khảo sát bệnh tích đại thể trên vịt được giết mổ tại lò mổ gia cầm tp. cao lãnh tỉnh đồng tháp - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
---***---

LÊ NGỰ BÌNH

KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN VỊT
ĐƯỢC GIẾT MỔ TẠI LÒ MỔ GIA CẦM
TP. CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y

CẦN THƠ, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y

---***---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGÀNH THÚ Y

ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ TRÊN VỊT
ĐƯỢC GIẾT MỔ TẠI LÒ MỔ GIA CẦM
TP. CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận văn nào trước đây.

Tác giả luận văn

LÊ NGỰ BÌNH


LỜI CẢM ƠN!

Con xin cảm ơn cha mẹ và gia đình đã bỏ bao khó nhọc và công sức để
nuôi dạy con thành người!
Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Hoàng Sĩ, thầy Trần Ngọc
Bích, thầy Nguyễn Phúc Khánh đã hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức
quí báo giúp em hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe đến tất cả quí thầy cô thuộc Bộ
môn Thú y – Khoa Nông Nghiệp & SHƯD đã giúp đỡ và truyền đạt những
kiến thức quí báo trong thời gian chúng em theo học ở trường. Đồng thời đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Trạm Thú y TP. Cao Lãnh, Chi cục Thú y tỉnh
Đồng Tháp, cùng những cán bộ thú y đã tạo điều kiện, hướng dẫn tận tình cho
em trong thời gian qua. Chúc các cô chú, các anh chị công tác tốt.
Xin chân thành cám ơn tập thể lớp thú y liên thông khóa 37 đã cùng
đồng hành với tôi trong suốt thời gian làm luận văn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!


2.2.3.2 Khám phủ tạng .............................................................................................. 7
2.2.3.3 Xử lý trong trường hợp nghi ngờ ................................................................... 7
2.2.3.4 Đóng dấu kiểm soát giết mổ, dán tem vệ sinh thú y ...................................... 8
2.3 Cấu tạo vị trí chức năng của các hệ trong cơ thể vịt ............................................. 8
2.3.1 Hệ tiêu hóa ....................................................................................................... 8
2.3.2 Hệ hô hấp.. ....................................................................................................... 9
2.3.3 Hệ tiết niệu ....................................................................................................... 9


2.3.4 Hệ sinh dục ...................................................................................................... 10
2.3.5 Hệ tuần hoàn .................................................................................................... 10
2.4 Một số bệnh tích thường gặp khi mổ khám .......................................................... 10
2.4.1 Xuất huyết ........................................................................................................ 10
2.4.2 Sung huyết ........................................................................................................ 11
2.4.3 Viêm................................................................................................................. 11
2.4.3.1Viêm biến chất................................................................................................ 12
2.4.3.2 Viêm rỉ .......................................................................................................... 12
2.4.3.3 Viêm tăng sinh............................................................................................... 13
2.4.4 Hoại tử ............................................................................................................. 13
2.5 Các bệnh thường gặp trên vịt .............................................................................. 14
2.5.1 Bệnh E.coli ở vịt ............................................................................................... 14
2.5.2 Bệnh tụ huyết trùng vịt ..................................................................................... 15
2.5.3 Bệnh thương hàn vịt ........................................................................................ 16
2.5.4 Bệnh dịch tả vịt................................................................................................. 17
2.5.5 Bệnh viêm gan ở vịt do virus ............................................................................ 19
2.5.6 Bệnh sán dây ở vịt ............................................................................................ 21
2.5.7 Bệnh nhiễm trùng huyết vịt ............................................................................. 23
2.6 Sơ lược điều kiện tự nhiên của Thành phố Cao lãnh ............................................ 24
2.7 Sơ lược về tình hình chăn nuôi gia cầm, công tác kiểm soát dịch bệnh và
hoạt động thú y ở Thành phố Cao Lãnh. .................................................................... 25


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT TẮT

NGUYÊN CHỮ

TPCL

:

Thành Phố Cao Lãnh

Ctv

:

Cộng tác viên

E.coli

:

