Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tân Kỳ - Pdf 31

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU

Có thể nói ngân hàng đã được hình thành và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử bởi
từ khi các quốc gia bắt đầu xuất hiện những hình thức kinh doanh thương mại đầu
tiên thì cũng là lúc con người nhận ra sự cần thiết của các tổ chức tài chính. Các ngân
hàng được tạo ra với mục đích cung cấp nguồn vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế,
thời đại hiện nay thì nguồn vốn là yếu tố hàng đầu quyết định đến sự tăng trưởng
kinh tế của mỗi quốc gia.
Việt Nam trải qua gần 20 năm đổi mới từ một đất nước nông nghiệp lạc hậu
đã từng bước vươn lên khẳng định mình đối với thế giới nói chung và trong khu vực
Đông Nam Á nói riêng, chiếm lĩnh một số thị trường lớn và góp phần nâng cao vị thế
của mình trên trường quốc tế. Việt Nam đang ngày càng mở rộng cánh cửa để đón
nhận những doanh nghiệp nước ngoài vào đầu từ. Vì vậy mà hệ thống pháp luật của
chúng ta được hoàn thiện hơn và các thành phần kinh tế được pháp luật bảo vệ và
hoạt động một cách bình đẳng hơn.Hiện nay với cơ chế mở cửa, các thành phần kinh
tế hoạt động một cách bình đẳng theo pháp luật. Điều này thúc đẩy việc ra đời của
các doanh nghiệp ngày một nhiều và đa dạng hơn. Và như vậy nếu doanh nghiệp nào
chịu khó tìm tòi sáng tạo , có chiến lược trong việc đổi mới công nghệ và học hỏi quy
trình công nghệ từ các nước phát triển thì sẽ có lợi thế lớn trong việc cạnh tranh giành
thị phần trong lĩnh vực của mình.
Như một quy luật tất yếu muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải đổi
mới công nghệ và đôi khi thay đổi cả phương thức sản xuất để là người đi đầu trong
ngành nghề của mình hay đơn giản chỉ là để có thể theo kịp đối thủ cạnh tranh. Để có
thể thực hiện được việc này thì doanh nghiệp phải cần đến một lượng vốn rất lớn để
có thể nhập những loại máy móc tiên tiến, đào tạo những cán bộ kỹ thuật cao cấp để
xử lý những máy móc đó. Mà trong khi vốn tự có của các DNVVN lại rất hạn chế, vì
lý do đó họ sẽ phải tìm đến các ngân hàng để giải quyết vấn đề về vốn.
Từ thực tế của nền kinh tế Việt Nam với hơn 95% các doanh nghiệp là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, do có vốn tự có ít nên nhu cầu về vốn là rất cấp thiết,
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C

SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
2
Chuyên đề tốt nghiệp
em trong quá trình thực hiện đề tài. Em cũng xin gửi lời cám ơn đến ban lãnh đạo,
các cán bộ làm công tác tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Tân Kỳ
đã cung cấp số liệu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Chương I : Lý thuyết chung về chất lượng tín dụng
khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế
có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực
nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận. Thông thường cần có 3 điều kiện
sau để được công nhận là một doanh nghiệp :
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ (Doanh nghiệp được Nhà nước thành lập, công nhận
hay cho phép hoạt động ).
- Có vốn pháp định dể kinh doanh.
- Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi
hoạt động kinh doanh của mình.
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú, có
thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia
thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp.
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập,đầu tư vốn và
quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
3
Chuyên đề tốt nghiệp
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp. Chức năng
chủ yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút và chuyển giao vốn từ
nới thừa vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế. Đối với các doanh nghiệp phi
tài chính, chức năng chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ phi tài
chính đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế. Qua tiêu thức phân loại này Nhà
nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình
doanh nghiệp trong từng ngành nghề,
Thứ tư: dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các loại doanh
nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ là tuỳ thuộc vào điều kiện
kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai
đoạn phát triển kinh tế. Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNVVN đã được quy định tạm
thời tại công văn số 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Theo
quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNVVN là vốn và số lao động. Cụ thể là
DNVVN là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình
hàng năm dưới 200 người.
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNVVN, ngày 23/11/2001
Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ - CP. Trong đó quy định DNVVN là cơ sở
sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương trong quá
trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt đồng
thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên.
Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNVVNM ở một số quốc gia
Tên nước Số lao động
Tổng số vốn hoặc
giá trị tài sản
Nhật dưới 50 trong bán lẻ
dưới 100 trong bán buôn
dưới 10 triệu yên

