TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
----------
TÔ THỊ BÉ
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH
HÌNH THÁI THỰC VẬT CỦA CAM SÀNH
(Citrus nobilis var. typica Hassk.) KHÔNG HỘT
ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cần Thơ - 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
KHẢO SÁT SỰ SINH TRƯỞNG VÀ ĐẶC TÍNH
HÌNH THÁI THỰC VẬT CỦA CAM SÀNH
(Citrus nobilis var. typica Hassk.)KHÔNG HỘT
ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Cán bộ hướng dẫn
Ts. Nguyễn Bá Phú
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư
ngành Khoa Học Cây Trồng với đề tài:
“Khảo sát sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật
của cam Sành (Citrus nobilis var. typica Hassk.) không hột
được phát hiện huyện ở Đồng bằng sông Cửu Long”
Do sinh viên Tô Thị Bé thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
…………………………………………………………………………………
…………………………………………...……………………………………
……………………………………………………...…………………………..
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá: ……………………………..
Cần Thơ, ngày …. tháng …. năm 2014
Thành viên Hội đồng
Ts. Nguyễn Bá Phú
PGS.Ts. Trần Văn Hâu Ts. Lê Vĩnh Thúc
DUYỆT KHOA
Trưởng khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân. Các
số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng
tỉnh Sóc Trăng
- 2002 – 2006: Học tại trường Trung học cơ sở Kế An, xã Kế An, huyện Kế
Sách, tỉnh Sóc Trăng
- 2006 – 2009: Học tại trường Trung học phổ thông Kế Sách, thị trấn Kế Sách,
tỉnh Sóc Trăng
- 2010 – 2014: Học tại trường Đại học Cần Thơ, đường 3/2, phường Xuân
Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
iv
LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ đã sinh ra con, nuôi dưỡng, chăm sóc con, vất vả suốt
cả đời vì tương lai và sự nghiệp của các con. Chân thành cám ơn anh chị đã
luôn luôn chăm sóc, động viên tôi suốt thời gian qua.
Thành kính biết ơn thầy Nguyễn Bá Phú, người đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo tôi những kiến thức bổ ích, luôn luôn giúp đỡ và động viên tôi trong
suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Chân thành biết ơn thầy cố vấn học tập thầy Lê Vĩnh Thúc và cô Trần
Thị Bích Thủy đã luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
học tập.
Chân thành biết ơn toàn thể quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận
tình dìu dắt, truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian theo học
tại trường.
Chân thành cảm ơn anh La Hoàng Châu đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
tôi, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu và viết luận
văn. Và anh Nhãn ở Hậu Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
quá trình thu thập số liệu.
Chân thành cảm ơn bạn Đinh Văn Tàu, Tống Trung Trực, Hồ văn Hạnh,
Trần Minh Dững, Đinh Thanh Tông, Lê Minh Triết, Phạm Minh Toàn, Lê
kính nướm nhụy nhỏ hơn, cao bầu noãn cao hơn, tỷ số chiều cao/đường kính
bầu noãn lớn hơn, có vết lõm ở đỉnh trái, vỏ dày hơn, số túi dầu/cm2 bề mặt
trái ít hơn, phần trăm trọng lượng vỏ trái nhiều hơn, phần trăm trọng lượng
vách múi – vỏ con tép ít hơn, phần trăm trọng lượng phần ăn được ít hơn,
trọng lượng hột ít hơn, phần trăm trọng lượng hột ít hơn, cho trái không hột (
1.8.3 Ánh sáng ..................................................................................................15
1.8.4 Đất đai......................................................................................................16
1.8.5 Gió ........................................................................................................... 16
Chương 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ............................................. 17
2.1 PHƯƠNG TIỆN .......................................................................................... 17
2.1.1 Thời gian và địa điểm ............................................................................... 17
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm ................................................................................... 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP ......................................................................................... 17
2.2.1 Bố trí khảo sát .......................................................................................... 17
2.2.2 Khảo sát đặc tính hình thái theo mô tả của IPGRI (1999).......................... 17
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 21
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................... 22
3.1 Sự sinh trưởng của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối chứng) .... 22
3.1.1 Sự tăng trưởng đường kính gốc tháp ......................................................... 22
3.1.2 Sự tăng trưởng đường kính thân tháp ........................................................ 23
3.1.3 Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp ..................................... 26
3.1.4 Sự tăng trưởng của chiều cao cây.............................................................. 27
3.1.5 Sự tăng trưởng của chiều rộng tán cây ...................................................... 29
3.2 Đặc tính thực vật ......................................................................................... 31
3.2.1 Đặc tính thân, cành ................................................................................... 31