Escherichia coli


DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng
Trang

TÓM LƯỢC

Đề tài “Khảo sát bệnh tích đại thể trên vịt được giết mổ tại lò mổ gia cầm
TP. Cao Lãnh, Chi cục Thú y tỉnh Đồng Tháp” được tiến hành từ tháng 08
năm 2013 đến tháng 09 năm 2013.
Bằng phương pháp mổ khám, chúng tôi tiến hành mổ khảo sát trên 500
con vịt ở lò mổ gia cầm Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Kết quả, tỷ lệ
bệnh tích xuất hiện ở lò mổ gia cầm Thành phố Cao Lãnh là 38,6%.
Trong số 500 con vịt khảo sát có 193 con vịt có bệnh tích. Trong đó 89
con có bệnh tích 1 cơ quan chiếm tỷ lệ 46,1%; 77 con có bệnh tích 2 cơ quan
chiếm tỷ lệ 39,9%; 22 con có bệnh tích 3 cơ quan chiếm tỷ lệ 11,4%; và 5 con
có bệnh tích 4 cơ quan chiếm tỷ lệ 2,6%. Kết quả cho thấy, vịt có bệnh tích
trên 2 cơ quan là cao nhất, tỷ lệ 39,9%.
Tỷ lệ xuất hiện bệnh tích trên vịt ở hai hệ tiêu hóa và hô hấp chiếm khá
cao, với tỷ lệ bệnh tích trên hệ tiêu hóa là 54,2% và tỷ lệ bệnh trên hệ hô hấp
là 29,7%. Trong khi đó tỷ lệ bệnh tích trên hệ tuần hoàn và niệu, sinh dục
chiếm tỷ lệ thấp với hệ tuần hoàn là 11,9% và hệ niệu, sinh dục là 4,2%.
Đối với bệnh tích ở hệ tiêu hóa, tỷ lệ bệnh tích trên gan là cao nhất,
chiếm tỷ lệ 55,3%, kế đến là bệnh tích trên ruột chiếm tỷ lệ 23,9%; bệnh tích
trên lách chiếm tỷ lệ 17%, thấp nhất là bệnh tích trên tụy với tỷ lệ bệnh tích là
3,8%.
Bệnh tích xuất huyết xảy ra trên tất cả các bộ phận của hệ tiêu hóa và
chiếm một tỷ lệ rất cao. Ở gan là 115 trường hợp, chiếm tỷ lệ 29,2%; ở ruột là
61 trường hợp, chiếm tỷ lệ 15,5%; lách là 21 trường hợp, chiếm tỷ lệ 5,3%, và
tụy với số trường hợp là 15, chiếm tỷ lệ 3,8%.


CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay ở nước ta nói chung
và ngành chăn nuôi thủy cầm nói riêng, là một nghề truyền thống đã có từ lâu

sàng những bệnh có thể xảy ra trên vịt.


CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.1.1 Nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình (2003) về bệnh E.coli trên vịt
không có biểu hiện lâm sàng (thể ẩn), bệnh tích có thể quan sát được là :
Màng bao tim bị viêm trắng, đôi khi viêm dính vào cơ tim, trên cơ tim có
điểm xuất huyết lấm tấm. Gan sưng đen, có trường hợp cũng thấy xuất huyết
chấm đỏ.
Lách sưng có đốm trắng hoặc đỏ. Màng bụng viêm, có sợi fibrin dính vào
xoang bụng và ruột. Màng túi khí viêm trắng và có chất nhầy vàng. Ống dẫn
trứng viêm có dịch nhầy trắng.
Năm (2003) Nguyễn Đức Lưu và Hoàng Văn Tiêu đã mổ khám và phát
hiện những bệnh tích điển hình của bệnh tụ huyết trùng vịt như: các cơ quan
nội tạng, phổi, lách viêm tụ máu. Gan sưng, vàng, hoặc chấm đỏ (do hoại tử
đặc biệt của tụ huyết trùng)
Năm (2012), Hồ Thị Việt Thu và ctv đã mổ khám và phát hiện những
bệnh tích điển hình khi vịt bị bệnh dịch tả như : Bệnh tích đặc trưng là những
tổn thương nặng ở đường tiêu hóa, niêm mạc hầu họng xuất huyết, đôi khi có
loét hoặc phủ màng giả, niêm mạc thực quản xuất huyết, dạ dày cơ xuất huyết
nặng, niêm mạc ruột tụ máu, xuất huyết thành từng vệt. Trong ruột có thể có
máu, bệnh nặng có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục ở tá tràng.
Niêm mạc hậu môn, trực tràng xuất huyết có nốt loét.
Năm (2012) Hồ Thị Việt Thu và ctv cho rằng, bệnh dịch tả vịt là bệnh truyền
nhiễm do virus, bệnh có đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết và viêm đường
tiêu hóa, lây lan mạnh, tỷ lệ chết cao.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Bình (2003), bệnh thương hàn vịt
hay còn gọi là “bệnh Salmonella ở vịt”. Vi khuẩn này thường gây bệnh cấp

