Website: Email : Tel (: 0918.775.368
A-LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi
mới nền kinh tế đất nước theo hướng mở cửa, hội nhập với khu vực và thế
giới phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Đảng ta thực hiện chủ trương
công ngiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam phát
triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng
hoá, dịch vụ vươn lên cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của các nước khác
trong khu vực và trên thế giới. Bởi vậy nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế
ngày càng tăng. Bên cạnh nguồn vốn tự có (thường không lớn ) các doanh
nghiệp phải tìm mọi cách huy động lượng vốn lớn hơn nhiều để đầu tư mở
rộng và phát triển sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại là những
địa chỉ cung cấp nguồn vốn chủ yếu để các doanh nghiệp thực hiện chiến lược
sản xuất kinh doanh. Vì vậy, sự phát triển của các ngân hàng thương mại có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Do đó Đảng và Nhà
nước rất quan tâm đến sự phát triển của ngành ngân hàng nói chung, sự phát
triển của các ngân hàng thương mại nói riêng, đặc biệt đối với các ngân hàng
thương mại nhà nước được xếp loại doanh nghiệp đặc biệt.
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh vừa với danh nghĩa là một
doanh nghiệp tổ chức hạch toán kinh tế kinh doanh, vừa với vai trò trung gian
tài chính, trung gian thanh toán trong nền kinh tế. Với vai trò trung gian tài
chính, ngân hàng thương mại tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế và phân phối vốn cho các nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp và doanh nhân theo nguyên tắc tín dụng. Chất lượng
hoạt động kinh doanh dịch vụ của các ngân hàng thương mại tác động đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng, đồng thời kết quả sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn của các ngân hàng có tác động trực
tiếp đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Các rủi ro của tất cả
Em xin chân thành cảm ơn TS. Đào Văn Hùng, các thầy cô giáo và ban
lãnh đạo cùng cô chú cán bộ chi nhánh NHNo Nam Hà Nội đã tận tình giúp
đỡ em trong quá trình học tập, thực tập cũng như trong quá trình hoàn thành
chuyên đề thực tập.
Sinh viên
Vũ Đức Chung
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU :
PHẦN I:
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I/ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.
6
1/ Tín dụng ngân hàng.
6
1.1/ Khái niệm về tín dụng.
6
1.2/ Khái niệm về tín dụng ngân hàng.
6
1.3/ Bản chất của tín dụng ngân hàng.
7
2/Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế.
7
3 Các hình thức tín dụng ngân hàng.
10
3.1 Phân loại theo thời gian cấp tín dụng.
III TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ.
22
1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
22
1.1 Khái niệm. 22
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2 Các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
23
2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
27
3 Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế.
27
4 Vấn đề thực hiện tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Việt Nam.
28
PHẦN II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NAM
HÀ NỘI
32
I VÀI NÉT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP NÔNG
THÔN NAM HÀ NỘI.
32
1 Quá trình phát triển và nhiệm vụ chủ yếu.
32
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
32
44
2. Kết quả cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi
nhánh.
45
3. Chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
chi nhánh.
47
3.1 Doanh số cho vay và doanh số thu nợ đối với các DNVVN. 47
3.2 Hệ số sử dụng vốn vay. 47
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn.
48
3.4 Tốc độ luân chuyển vốn. 49
III NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ VẤN ĐỀ CẤP TÍN DỤNG TẠI CHI
NHÁNH NHNO NAM HÀ NỘI
50
PHẦN III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN NAM HÀ NỘI
51
I. ĐỊNH HƯỚNG VỀ MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI CÁC DNVVN TẠI CHI NHÁNH NHNo NAM HÀ NỘI.
51
1.Đa dạng hoá các hình thức tín dụng đối với DNVVN.
53
2. Thực hiện các biện pháp them định kỹ trước khi cho vay và
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1 Tín dụng ngân hàng
1.1 Khái niệm về tín dụng
Theo quan điểm của Mác thì “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng
tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời
gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.
Tín dụng biểu hiện mối quan hệ vay mượn và hoàn trả. Trong quan hệ
này thể hiện các nội dung sau:
+ Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất
định.
+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất
định, sau khi khoản vay đó hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi
vay phải hoàn trả cho người cho vay phần vốn gốc cộng với khoản phí cơ
hội mà người cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt hơn.
+ Giá trị được hoàn trả thường lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp đồng tín
dụng.
1.2 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến và có vai trò quan
trọng nhất trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng giữ vị trí chủ chốt trong
hoạt động của mỗi ngân hàng.