3.2.2 Đặc tính lá ................................................................................................ 33
3.2.3 Đặc tính hoa ............................................................................................. 45
3.2.4 Đặc tính trái .............................................................................................. 54
3.2.4.1 Đặc tính hình thái trái ........................................................................... 54
3.2.4.2 Năng suất và chất lượng ........................................................................ 69
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................... 74
4.1 Kết luận ....................................................................................................... 74
4.2 Đề nghị ........................................................................................................ 76
Tài liệu tham khảo ............................................................................................. 77
Phụ chương 1
24
3.4
Tỷ lệ tăng trưởng tương đối đường kính thân tháp (%) của cam
Sành không hột và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang,
năm 2013 – 2014
25
3.5
Tỷ số đường kính thân tháp/đường kính gốc tháp của cam Sành
không hột và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm
2013 – 2014
26
3.6
Chiều cao cây (cm) của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013 – 2014
27
3.7
Tỷ lệ tăng trưởng tương đối chiều cao cây (%) của cam Sành
không hột và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm
33
3.12
Đặc tính định tính về lá của cam Sành không hột và cam Sành có
hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
35
3.13
Phần trăm hình dạng phiến lá của cam Sành không hột và cam
Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
36
3.14
Kích thước cuống lá của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
37
3.15
Kích thước cánh lá của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
38
41
3.20
Tỷ số chiều dài cuống lá/chiều dài phiến lá của cam Sành không
hột và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
42
3.21
Dày lá của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối chứng)
tại Hậu Giang, năm 2013
43
3.22
Số túi dầu trên 1 cm2 bề mặt lá của cam Sành không hột và cam
Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
43
3.23
Số gân phụ mặt trên của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
44
Số chỉ nhị/hoa của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối
chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
49
3.29
Chiều dài chỉ nhị và chiều dài bao phấn của cam Sành không hột
và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
49
3.30
Chiều dài vòi nhụy của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
50
3.31
Dày nướm nhụy và đường kính nướm nhụy của cam Sành không
hột và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
51
3.32
Kích thước bầu noãn của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
3.37
Dày vỏ trái của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối
chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
58
3.38
Số túi dầu trên 1 cm2 trái của cam Sành không hột và cam Sành
59
x
có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
3.39
Số múi/trái của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối
chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
60
3.40
Trọng lượng trái của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
64
3.45
Trọng lượng, phần trăm trọng lượng hột của cam Sành không hột
và cam Sành có hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
65
3.46
Số hột chắc, số hột lép của cam Sành không hột và cam Sành có
hột (đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
66
3.47
Tổng số hột của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối
chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
67
3.48
Số mài của cam Sành không hột và cam Sành có hột (đối chứng)
tại Hậu Giang, năm 2013
67
3.53
pH và Vitamin C của cam Sành không hột và cam Sành có hột
(đối chứng) tại Hậu Giang, năm 2013
73
xi
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
3.1
Hình mặt trên và mặt dưới lá của cam Sành không hột và cam
Sành có hột (đối chứng), tại Hậu Giang, năm 2013
34
3.2
Ba dạng phiến lá của cam Sành không hột, tại Hậu Giang, năm
2013
trái ngon, nhiều nước, thịt trái có màu cam sẫm được nhiều người tiêu dùng ưa
chuộng (Trần Thị Oanh Yến và ctv., 2013).
Cam Sành có tên khoa học là Citrus nobilis var. typica Hassk. (Nguyễn
Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011) có nguồn gốc ở Miền Nam Việt Nam, có
tên trên thế giới là quýt King, về phương diện thực vật thuộc loài quýt (Tôn
Thất Trình, 2000), là giống lai giữa cam Mật (Citrus sinensis) và quýt (Citrus
reticulate) (Vũ Công Hậu, 1996), có giá trị cao, được thị trường trong nước ưa
chuộng và có tiềm năng xuất khẩu ở thị trường các nước châu Á. Tuy nhiên,
giống trồng hiện tại có nhược điểm là nhiều hột. Vì thế, mà không hột là một
vấn đề đang được chú ý, do được thị trường trong và ngoài nước quan tâm và
ưa chuộng. Chính vì thế, việc chọn giống cam Sành không hột (nhỏ hơn 5 hột)
là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển ngành trồng cam
quýt ở nước ta. Trong những năm gần đây, bộ môn Khoa Học Cây Trồng,
khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ là một
trong các đơn vị nghiên cứu, tìm và chọn tạo các giống cam quýt không hột.