cho phép một doanh nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh một cách có
hiệu quả. Mà với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN là vệ tinh cảu
doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp. Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
6
Chuyên đề tốt nghiệp
ngày càng không thể tan biến trong các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để
mở rộng lại ngày càng tăng.
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển đang tiến tới một nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN thì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng. Thể hiện cụ thể trên các
mặt sau :
- DNVVN chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đóng góp
phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước. Theo số liệu thống kê của các nhà kinh tế,
hiện nay DNVVN của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo công ăn
việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội. Như vậy, phát triển DNVVN là chủ
trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường lối phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc làm,
tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình hình kinh tế xã hội.
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấp dịch
vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công vệ tinh cho các
doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hàng hoá cho các doanh
nghiệp lớn. Hiện DNVVN chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp hàng năm,
78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách
và hàng hoá.
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong phú
và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất
khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu. Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế được
các của hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sản xuất được những
sản phẩm đơn chiếc.Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường các
DNVVN sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản

83,2
4
Tham gia đào tạo đội ngũ các nhà kinh doanh Việt Nam
63,2
(Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN ở Việt Nam)
1.1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế. ở nước ta,
DNVVN chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 65,9%
trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữu hạn;
99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanh
nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các DNVVN.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước nững thay đổi của
thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh
vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh. Các DNVVN dễ phát huy bản chất hợp tác, có
thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả. Các
quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và tránh
phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý DN.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, ít
xảy ra rủi ro nên tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần
kinh tế.
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, DNVVN cũng còn những
đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như, nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và tập
trung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh còn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực.
1.2 Khái quát chung về NHTM
1.2.1 Khái niệm.

chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết
nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân
hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay,
trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay. Thực hiện được điều này
NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với
số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh
doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM vừa là người đi vay vừa là
người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì họat động của
mình.
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu,
trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển
giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công
ty…
1.1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
10
Chuyên đề tốt nghiệp
tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ
được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh
chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương
mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí
lưu thông, vận chuyển, bảo quản…).
Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông và độc
quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán..) đã tiết kiệm
cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc
đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được
thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống ngân hàng
thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua
việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện các

quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khác….ngoài ra còn
có các quỹ không hình thành từ lợi nhuận ngân hàng như quỹ khấu hao cơ bản tài srn
cố định, quỹ khấu hao sữa chữa lớn, các quỹ khác theo quy định của pháp luật tài
chính.
Nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của
ngân hàng nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở để tiến hành kinh doanh,
tiến hành thu hút những nguồn vốn khác.
*Vốn tiền gửi của khách hàng: lịch sử phát triển ngành ngân hàng cho thấy để bảo
quản số tiền vàng, người ta đã thuê ngân hàng giữ hộ và đòi hỏi hoàn trả đúng số tiền
đã gửi nên ngân hàng không thể dùng chúng để cho vay. Về sau, người ta chỉ yêu cầu
phải hoàn trả đủ số lượng với thời hạn lâu hơn nên ngân hàng có thể sử dụng vốn tiền
gửi của khách hàng để cho vay kiếm lời, còn người gửi tiền không những không phải
trả tiền thua giữ tiền mà còn được hưởng lãi suất trên số tiền đó.
Trong tổng nguồn vốn hoạt động, vốn tiền gửi là vốn chủ yếu của ngân hàng, nó
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Để bảo đảm một khoảng cách an toàn trong hoạt động của ngân hàng, trong mối
tương quan giữa vốn tự có và vốn huy động, nếu chênh lệch đó càng lớn thì hệ số an
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
12
Chuyên đề tốt nghiệp
toàn của ngân hàng càng thấp. Vì vậy, để đảm bảo mức độ an toàn tối thiếu, cần có
quy định giới hạn giữa vốn tự có và vốn huy động.
*Nguồn vốn đi vay: có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương
mại. thuộc loại này bao gồm:
-Vốn huy động từ việc phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của
ngân hàng nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của ngân hàng khi vốn tự có và vốn
tiền gửi chưa đủ đáp ứng yêu cầu kinh doanh.
-Vốn vay của ngân hàng trung ương: khi ngân hàng trung ương nhận cho vay chiết
khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại.
-Vốn vay của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác thông qua thị