Như đã đề cập ở trên: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng
tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ- với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó
ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”
Nói đến tín dụng ngân hàng là đề cập đến cả “đi vay” lẫn “cho
vay”.Tuy nhiên, trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân
hàng mà hoạt động nhận tiền gửi và hoạt động cho vay laị được tách riêng,
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Nó thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, góp phần đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hoà
lưu thông tiền tệ và thông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tín dụng ngân
hàng có chức năng huy động vốn và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa
vào sử dụng. Cụ thể:
2.1 Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh được liên tục và ngày càng mở rộng.
Sự thiếu vốn là quá trình xảy ra thường xuyên ở các doanh nghiệp.
Chính trong quá trình tập trung và phân phối vốn, tín dụng ngân hàng huy
động vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng của tất cả các thành phần kinh tế và
trong dân cư thành nguồn vốn để cho vay, đã góp phần tích luỹ và điều hoà
vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bù đắp được nhu cầu
vốn tạm thời, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục.
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.2 Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển,
thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế
hợp lý.
Trong môi trường cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn luôn phải chủ
động tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như ứng dụng thành tựu khoa
học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường mới nhằm làm cho hoạt
động kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được những việc này
làm đòi hỏi phải có một khối lượng lớn về vốn. Chính tín dụng ngân hàng
cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển vốn từ ngành này sang ngành
khác và chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho
việc thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp cũng như
toàn bộ nền kinh tế. Các nhà sản xuất kinh doanh sẽ dễ dàng chuyển từ những
ngành có lợi nhuận thấp sang những ngành có lợi nhuận cao, tạo điều kiện
lãi suất tái chiết khấu, hạn mức tín dụng…
2.5 Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nước
ngoài thúc đảy quá trình mở rộng, tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế
trong khu vực và trên thế giới
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hoá, nền kinh tế của một quốc gia luôn
gắn liền với nền kinh tế thế giới. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh
xuất nhập khẩu hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông
dụng giữa các nước. Vốn là yếu tố quyết định đầu tiên cho sự hợp tác này, do
đó ngân hàng với khả năng đặc biệt của mình là huy động vốn và cung cấp
vốn cho các hoạt động kinh doanh, thông qua đó góp phần mở rộng và tăng
cường mối quan hệ hợp tác kinh tế với các nước. Như vậy, với những nước
đang phát triển như nước ta thì tín dụng ngân hàng đóng vai trò mở rộng xuất,
nhập khẩu hàng hoá đồng thời cũng nhờ nguồn tín dụng bên ngoài đầu tư phát
triển các thành phần kinh tế góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
2.6 Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế.
Xuất phát từ chức năng phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng cỏ thể
kiểm soát được hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay. Thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các
doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư trong xã hội và việc tổ chức thanh toán
cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình
hình sản xuất cũng như khả năng chi trả của khách hàng thông qua biến động
số dư trên tài khoản. Trong quá trình cho vay, ngân hàng phải luôn đề phòng
nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, phải thường xuyên phân tích khả năng tài chính
của khách hàng và thường xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh
doanh của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết. Vì vậy có
thể nói qua hoạt động kinh doanh của ngân hàng có khả năng kiểm soát được
các hoạt động của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế góp phần điều
chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý.
3 Các hình thức tín dụng ngân hàng
- Cho vay kinh tế tập thể.
- Cho vay kinh tế tư nhân.
- Cho vay kinh tế cá thể.
- Cho vay kinh tế hỗn hợp.
(Năm thành phần kinh tế trên được xác định trong văn kiện Đại hội Đảng
lần thứ VI)
Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN như
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nước ta thì việc phân loại này rất có ý nghĩa thực tiễn. Kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Nhà nước có chính sách khác nhau đối với từng khu vực kinh
tế, có tác động lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng ngân hàng tới các
thành phần kinh tế nói chung. Mặt khác, mỗi thành phần kinh tế lại có những
đặc điểm riêng biệt nên ngân hàng cần phải có thái độ ứng sử rất khác nhau
khi cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế này vay vốn.
3.3 Phân loại theo phương thức hoàn trả
Theo phương thức hoàn trả thì các khoản cho vay còn có thể được phân
chia theo hai loại: cho vay hoàn trả một lần và cho vay trả góp.
- Cho vay hoàn trả một lần: các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào
thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thế đựoc hoàn trả theo
thoả thuận trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hoặc theo năm.