Kết quả là các nhà khoa học đã phát hiện hai cá thể quýt Đường không hột tại
xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Bảo Vệ và ctv.,
2007). Và gần đây, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát hiện các cá thể cam Sành
không hột ở xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Vì thế, đề tài “Khảo sát sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật của
cam Sành không hột được phát hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long” được tiến
hành để ghi nhận sự sinh trưởng và đặc tính hình thái thực vật của các cá thể
cam Sành không hột vừa được phát hiện, làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp
theo nhằm phát triển một giống cây trồng mới trong sản xuất.
1
CHƯƠNG 1
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Hassk cũng có bộ nhiễm sắc thể 2n = 18 giống với bộ nhiễm sắc thể trên cam
quýt (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994).
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng
Theo Đường Hồng Dật (2003), cam quýt là một trong các loại trái cao
cấp được nhiều người ưa chuộng và được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới.
Cam quýt có nhiều chất dinh dưỡng nên có giá trị sử dụng rất cao. Trong phần
2
thịt trái có chứa 6 – 12% đường. Các loại acid hữu cơ chứa trong thịt trái 0,4 –
1,2%, trong đó có nhiều loại acid hoạt tính sinh học cao. Trong trái còn chứa
các chất khoáng và dầu thơm. Cam quýt được dùng để ăn tươi, ngoài ra còn
được chế biến thành các sản phẩm như mức, kẹo, nước giải khát, xirô, làm
thuốc chữa bệnh và trích lấy tinh dầu (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,
2011).
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
Trong năm 2009 có hơn 5,4 triệu ha cây cam quýt (4,5 triệu ha cam) với
năng suất trung bình 16,3 tấn/ha (FAO, 2011 trích dẫn của Goldhamer et al.,
2012). Thị trường thế giới có nhu cầu về cam quýt rất lớn. Phát triển cam quýt
để thỏa mãn nhu cầu trong nước đang tăng lên nhanh chóng do đời sống của
nhân dân ngày càng được cải thiện và góp phần từng bước tăng nguồn hàng
xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết và đang mở ra triển vọng to lớn cho nghề trồng
cam quýt ở nước ta (Đường Hồng Dật, 2000).
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã phát triển khá mạnh các loại cây
ăn trái với diện tích 750.500 ha (Tổng cục Thống kê, 2007). Theo Cục trồng
trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011 Trích dẫn của Phạm Văn
Hiếu, 2012), diện tích cây ăn trái cả nước đạt khoảng hơn 900 nghìn ha, sản
lượng khoảng 10 triệu tấn; trong đó, diện tích cây ăn trái phục vụ xuất khẩu
khoảng 255 nghìn ha, sản lượng trái xuất khẩu ước đạt hơn 400 nghìn tấn.
Sản lượng cam quýt của Việt Nam tương đương với các nước trong khu
đỉnh sinh trưởng của ngọn sẽ mọc ra, các cành thứ cấp này sẽ mọc dài đến một
khoảng nhất định thì ngưng và các mầm ngủ bên dưới tiếp tục phát triển giống
như cũ. Trong một năm, cây có thể cho 3 – 4 đợt cành. Tùy theo chức năng
của cành trên cây, có thể gọi tên như: Cành mang trái, cành mẹ, cành dinh
dưỡng, cành vượt.
Hình thái tán cây cam quýt rất đa dạng: Có loại tán rộng, có loại tán chặt,
có loại tán thưa. Tán có thể có hình tròn, hình cầu, hình tháp, hình phễu, hình
chổi xể, v.v… Cách phân cành cũng đa dạng: phân cành hướng ngọn, phân
cành ngang, phân cành hỗn hợp, v.v … (Đường Hồng Dật, 2000).
Theo Nguyễn Bá Phú (2006), cây có đặc tính sinh trưởng trung bình,
dạng tán hình trứng, gốc cành hẹp, có khuynh hướng vươn cao. Cây 6 năm
tuổi cao 4 – 4,5 m, đường kính tán 3,5 – 4 m. Phân cành cách cổ rễ 23 – 25 cm
(Hoàng Ngọc Thuận, 2000). Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011),
cho rằng cam Sành có tán nhỏ, cao khoảng 3 – 5 mét, cành nhiều, mọc yếu,
không gai.
