Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết mùa lá rụng trong vườn của ma văn kháng - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------

LƢU THỊ THANH NGA

VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
CỦA MA VĂN KHÁNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
--------------------

LƢU THỊ THANH NGA

VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT
MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN
CỦA MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 6
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. GIỚI THUYẾT CHUNG ........................................................ 7
1.1. Đặc điểm gia đình truyền thống Việt Nam ................................................ 7
1.2. Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại ...................................... 9
1.3. Ma Văn Kháng và tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn .......................... 16
1.3.1. Vài nét về tiểu sử Ma Văn Kháng ......................................................... 16
1.3.2. Sự nghiệp văn học ................................................................................. 18
1.3.3. Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn ..................................................... 19
CHƢƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA GIA ĐÌNH TRONG TIỂU
THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA MA VĂN KHÁNG .... 22
2.1. Hiện thực đời sống xã hội và gia đình người Việt những năm 80 của
thế kỉ XX ......................................................................................................... 22
2.1.1.Gia đình truyền thống trước sự tác động của hoàn cảnh xã hội ........... 22
2.1.2. Gia đình và mâu thuẫn thế hệ ............................................................... 26
2.1.3.Gia đình và mâu thuẫn giữa các tính cách, lối sống ............................. 29
2.2. Bi kịch gia đình ........................................................................................ 37


CHƢƠNG 3. NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN VĂN HÓA GIA ĐÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN CỦA
MA VĂN KHÁNG ........................................................................................ 40
3.1. Nhan đề tác phẩm ..................................................................................... 40

lay, xói mòn. Gia đình trước đây là khuôn mẫu, chuẩn mực của xã hội thì nay
có sự biến đổi. Các cá nhân muốn khẳng định cá tính bản thân, chạy theo xã
hội thị trường thời mở cửa đã bắt đầu phá vỡ những khuôn thước, đạo lí của
1


gia đình. Hiện thực xã hội này đã trở thành mảnh đất màu mỡ, nguồn cảm
hứng sáng tác lớn cho các nhà văn. Họ hướng ngòi bút của mình về thực tại,
đi sâu khai thác đời tư thế sự, nổi bật là vấn đề văn hóa gia đình hiện nay. Các
nhà văn đã đi sâu khám phá con người cá nhân với cá tính, phẩm chất, mặt tốt
và cả mặt xấu trong cuộc sống thường nhật. Có rất nhiều cây bút tham gia vào
mảng sáng tác này, từ những nhà văn dày dặn kinh nghiệm như Nguyễn Minh
Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải… cho đến các cây bút thuộc thế hệ sau
như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư…Trong những sáng
tác của đội ngũ nhà văn đông đảo đó, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng được xem là tác phẩm tiêu biểu dự báo cho những vấn đề mới của đời
sống gia đình trong hoàn cảnh xã hội đương đại.
Có thể nói, vấn đề văn hóa gia đình không chỉ là mối quan tâm của
những người làm công tác quản lí xã hội hay giáo dục, của những lớp người
đi trước trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, mà đó còn là mối quan tâm
của cả đất nước, cả dân tộc và của mỗi cá nhân. Khóa luận của chúng tôi
nghiên cứu, đánh giá tác phẩm Mùa lá rụng trong vườn nhằm chỉ ra những
đóng góp của nhà văn Ma Văn Kháng về vấn đề thời sự ấy của đời sống xã hội.
2. Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng là một trong những tác giả văn xuôi lực lưỡng của văn
học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX. Ông là một nhà văn dồi dào năng lực sáng
tác, đặc biệt là ở mảng tiểu thuyết. Năm 1985, cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn ra đời và vào năm 1986 nhận giải thưởng loại B của Hội Nhà văn.
Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn ngay sau khi ra đời, đã thu hút được
sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, giới phê bình. Tính đến nay đã có

chuyện hàng ngày, những chuyện tưởng như tầm thường, tẻ nhạt nhưng thực
ra chứa đựng những nguyên nhân sâu xa, những diễn biến rối rắm phức tạp
mà nếu cặp mắt nhà văn hời hợt, nông cạn thì dễ gì chỉ ra đúng bản chất của
nó”. Trần Cương còn cho rằng: “Ma Văn Kháng có tài trong miêu tả dựng
người, dựng chuyện”.
3