kỳ nhất định. Việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bặt buộc do chính phủ quy định.
+Phần còn lại dùng để giao hoán séc và thanh toán nợ với các tổ chức tín dụng và
ngân hàng thương mại khác.Tiền gửi của ngân hàng thương mại phải mở tài khoản
tại ngân hàng trung ương biến động hàng ngày vì mỗi ngày ngân hàng thương mại
đều có nộp hay rút tiền mặt, đổi séc tại phòng giao hoán.
-Tiền gửi của ngân hàng thương mại tại các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền khác địa phương của khách
hàng, số này cao hay thấp tùy theo mức độ quan hệ với đại lý và số lượng đại lý.
-Tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá trị, những chứng phiếu này có thể bán ra bất
cứ lúc nào trên thị trường chứng khoán. Hoạt động này vừa tạo ra sự an toàn vừa
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại.
*Nghiệp vụ tín dụng: của ngân hàng thương mại sử dụng phần lớn nguồn vốn hoạt
động của ngân hàng. Nghiệp vụ tín dụng gồm có:
-Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác: đây là ngiệp vụ cho vay gián
tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và chủ thể khác thực
hiện việc trả nợ cho ngân hàng, là việc ngân hàng mua thương phiếu của khách hàng,
đây phải là những thương phiếu còn trong thời hạn hiệu lực, người sở hữu những
thương phiếu đó khi bán cho ngân hàng sẽ nhận một số tiền bằng mệnh giá của
thương phiếu trừ cho lợi tức chiết khấu do ngân hàng quy định.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
14
Chuyên đề tốt nghiệp
-Nghiệp vụ tín dụng thế chấp: đây là một hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài sản
của khách hàng. Tài sản này có thể là nhà cửa, công trình xây dựng, tàu biển, cây lâu
năm…và phải thuộc quyền sở hữu của người vay, có thể bán nhanh chóng. Khi cho
vay, ngân hàng cho vay theo tỷ lệ trên trị giá thực thế chấp có xác nhận củ công
chứng. Khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng để nhận lại
các giấy tờ trên, nếu không trả được nợ ngân hàng được quyền yêu cầu tòa án cho
lệnh phát mãi tài sản để thu nợ.
-Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: đây là một thể thức cấp tín dụng mà

thành lập công ty, xí nghiệp mới.
Tất cả mọi hành động đầu tư vào chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu
nhập. Nhưng mặt khác nhờ hoạt động mà các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng
được phân tán. Ngoài ra nếu đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất
thấp. Vì vậy các ngân hàng thương mại có xu hướng sử dụng nguồn vốn ngày càng
tăng cho việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Theo quy định của ngân hàng thương
mại chỉ được phép dùng nguồn vốn tự có để thực hiện nghiệp vụ đầu tư.
*Tài sản có khác: những khoản mục còn lại của tài sản có, trong đó chủ yếu là tài sản
lưu động-cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động ngân hàng.
-Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng.
-Mua sắm trang thiết bị, máy móc dụng cụ làm việc.
-Mua sắm các phương tiện vận chuyển.
-Xây dựng hệ thống kho quỹ.
Ngoài tài sản lưu động, còn có các khoản thuộc tài sản có như các khoản phải thu,
các khoản khác…
1.2.3.3.Nghiệp vụ trung gian-nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ tợ đáng kể cho
nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập
cho ngân hàng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí…có vị trí xứng đáng trong giai đoạn
phát triển hiện nay của ngân hàng.
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách
hàng được hưởng tiền hoa hồng như:
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
16
Chuyên đề tốt nghiệp
-Chuyển tiền cho khách hàng sang địa phương khác để họ sử dụng theo yêu cầu hoặc
trả cho một người nào đó.
-Thu hộ: ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu hộ các khoản kỳ phiếu đến
hạn, chứng khoán, hàng hóa…
-Ủy thác: là nghiệp vụ mà ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng như quản lý

kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đã thực hiện chức năng
phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã hội. Cơ sở khách quan để
hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng là do đặc điểm
tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thường xuyên xuất hiện hiện
tượng tạm thời thừa vốn ở các tổ chức, cá nhân này, trong khi các tổ chức, cá nhân
khác lại có nhu cầu thiếu vốn. Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sự chênh
lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức,
cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục. Tín dụng
thương mại đã không giải quyết được vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chức chuyên
kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó khi ngân hàng giữ vai trò
vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm:
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp.
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư.
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các TCTD khác trong và ngoài nước.
Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệ trong nền
kinh tế thị trường.
1.3.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sản phẩm
cho vay. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho các ngân
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
18
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả của công
tác quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa và các căn cứ sau đây:
1.3.2.1 Mục đích cho vay:
Dựa vào mục đích cho vay, người ta thường phân chia cho vay thành các loại sau:
Cho vay bất động sản: Loại cho vay này liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch

tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dây chuyền, nhà máy sản xuất.
1.3.2.3 Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo tiêu thức phân loại này, cho vay được chia thành hai loại:
Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm cố hoặc
có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tài chính vững
mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của
khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung.
Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp
hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách hàng không
có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm
này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn
thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn.
1.3.2.4 Phương pháp cho vay:
Dựa vào tiêu thức này, cho vay của NHTM được chia thành các loại sau đây:
Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau đối với
khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cần thiết
vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn yêu cầu và trình phương án sử dụng
vốn vay gửi đến Ngân hàng. Ngân hàng sẽ phân tích, đánh giá khách hàng và ký hợp
đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất
và yêu câu bảo đảm nếu cần.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng và
khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
20
Chuyên đề tốt nghiệp
thời gian nhất định. Hạn mức tín dụng này được xác định dựa trên kế hoạch sản xuất
kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hạn mức tín dụng có
thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Mỗi lần khách hàng vay chỉ cần trình bày phương án

1.4.1. Khái niệm
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp
với sự phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với khả năng của ngân hàng, và số vốn vay
này được khách hàng đứa vào quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra số tiền lớn hơn,
đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đủ và đúng hạn, đồng thời, khách
hàng vay có thể trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận, khối lượng sản phẩm hàng hóa
hữu ích cung cấp cho xã hội tăng.
Như vậy, khi xem xét chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung và đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, cần tính đến ba nhân tố: ngân hàng thương mại,
khách hàng và nền kinh tế.
Xét từ giác độ ngân hàng thương mại: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi,
mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực
của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo
nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện
ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn
đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn, trung
và dài hạn trong nền kinh tế.
Xét từ giác độ khách hàng: thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am
hiểu khách hàng sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng, đảm
bảo thỏa mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,
chất lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu
hợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được
khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp
với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp
phần làm lành mạnh tài chính khách hàng.
Xét từ giác độ nền kinh tế: hoạt động tín dụng trong những năm gần đây phản
ánh rõ nét sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới với nhiều khái
niệm mới, nội dung mới để đạt được sự thống nhất về nhận thức và tạo điều kiện
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
22

năm 1992. Khách hàng khi đến giao dịch với ANZ bao giờ cũng rất yên tâm và thoải
mái bởi ở đây có một đội ngũ nhân viên bảo vệ rất chuyên nghiệp, một ban lễ tân
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
23
Chuyên đề tốt nghiệp
niềm nở và hướng dẫn khách hàng tận tình, chu đáo, một không khí làm việc nghiêm
túc. Tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên uy tín của ngân hàng ANZ ở Việt
Nam.
Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín
dụng của các ngân hàng thương mại
1.4.2.2. Chỉ tiêu định lượng
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng, trong đó
có các chỉ tiêu cơ bản sau:
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu:
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/04/2005 của Ngân
hàng Nhà nước, nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ
không thể đòi,…) được định nghĩa là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 quy định tại
điều 6 hoặc điều 7 của Quy định này.
Nợ xấu mang các đặc trưng sau:
Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã
hết hạn.
Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng
ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không
đủ trang trải nợ gốc và lãi.
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày.
Cụ thể, các khoản nợ xấu bao gồm:
- Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3)
- Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4)
- Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5)

dụng ngân hàng, tuy với mức độ thấp hơn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá
hạn. Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ. Các khoản nợ quá hạn
bao gồm:
- Nợ cần chú ý
- Nợ dưới tiêu chuẩn.
- Nợ nghi ngờ
- Nợ có khả năng mất vốn
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho biết việc khách hàng không thực hiện được việc trả nợ đúng
hạn theo cam kết. Cũng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cao phản ánh tình hình tín
dụng của ngân hàng có chất lượng thấp. Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấp nhận
được là dưới 3%.
SV: Chu Văn Tùng Lớp: TCDN 49C
25

Trích đoạn Cơ cấu tổ chức về Ngân hàng NN& PTNT Tân kỳ Các dịch vụ khác Kết quả tài chính Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status