Thul et al. (1980), nghiên cứu về kí sinh trùng đường máu, qua kiểm tra mổ
khám trên 213 vịt từ 24 địa phương trong 12 tiểu bang theo trục Đại Tây
Dương từ năm 1976 đến năm 1977 cho thấy có 44% vịt có bệnh tích đại thể do
kí sinh trùng đường máu gây ra.


O’ Dell et al. (1994), nghiên cứu kí sinh trùng đường máu, đã tiến hành mổ
khám kiểm tra 371 con vịt tại hai vùng ở Missouri (Mỹ) năm 1989 và 1990 đã
phát hiện có 39,5% vịt có bệnh tích đại thể do kí sinh trùng đường máu gây ra.
Dey et al. (2008), đã mổ khám và kiểm tra đàn vịt ở huyện Mymensingh
(Bang ladesh), để kiểm tra bệnh tích đại thể do kí sinh trùng đường máu gây
ra, qua kết quả mổ khám có 60% vịt bị nhiễm kí sinh trùng đường máu.
2.2 Quy trình kiểm soát giết mổ gia cầm
Theo hệ thống văn bản kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật của Cơ quan
Thú y vùng VII năm 2011.
2.2.1 Kiểm tra việc thực hiện các quy định vệ sinh thú y đối với người giết
mổ và cơ sở giết mổ.
- Kiểm tra việc thực hiện quy định về vệ sinh thú y đối với người tham gia giết
mổ như vệ sinh cá nhân, mặc trang phục bảo hộ trong lúc làm việc và các quy
định.
- Kiểm tra việc thực hiện quy trình giết mổ, việc vệ sinh, khử trùng tiêu độc
trang thiết bị, dụng cụ giết mổ trước và sau giết mổ.
- Kiểm tra việc thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc nhà xưởng, trang thiết bị,
dụng cụ ở cơ sở giết mổ trước, sau khi giết mổ và định kì theo hướng dẫn của
cơ quan thú y.
2.2.2 Khám trước khi giết mổ
2.2.2.1 Giết mổ gia cầm với số lượng nhỏ
- Kiểm tra giấy chứng nhận kiểm dịch gia cầm vận chuyển đến cơ sở giết mổ
- Kiểm tra tình trạng sức khỏe đàn gia cầm từng ô chuồng. Chú ý quan sát
phân và các triệu chứng lâm sàng để phát hiện bệnh truyền nhiễm

thịt con nào phải để liền phủ tạng con đó, bác sĩ, kĩ thuật viên kiểm dịch động
vật kiểm tra theo trình tự:
2.2.3.1 Khám thân thịt
- Quan sát bề mặt, màu sắc, hình dạng và độ đồng nhất của da, kiểm tra mùi vị
của các mô.


- Kiểm tra độ sạch của thân thịt: chất chứa đường tiêu hóa và các tạp chất
khác.
- Kiểm tra các xoang để phát hiện dấu hiệu bệnh lý như viêm túi khí, viêm
phúc mạc.
2.2.3.2 Khám phủ tạng
- Khám khí quản và thực quản: quan sát hình thái, màu sắc để phát hiện các
dấu hiệu bệnh tích như xuất huyết hay có dịch nhày.
- Khám phổi: quan sát màu sắc để phát hiện các dấu hiệu bệnh lý như xuất
huyết, viêm phổi, hạt lao
- Khám tim: quan sát hình thái, màu sắc của màng bao tim, mỡ vành tim, cơ
tim để phát hiện các dấu hiệu bệnh lý như xung huyết, xuất huyết, hoại tử
- Khám gan: quan sát hình thái, màu sắc của gan để phát hiện các dấu hiệu
bệnh lý như sưng, xuất huyết, hoại tử
- Khám thận: quan sát hình thái, thể tích, màu sắc của thận để phát hiện các
dấu hiệu bệnh lý
- Khám lách: quan sát hình thái, màu sắc để phát hiện các dấu hiệu bệnh lý
như xung huyết, xuất huyết
- Khám diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột: cắt dọc diều, dạ dày tuyến, dạ dày
cơ và gạt nhẹ các chất nhày để phát hiện các dấu hiệu bệnh lý như xuất huyết ,
loét, hoại tử, khi kiểm tra ruột quan sát để phát hiện các nốt xuất huyết, loét,
hoại tử hay ký sinh trùng.
- Khám buồng trứng: quan sát hình thái, màu sắc và những biến đổi bệnh lý
như vỡ buồng trứng, xung huyết, xuất huyết, hoại tử.