Trong bài“Một mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng
trong vườn”, tác giả Vân Thanh cũng cho rằng: “Có thể xem Mùa lá rụng
trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay; một tiếng
nói về quan hệ cá nhân, gia đình và xã hội; về trách nhiệm của mỗi người đối
với đời sống và cuộc sống dành cho mỗi người”.
Giáo sư Trần Đăng Suyền nhấn mạnh: “Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Ma
Văn Kháng không phải là những trang chính luận sắc sảo, thông minh mà chủ
yếu là những hình tượng nhân vật khá độc đáo, hấp dẫn” và “viết Mùa lá rụng
trong vườn, Ma Văn Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá
con người ở thời kỳ khó khăn, phức tạp hiện nay”.
Tác giả Hoàng Sơn nhận định: “ Thật ra vấn đề gia đình chỉ là cái cớ, vỏ
bọc bên ngoài. Điều nhà văn tìm hiểu cũng là điều muốn nói với bạn đọc là
vấn đề sống của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [tr 4].
Tác giả Kim Vinh nhận xét: “Tác phẩm của anh được đọc nhiều và thảo
luận sôi nổi một phần vì đã đề cập đến vấn đề gia đình… và Ma Văn Kháng
có lẽ cũng là một trong số ít các nhà văn hiện nay quan tâm đặc biệt đến tầng
lớp bình dân, cụ thể là bình dân Hà Nội. Dưới ngòi bút của anh, hình ảnh
người bình dân hiện lên với tất cả sự tốt đẹp và phức tạp trong tính cách,
phẩm chất. Có thể coi Lý là một nhân vật thành công nhất của Ma Văn Kháng
và của cả văn học sau 1975 ở lĩnh vực này” [13, tr 18].
Trong bài Bi kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng (bài đăng Tạp chí Đại học Vinh, số 4b, năm 2006), tác giả

4. Đối tƣơng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng.
- Trong giới hạn của một khóa luận, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu vấn đề Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
của Ma Văn Kháng.

5


5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
-

Phương pháp hệ thống

-

Phương pháp so sánh

-

Phương pháp phân tích - tổng hợp

6. Đóng góp của khóa luận
Tìm hiểu Văn hóa gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của
Ma Văn Kháng, khóa luận sẽ làm rõ hơn vấn đề văn hóa gia đình trong thời
đại mở cửa của nền kinh tế thị trường ngày nay với những thời cơ thuận lợi và
cả những thách thức mới.
Thực hiện đề tài này, người viết sẽ có được những kinh nghiệm nghiên

“chim có tổ, người có tông/ như cây có cội, như sông có nguồn” để chỉ về cội
nguồn gia đình của mỗi con người. Con người sống với nhau dựa vào luân lí,
lễ giáo và tình thương của gia đình. Gia đình chính là điều tự hào nhất khi
mỗi con người kể về bản thân mình và bất kể đi đâu, làm gì cũng luôn nhớ về
gốc rễ, nguồn cội.
Nét đẹp lớn nhất mà ai cũng có thể nhận thấy, bắt nguồn từ thuở cha ông
chảy mãi đến tận ngày nay, đó là mối quan hệ nghĩa tình trong gia đình. Gia
đình - một tổ chức dựa trên quan hệ nghĩa tình. Đây là nét đặc trưng, một nét
đẹp văn hoá mà có lẽ chỉ có ở một dân tộc hình thành từ nền nông nghiệp lúa
nước, lại phải trường kỳ chịu cảnh thiếu thốn khó khăn, phải chống chọi với
ngoại xâm, thiên tai và thú dữ. Gia đình Việt Nam có lối sống với nhau bằng
7