1.3.3 Đặc tính lá
Theo Đường Hồng Dật (2000) cho rằng lá cam quýt có hình dáng rất
khác nhau. Lá các loài thuộc chi Poncirus có chia thùy chạc ba. Lá các loài
cam quýt khác thường có hình ôvan, hình trứng lộn ngược, hình thoi. Lá
thường có eo lá hoặc không có. Eo lá có thể to hoặc nhỏ. Những loài cam quýt
có nguồn gốc lai với các loài thuộc chi Poncirus thường có eo lá to, cuống lá
ngắn: Phần lớn các lá loài cam quýt có mép răng cưa, trừ các loài quất.
Cây cam quýt trưởng thành thường có 150.000 – 200.000 lá với diện tích
lá vào khoảng 200 m2 (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2011). Tuổi thọ
của lá từ 2 – 3 năm tùy thuộc vào vị trí lá, tình trạng sinh trưởng của cây, cành
mang lá, vị trí cấp cành và tùy thuộc vào vùng sinh thái.
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1994), lá cam quýt thuộc loại lá đơn
gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá. Hình dạng và kích thước lá thay đổi tùy
4
chùy, hình niêm, hình trứng, hình phỏng cầu, hình bán phỏng cầu và hình bán
tam giác.
Hột cam quýt phần lớn là đa phôi. Chỉ riêng bưởi và các giống lai của
chúng là đơn phôi. Hột của các loài thuộc chi phụ Papeda cũng đơn phôi. Gieo
một hột cam quýt thường tạo được 2 – 4 cây, trong đó chỉ có một cây mọc từ
phôi hữu tính, còn lại là các cây phôi tâm. Các cây phôi tâm về cơ bản mang
các đặc điểm tính trạng của cây mẹ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp có
xuất hiện một số tính trạng mới, trong đó có những tính trạng có lợi cho sản
xuất như chịu hạn, chịu lạnh, có năng suất cao, có phẩm chất trái tốt. Đặc biệt
5
là các phôi vô tính mọc từ hạt lai thường có đặc tính này (Đường Hồng Dật,
2000).
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), trái cam sành có dạng
hình tròn hơi dẹp, đường kính 7 – 8 cm, cao khoảng 6 – 8 cm. Đáy trái và
cuống lõm xuống, vỏ dày 4 – 6 mm xù xì, màu xanh vàng hay vàng đỏ khi
chín. Bầu noãn có 10 – 14 ngăn, dễ lột, con tép to, nhiều nước, vị ngọt hơi
chua. Trái nặng tung bình 3 – 4 trái/kg. Hột hình tròn trứng, đa phôi, tử diệp
trắng.
Trái có vỏ dày, thô, sần sùi không hấp dẫn, nhưng màu sắc vỏ trái và thịt
trái rất đẹp. Thịt trái có hương thơm, phẩm vị rất ngon, không thua kém bất cứ
giống quýt nào trên thế giới (Đường Hồng Dật, 2003). Cam Sành là giống
quýt có trái to nhất, vỏ dày nhất trong loài quýt và hột lại trắng chứ không
xanh như hột các giống quýt khác (Tôn Thất Trình, 2000), quả bì dày song dễ
lột, rất thơm (Phạm Hoàng Hộ, 2003).
1.4 TỔNG QUAN VỀ SỰ KHÔNG HỘT
1.4.1 Khái niệm không hột
Theo Varoquaux et al. (2000, được trích bởi Nguyễn Bá Phú (2006)), trái
trong bầu noãn của các loài có hột bao giờ cũng thấp hơn nhiều so với các loài
không hột (Vũ Văn Vụ và ctv., 1998).
Theo Chao (2004), được trích bởi Nguyễn Bá Phú (2013), trên cam quýt,
trái không hột do giống có nhiễm sắc thể tam bội. Trái không hột có thể là do
sự bất dục hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất tương hợp trong đó có sự bất
tương hợp do tự thụ phấn (Jackson and Futch, 1997; Jackson and Gmitter,
1997).
1.5.1 Tam bội
Theo Trần Thượng Tuấn (1992), thể tam bội với bộ nhiễm sắc thể cơ bản
được hình thành do kết quả của sự phối hợp giữa các giao tử lưỡng bội (2n) và
đơn bội (1n). Thể tam bội thường bất dục, do quá trình phân bào giảm nhiễm
diễn ra không bình thường, phần lớn các giao tử mang số nhiễm sắc thể trung
gian giữa 1n và 2n nên không có sức sống và tất nhiên là không có khả năng
sinh sản. Vì vậy, các dạng tam bội trong tự nhiên được hình thành ở cây sinh
sản hữu tính sẽ mất dần theo thời gian, trong khi các cây sinh sản vô tính thì
thể tam bội vẫn thường gặp.
