ lực từ trên xuống của tập thể cán bộ công nhân viên
Ngân hàng. Với khoản tiền gửi có kỳ hạn này Ngân hàng có thể chủ động được