nghĩa, bằng tình nên mới có câu ca dao: “Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng
chan vợ húp gật đầu khen ngon”. Cha ông xưa khắt khe trong quan niệm về
tình yêu, hôn nhân, ấy vậy mà trải qua hàng nghìn năm, với biết bao thế hệ
nối tiếp nhau, những chuẩn mực của gia đình như nề nếp gia phong, mô hình
“tứ đại đồng đường” vẫn được hình thành, nâng niu, gìn giữ. Chẳng phải đó là
xuất phát từ nghĩa tình hay sao? Cũng vì đề cao nghĩa tình trong gia đình mà
cha ông ta coi trọng sự đồng thuận, sự tôn trọng nhau giữa vợ và chồng và coi
đó là cơ sở vững bền để phát triển đời sống: “Thuận vợ, thuận chồng tát biển
Đông cũng cạn”.
Bên cạnh quan niệm về tình nghĩa, về thuỷ chung, gia đình Việt Nam
còn coi trọng chữ “hiếu”. Chữ “hiếu” tạo nên một mối ràng buộc trong quan
hệ cha (mẹ) - con. Con phải hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng, lễ phép và vâng
lời cha mẹ. Cha mẹ phải luôn mẫu mực, hiền từ.
Đối với mỗi người chúng ta, gia đình có vai trò rất quan trọng. Gia đình
là cái nôi hình thành nhân cách. Mỗi người khi sinh ra và lớn lên luôn được
nuôi dưỡng và bao bọc bởi cha mẹ, rộng hơn nữa là ông bà, cô bác, anh chị

1.2. Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam hiện đại
Gia đình có vị trí rất quan trọng trong tâm hồn người Việt. Văn học là tấm
gương phản ánh chân thực mọi mặt của cuộc sống con người. Vì thế, trong văn
học, gia đình cũng là đề tài được rất nhiều tác giả quan tâm khai thác. Do mỗi
giai đoạn có bối cảnh lịch sử khác nhau nên vấn đề gia đình được các tác giả
nhìn nhận và miêu tả ở những góc nhìn và mức độ khác nhau.
Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, văn học bắt đầu phát triển theo hướng hiện
đại hóa. Lúc đầu là những truyện ngắn của các nhà nho tân học, hoặc những
trí thức mới làm quen văn học với các thể loại sáng tác phương Tây. Nguyễn
Bá Học viết truyện ngắn lấy tên là Câu chuyện gia đình đăng trên báo Nam
Phong. Ngoài ra còn những tác phẩm khác như những vở kịch Chén thuốc
độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long. Nhà văn Hồ Biểu Chánh viết
những truyện dài trong đó có tác phẩm Cha con nghĩa nặng- tác phẩm đầu
9


tiên có khuynh hướng thiên về luân lý gia đình. Nhà văn thường muốn duy trì
đạo đức phong hóa cũ, tỏ ý bất bình vì những sự lố lăng đang diễn ra trong
một số gia đình Việt Nam hiện tại bấy giờ: trên dưới hỗn láo, không còn lễ
nghĩa, chuyện đam mê cờ bạc, hút xách, gia đình tha hóa, đảo điên. Các tác
phẩm này đã đề cập đến vấn đề triết lí về gia đình và gợi ra khả năng thức tỉnh
người đọc.
Từ những năm ba mươi của thế kỉ XX, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã
khai thác rất thành công đề tài này. Những tác phẩm hay nhất, có nhiều đóng
góp nhất cho nền văn học nước nhà của Tự lực văn đoàn là những tác phẩm
đấu tranh giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân, cho quyền sống
của người phụ nữ chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến
trong đại gia đình phong kiến. Trong Đoạn tuyệt Khái Hưng đã đề cập đến
vấn đề cũ- mới trong gia đình Việt Nam lúc đó. Cũ là những con người theo lễ
giáo, phong tục hủ hậu thể hiện rõ nhất trong các bà mẹ chồng. Các bà mẹ