đi qua nó được tẩm dịch rồi đi lượn xuống dạ dày cơ. Niêm mạc có nhiều
tuyến có lổ, tiết dịch, thức ăn không dừng lại ở dạ dày tuyến.
Dạ dày cơ: tiếp nối với dạ dày tuyến bởi một eo hẹp, nằm ở giữa vùng
bụng. Dạ dày cơ có hình lăng trụ, 2 mặt lồi. Dạ dày cơ là nơi nghiền thức ăn
nhờ cấu tạo bởi lớp cơ dầy và mặt trong có lớp niêm mạc hóa sừng. Ngoài ra,
còn có sự hổ trợ của một số ít sạn thường xuyên có trong dạ dày cơ.


- Ruột: bắt đầu một quai gấp ứng với tá tràng, hai nhánh của quai đi song song
với nhau và giữa là tuyến tụy dài. Sau cái quai ấy ruột gấp lại thành hồi tràng
và treo vào vùng dưới hông. Các hồi tràng ấy hợp lai thành một khối chiếm
khoảng giữa hai bao khí bụng. Gần chổ tận cùng, ruột phát ra hai manh tràng
dài độ 15- 20 cm hướng về trước rốn theo các khúc ruột. Trực tràng là một
đoạn ngắn, từ lổ của hai manh tràng đến ổ nhớp. Ổ nhớp là hốc chung cho cả
đại tiểu tiện, trong đó có dương vật và túi Fabricius.
- Gan: chia làm hai thùy chính, một trái, một phải. Thùy phải to hơn cả hai ôm
lấy dạ dày cơ và dạ dày tuyến.
- Tụy tạng: dài hẹp có hai ống tiết
- Lách: hình một hạt nhỏ, màu đỏ ở phía dạ dày chổ giáp với dạ dày cơ và dạ
dày tuyến (Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2007).
2.3.2 Hệ hô hấp
- Hốc mũi là một khe dài, hẹp nằm ở giữa hàm trên, trong hốc có nhiều gai
sừng. Hốc mũi thông với xoang miệng qua một khe hẹp.
- Thanh quản không có sụn tiểu thiệt. Lúc nuốt khe thanh quản được bảo vệ
bởi màng nhày có tiêm mao.
- Khí quản khá dài gồm nhiều vòng sụn trọn vẹn xếp nối tiếp nhau. Phần cuối
cùng của khí quản có thanh quản thứ 2 gọi là minh quản. Ở vịt trống có một
mấu lồi đặc biệt, to bằng hạt dẻ, có tác dụng tăng âm.
- Phế quản từ phần cuối của khí quản chia thành 2 phế quản đi vào 2 lá phổi.
- Phổi tương đối nhỏ so với cơ thể, phổi có màu hồng nhạt, nằm chen vào các

quản thoát ra ngoài. Căn cứ vào nơi máu đổ ra, mà người ta phân ra:
Chảy máu ngoài: khi máu chảy ra ngoài cơ thể.
Chảy máu trong: khi máu chảy vào các mô hay chứa trong các xoang cơ thể.
Khi máu chảy vào mô bào, tùy mức độ nặng nhẹ và trạng thái thể hiện bề mặt
da, niêm mạc hay cơ quan mà có các loại sau:
- Xuất huyết điểm: là vùng chảy máu nhỏ gọn, lấm tấm như nốt muỗi đốt
trong tổ chức hay dưới da, dưới niêm mạc.
- Ban xuất huyết: là các điểm chảy máu tập trung thành đám hoặc màng nhỏ,
nông dưới da
- Bầm huyết: là những đám chảy máu dưới da dưới niêm mạc hay màng bọc
cơ quan, lan sâu vào tổ chức không có giới hạn và không lồi lên mặt cơ quan.