- Cho vay trả góp: việc hoàn trả được tiến hành theo định kỳ, các khoản
này có thể bằng nhau hay không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận và được thực
hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.
Thông thường, các ngân hàng thương mại thường áp dụng phương thức
trả góp đối với các khoản cho vay trung và dài hạn còn phương thức trả một
lần thường áp dụng đối với cho vay ngắn hạn.
3.4 Phân loại theo mức độ đảm bảo
chức xã hội nhưng không trực tiếp cho vay khách hàng.
Việc phân loại có ý nghĩa giúp ngân hàng đánh giá, lựa chọn cách thức
cho vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể lệ và
chính sách tín dụng phù hợp. Trong thực tế kinh doanh ngân hàngchúng ta
thường xam xét chủ yếu là các loại hình tín dụng ngắn hạn là chủ yếu. Khi
phân chia các loại hình tín dụng ngắn hạn người ta thường nhìn dưới góc độ
các “sản phẩm tín dụng” hay còn được gọi là kỹ thuật cấp tín dụng.
3.6 Phân loại theo kỹ thuật cấp tín dụng
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín
dụng cổ điển, nhưng mãi tới ngày nay vẫn được coi là một trong những kỹ
thuật cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng thương mại. Chiết khấu thương
phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng
quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền
bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi số tiền lãi và phí hợp đồng.
- Tín dụng thấu chi: mỗi khách hàng đèu có một tài khoản tiền gửi tại
ngân hang. Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được sử dụng số tiền đã gửi trên
tài khoản. Do nhu cầu kinh doanh, khách hàng thường có nhu cầu chi quá số
tiền gửi trên tài khoản. Thấu chi là hình thức cấp tín dụng trước được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một số
tiền lớn hơn số tiền gửi mà khách hàng hiện có.
Những khách hàng có nhu cầu đối với hình thức tín dụng thấu
chi là những doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu thường xuyên và thu nhập bằng
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiền gửi vào tài khoản của ngân hàng, thường là các doanh nghiệp thương mại
(mới thường xuyên có nguồn tiền vào ra).
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ
động và tiện lợi, tuy nhiên cũng gặp nhiều rủi ro. Vì vậy chỉ áp dụng cho
tiêu dùng. Mặt khác, người vay phảI trả một khoản tiền cố định bao gồm cả
Sinh viªn: Vò §øc Chung Líp: Ng©n hµng 41C
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gốc và lãi vào những thời điểm xác định nên họ dễ dàng tính được số tiền
phải trả từ đó lập được kế hoach trả nợ.
- Tín dụng bảo lãnh: là một loại tín dụng phát sinh khi ngân hàng nhận
thanh toán cho người bán hàng trong trường hợp người mư không có khả
năng thanh toán số nợ này. Ngân hàng thu dịch vụ phí bảo lãnh, mức thu phụ
thuộc vào loại nhu cầu bảo lãnh và thời gian cho vay. Thời hạn có thể là ngắn,
trung hoặc dài hạn. Hình thức bảo lãnh của ngân hàng cũng rất phong phú và
đa dạng: bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh cung cấp hàng hoá…Tín dụng bảo lãnh
phát triển đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, chi tiêu của các nhà sản
xuất kinh doanh trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
- Tín dụng vãng lai: là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa khách
hàng và ngân hàng với nội dung thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đặc
điểm của hình thức tín dụng này là ngân hàng mở cho khách hàng một tài
khoản vay vừa dư nợ, vừa dư có (tài khoản vãng lai). Toàn bộ thu nhập của
người vay đều được ghi vào bên có tài khoản, toàn bộ chi tiêu ghi bên nợ tài
khoản. Khi không còn số dư có, khách hàng được sử dụng một khoản tín dụng
như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với một mức dư nợ tối đa nào đó.
Ngân hàng khống chế số dư nợ mà không khống chế số dư có. Khách hàng
được sử dụng vốn vay rất linh hoạt dưới dạng tiền mặt, chuyển khoản, tín
phiếu…
Điều kiện được vay vốn đối với loại tài khoản vãng lai là người vay có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Ngoài ra trong một số trường hợp,
người vay có uy tín cao thì có thể không cần bảo đảm bằng tài sản. Thời hạn
vay thường từ 3 -6 tháng. Trên lý thuyết, tín dụng vãng lai được xem như tín
dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, hiện nay có nhiếu ngân hàng cho vay với thoả hạn
2-3 năm nên tín dụng vãng lai trở thành tín dụng trung và dài hạn.