là nhà văn phê phán vì vậy ông cũng nhìn gia đình dưới góc độ hiện thực của
người nông dân và trí thức cùng gia đình của họ. Ông miêu tả từ những gia
đình thiếu thốn, đói khổ ở nông thôn như Lão hạc, Trẻ con không được ăn thịt
chó, Nghèo, Một đám cưới…Trong những gia đình này cái đói, cái nghèo đeo
bám làm cuộc sống khó khăn, mỗi con người phải vật lộn, thậm chí bóp méo
nhân cách người cha (Trẻ con không được ăn thịt chó), gia đình biến đổi, lục
đục, vợ chồng bất hòa, gia đình li tán. Bên cạnh đó, Nam Cao cũng rất chú ý
đến tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Họ bị gánh nặng áo cơm “ghì sát đất”. Hộ
trong Đời thừa là một nhà văn nghèo, phải lo cho một gia đình gồm mẹ già,
Từ, đàn con đông đúc. Bao nhiêu thứ phải chăm lo dồn lên vai khiến Hộ không
thể viết được những tác phẩm lớn của cuộc đời, không theo đuổi được ước mơ
hoài bão. Chính điều đó khiến gia đình rạn nứt và nguy cơ tan vỡ.
Kim Lân cũng là nhà văn viết nhiều về đề tài gia đình và tác phẩm nhiều
người nhớ đến nhất có lẽ là Vợ nhặt. Truyện lấy bối cảnh nạn đói lịch sử năm
1945 với những xóm làng xơ xác, “người chết như ngả rạ”. Nhưng chính
11


trong hoàn cảnh cận kề cái chết đấy mà anh cu Tràng nhặt được vợ chỉ với
câu nói đùa và bốn bát bánh đúc. Thị - người vợ nhặt cũng rất liều lĩnh khi
theo người đàn ông vừa quen biết về làm vợ dù không hề biết hoàn cảnh gia
đình ra đình Tràng ra sao. Đúng là trong cái đói người ta không nghĩ đến cái
chết mà nghĩ đến cái sống và tình thương.
Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta phải trải qua 30 năm chiến tranh
giải phóng dân tộc. Lúc này vận mệnh đất nước được đặt lên hàng đầu.
Nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam (trong đó có văn học nghệ thuật)
là phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc, cổ vũ chiến đấu. Các nhà văn
trở thành người chiến sĩ, chuốt nhọn vũ khí văn chương để phục vụ cho cách
mạng. Họ không ngần ngại làm anh “tuyên truyền viên”, hoà mình vào cuộc
sống công – nông - binh, ca ngợi nhân dân, ca ngợi anh bộ đội, ca ngợi những

1980. Tuy nhiên người đọc không còn nhiều cảm hứng cho mảng đề tài này
như trước nữa. Đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần VI, các nhà văn luôn trăn trở
cho sự đổi mới văn học, cảm hứng “sử thi” trong cách mạng được thay bằng
cảm hứng “thế sự”, con người nói về những vấn đề tồn tại trong xã hội. Các
nhà văn không né tránh, ngại ngùng khi khai thác các mặt trái, góc khuất,
phần chìm của hiện thực cuộc sống. Đề tài gia đình có phần bị chìm lấp sau
Cách mạng tháng Tám được khơi nguồn trở lại, tạo thành dòng chảy chính và
thu được những thành tựu đáng kể. Có thể nói chưa bao giờ đề tài gia đình lại
giành được sự quan tâm của đông đảo giới cầm bút như thế. Văn học thời kỳ
này xuất hiện với mật độ dày đặc tác phẩm viết về đề tài gia đình hoặc có liên
quan đến vấn đề gia đình như Mùa lá rụng trong vườn, Côi cút giữa cảnh đời,
Trăng soi sân nhỏ, Anh thợ chữa khoá, Chọn chồng, Anh cả tôi, Nợ đời, Gái
có con, Phép lạ thường ngày, Nhan sắc đàn bà, Cỏ dại... (Ma Văn Kháng),
Thời xa vắng, Hai nhà, Sóng ở đáy sông (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương
Hướng), Tướng về hưu, Không có vua, Tâm hồn mẹ (Nguyễn Huy Thiệp), Gia
đình bé mọn (Dạ Ngân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm
người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường)… Trong đó có nhiều tác phẩm xuất
13