- Bọc huyết: là khi máu chảy ra tụ lại và tạo thành bọc, ổ gọn, có ranh giới rõ
với mô xung quanh có khi lồi lên mặt da hoặc niêm mạc như một bọng nước
2.4.2 Sung huyết
Sung huyết là sự tăng lượng máu ở bất cứ phần nào của hệ tuần hoàn. Có
2 loại sung huyết: sung huyết động mạch và sung huyết tĩnh mạch.
- Sung huyết động mạch là sự tăng lượng máu ở bên phần động mạch của hệ
thống huyết quản, thường do viêm gây nên ở trong mô và các cơ quan. Tất cả
các sung huyết động mạch đều ở dạng cấp tính, là cách để có thể cung cấp
thêm các chất dinh dưỡng và dưỡng khí cho mô bào khi cần có độ biến dưỡng
cao. Sự cung cấp thêm dưỡng khí và các chất dinh dưỡng rồi lấy đi các chất
cặn bã đều có lợi ích cho cơ thể.
- Sung huyết tĩnh mạch là sự tăng lượng máu trong phần tĩnh mạch gây ra bởi
sự cản trở lưu thông huyết từ một cơ quan hay một vùng. Đôi khi người ta
dùng thuật ngữ ứ huyết để chỉ sung huyết tĩnh mạch. Sung huyết tĩnh mạch có
thể xảy ra cấp tính hay mãn tính, ở toàn thân hay cục bộ (Đỗ Trung Giã,
2011).
2.4.3 Viêm

Là loại viêm trong đó thành phần dịch rỉ viêm chứa nhiều protein huyết
tương, chủ yếu là tiền tơ huyết. Chất này khi đông lại thành tơ huyết phủ lên
bề mặt các cơ quan hoặc tích tụ lại trong các xoang của cơ thể.
+ Viêm mủ:
Là quá trình viêm mà trong đó mủ là thành phần chính của dịch rỉ viêm.
Tùy vị trí xảy ra và tính chất của ổ mủ mà viêm mủ có nhiều cách gọi khác
nhau.
Viêm mủ cata: xẩy ra ở niêm mạc đường hô hấp, đường niệu sinh dục.
Viêm tấy mủ là quá trình viêm mủ xẩy ra trong mô liên kết thưa, điển hình
nhất là mô liên kết dưới da hay trong các kẽ cơ. Đặc điểm của loại viêm này là
mủ lan đi rất nhanh rộng, không có ranh giới rõ rệt với tổ chức xung quanh.
Đó là do tác dụng của một số vi khuẩn gây viêm mủ như Streptococcus gây ra.
Viêm mủ bọc là quá trình viêm mủ tạo thành túi nằm sâu trong các cơ quan
đặc chắc như gan…, còn gọi là túi mủ.


+ Viêm xuất huyết:
Trong quá trình viêm khi thành mạch bị tổn thương nặng, tính thấm tăng
lên, hồng cầu thoát mạch nhiều đi vào ổ viêm gây ra quá trình viêm xuất
huyết.
+ Viêm cata:
Là quá trình viêm xảy ra ở niêm mạc. Thành phần chính của dịch rỉ viêm
là chất nhày được sinh ra từ các tế bào biểu mô nằm trong các tuyến nhờn dưới
niêm mạc hoặc từ các tế bào, ngoài ra còn có các bạch cầu, mảnh vỡ tế bào,
mảnh vụn tơ huyết và có khi cả hồng cầu.
Do thành phần dịch rỉ khác nhau mà viêm cata có mấy loại sau:
Viêm cata thanh dịch: chất rỉ viêm loãng, thành phần chủ yếu là nước, niêm
dịch và ít bạch cầu.
Viêm cata nhày: chất rỉ viêm đặc và dính do chứa nhiều niêm dịch
Viêm cata mủ: chất rỉ viêm đặc, đục, màu vàng xám hoặc xanh lục nhạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status