sắc, đạt các giải thưởng cao của Hội Nhà văn và để lại nhiều dư âm trong lòng
độc giả như Mùa lá rụng trong vườn, Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma…Các tác phẩm viết về đề tài gia đình trong văn học
Việt Nam sau 1975 đã đi sâu khai thác các mối quan hệ phức tạp, đa chiều
của gia đình Việt Nam trong thời mở cửa. Nhà văn tập trung phản ánh cuộc
sống cá nhân trong mối quan hệ với gia đình và xã hội. Vấn đề cá tính được
tôn trọng, được đề cao. Nếu như văn học cách mạng 1945 - 1975 thường đặt
lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân thì các sáng tác về
đề tài gia đình sau 1975 lại có xu hướng nghiêng về thể hiện vai trò của văn
học đối với cá nhân - gia đình. Mỗi nhà văn có một cách riêng gắn với phong

đình kiểu “tứ đại đồng đường” (dù không thật điển hình), bởi ở trong gia đình
lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (gia đình Đông - Lý, gia đình Luận Phượng và sau này có thêm vợ con Cừ). Bề ngoài đây là một gia đình mô
phạm mẫu mực, có nề nếp gia phong. Vậy mà cuộc sống khó khăn, đầy biến
động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình “mẫu mực” ấy vào một
bước ngoặt với những dấu hiệu rạn nứt rõ ràng, không dễ khắc phục. Trong
Đám cưới không có giấy giá thú Ma Văn Kháng đã khai thác rất thành công
đề tài gia đình. Tự là một thầy giáo hết lòng yêu nghề nhưng xã hội đổi thay
đã làm Tự cảm thấy lạc lõng, hụt hẫng. Xuyến, vợ anh chạy theo món lợi vật
chất, luôn coi thường và chì chiết chồng. Chị ta ngang nhiên ngoại tình. Cuộc
sống bình yên trước đây không còn nữa. Câu nói “Đời là một vại dưa muối
hỏng” đã ám ảnh trong tâm thức người đọc về một thời kì biến động không
chỉ vật chất mà còn tinh thần của đất nước sau chiến tranh.
Nguyễn Huy Thiệp trong Tướng về hưu đã dựng lên một bức tranh gia
đình mà các quan hệ giữa các thành viên trở nên hời hợt, lỏng lẻo. Ông tướng
Thuấn cả đời phục vụ cho cách mạng, cho lí tưởng của mình nên khi về hưu
ông cảm thấy lạc lõng trong chính gia đình mình khi mà ngay cả vợ cũng hiểu
về mình rất ít. Những đứa con, đứa cháu chẳng được nuôi nấng, chăm sóc, ít
có điều kiện gần gũi nên không biết gì thậm chí không có cả tình cảm với cha,
15


với ông nội “khi lớn lên tôi chẳng biết gì về cha mình cả”. Hay trong truyện
Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp cũng thể hiện xã hội thời hậu chiến trong
gia đình lão Kiền. Gia đình đó là một gia đình không có tôn ti, trật tự, trên
dưới và có rất nhiều loại người trong xã hội. Lão Kiền sống với năm người
con trai nhưng người đọc khó có thể nhận ra ai là chủ gia đình đó. Trong một
gia đình có rất nhiều loại người trong xã hội: Một thợ cắt tóc, một công chức
ngành giáo dục, một nhân viên lò mổ, một sinh viên đại học và một đứa con
út bị bệnh thần kinh…thì ai là người kiếm ra nhiều tiền nhất thì người ấy sẽ là
chủ gia đình. Đúng là trong xã hội thời mở cửa, đồng tiền chi phối tất cả, giá

Ủy viên ban chấp hành, Ủy viên Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam khóa V,
Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài.
Đinh Trọng Toàn khi mới ngoài hai mươi tuổi với lí tưởng thời đại và
lòng say mê văn học đã hăm hở đi lên vùng đất mới lạ và cũng rất vất vả, khó
khăn - Lào Cai. Tại đây ông đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình và bạn bè
để xây dựng, thay đổi vùng đất còn nghèo nàn, lạc hậu này. Cũng chính nơi đây
đã để lại cho ông nhiều kỉ niệm in sâu vào trong từng tác phẩm. Từ khi chuyển
về Hà Nội công tác, Ma Văn Kháng vẫn cống hiến hết sức lực cho văn học qua
rất nhiều tác phẩm. Xã hội đô thành với rất nhiều bộn bề, bon chen và phức tạp
trở thành nguồn cảm hứng của ông giai đoạn này. Ông đã quan sát cuộc sống
rất kĩ, từ dưới lên, từ trên xuống, từ ngoài vào, từ trong ra, tất cả đều được phản
ánh, nhào nặn qua ngòi bút của ông để tạo thành rất nhiều tác phẩm có giá trị.
Cuộc đời Ma Văn Kháng là những chuyến đi, là sự trải nghiệm qua rất
nhiều khó khăn và thăng trầm của lịch sử. Ông cống hiến hết mình, làm việc
hết mình, không biết mệt mỏi để chi chút chắt lọc từng mẩu nhỏ cuộc đời, tạo
nên những nhân vật độc đáo, giàu cá tính. Có thể nói, nhà văn Ma Văn Kháng
đã toàn tâm, toàn lực để tạo ra những dòng văn giàu cảm xúc cho những trang
tiểu thuyết của mình.

17


1.3.2. Sự nghiệp văn học
Sáng tác của Ma Văn Kháng tập trung vào hai đề tài chính là cuộc sống
của đồng bào miền núi phía Bắc và cuộc sống thành thị đầy phức tạp trong
cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nước sau chiến thắng năm 1975. Các tác
phẩm chính của ông bao gồm:
Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết - 1979)
Vùng biên ải (tiểu thuyết - 1983)
Trăng non (tiểu thuyết - 1984)

Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng Hồ Chí Minh về
Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, Mưa
mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn.
Ông đã từng bộc bạch “Thôi thúc tôi viết là cái đẹp thật xúc động, thật
cao cả, thật khiêm nhường và lớn lao trong những hoàn cảnh đau buốc nhất.
Tôi gửi gắm niềm tin yêu của tôi vào tất cả những cay đắng, xót xa của thân
phận. Bằng cách đó tôi biểu lộ tình yêu với cái đẹp của cuộc sống” đó cũng
chính là quan niệm sáng tác của tác giả. Ma Văn kháng là nhà văn lão làng
của văn học Việt Nam hiện đại, đã cống hiến cho nền văn học một khối lượng
tác phẩm khá lớn, góp phần quan trọng vào dòng chảy văn chương nước nhà
cả về nội dung và nghệ thuật, làm cho văn học trở nên phong phú và đa dạng.
1.3.3. Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn
Mùa lá rụng trong vườn là một tiểu thuyết đặc sắc Ma Văn Kháng, hoàn
thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vào năm 1985. Lấy
bối cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi đất
nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh, gây ra
nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biến động
trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình - tế
bào của xã hội.
Chuyện xoay quanh đời sống gia đình ông Bằng - một gia đình có truyền
thống, nề nếp ở Hà Nội, gồm ba thế hệ chung sống với nhau thời hậu chiến, cơ
19


Trích đoạn Tạo dựng cốt truyện Ngôn ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status