Mooney (1997), nhận thấy rằng giống cam quýt tam bội có chứa bộ ba
nhiễm sắc thể và có tiềm năng thương mại lớn vì mức độ không hột cao. Cây
cam quýt chọn lọc từ phôi hữu tính của cây trồng bằng hột có thể xuất hiện
những cây tam bội tự nhiên và tần số xuất hiện những cây tam bội này là 5%
(Lapin, 1937).
Theo Raza et al. (2003), giống tam bội trên cam quýt có thể được tạo ra
bằng nhiều cách như: thụ phấn chéo giữa cây nhị bội và tứ bội, kỹ thuật cứu
phôi, sự chiếu xạ, nuôi cấy phôi nhũ, công nghệ sinh học hiện đại. Đối với
giống có nhiễm sắc thể tam bội sẽ tạo ra trái hoàn toàn không hột, ngay cả khi
trồng chung với những loài cam quýt khác như quýt Tahaoe Gold (Chao,
2004).
1.5.2 Hiện tượng tự bất tương hợp
Theo Trần Đình Long (1997), hiện tượng tự bất tương hợp là hiện tượng
hạt phấn không thể thụ tinh được trên vòi nhụy của cùng một hoa hoặc giữa
nên dần dần đưa đến bất dục đực và cái. Thường bất dục đực xảy ra nhiều hơn.
Bất dục đực là cây không có khả năng tạo ra hoặc giải phóng hạt phấn có
chức năng. Bất dục đực có thể là bất dục thực, bất dục đực chức năng hoặc bất
dục đực cảm ứng do hóa chất (Vũ Đình Hòa, 2005). Trần Thượng Tuấn (1992)
cho rằng nguyên nhân của hiện tượng đực bất dục là giao tử đực không có sức
sống, có cả ở cây tự thụ cũng như cây giao phấn là do các đột biến làm ngừng
trệ sự phát triển của giao tử đực vào những giai đoạn khác nhau.
Bất dục cái có thể là kết quả từ hoa cái bị thối hoặc phát triển túi phôi
không đầy đủ. Trên quýt Satsuma và cam ngọt Washington tế bào cái thường
bị thối trong giai đoạn giảm phân hoặc nhiều túi phôi bị ức chế phát triển
chậm làm trứng không chín và không có sức sống cho sự thụ tinh. Hư phôi
xảy ra khi sự thụ tinh bình thường (Jackson and Gmitter, 1997).
8
Kahn and Chao (2004) cho biết những giống vừa tạo ra một ít hạt phấn
hoặc không tạo hạt phấn và một ít noãn hoặc noãn không có chức năng sẽ rất ít
hột hoặc không hột, không có vấn đề gì khi những giống cam quýt khác trồng
xung quanh giống này.
1.5.4 Hiện tượng biến dị và đột biến ở cam quýt
Theo Spiegel-Roy and Goldschimidt (1996), đột biến liên quan đến thay
đổi trong DNA thường thấy ở cam quýt và tỷ lệ xuất hiện thay đổi theo từng
giống. Tần số xuất hiện của đột biến có thể ảnh hưởng bởi môi trường, trong
quá trình trồng trọt như xén tỉa cành. Đột biến làm xuất hiện những đặc tính có
ích như không hột, chín sớm, quả ít chua, quả có màu sắc đẹp... đã được tìm
thấy, chọn lọc và sử dụng như: cam Navel, Clementine, quýt Satsuma. Tuy
nhiên, cũng có một số không có ích như: làm năng suất thấp, quả dị thường,
phẩm chất kém, cấu trúc và kích thước lá thay đổi. Đột biến gây nên bất dục
hạt phấn và bầu noãn làm xuất hiện trinh quả sinh.
tạo biến dị do tác động chất hóa học đến chồi và mô cây (Nguyễn Ngọc An và
ctv., 1973).
Theo Raza (2003), chiếu xạ được xem là phương pháp có giá trị để nâng
cao tần số xuất hiện đột biến trong nhân giống cây trồng; chiếu xạ bằng tia
gama hoặc các chất hóa học được sử dụng gây đột biến sôma và là như nguồn
để nghiên cứu sự tiến hóa của đột biến ở các loài giống cam quýt. Hensz
(1977), đã phát hiện giống bưởi chùm không hột Star Ruby bằng xử lý hột
giống bưởi chùm Foster có hột. Russo et al. (1981), đã xử lý chồi ngủ của
giống quýt Clemintine Monreal với tia gama để tạo các dòng ít hột. Và ở nước
ta hiện nay cũng có xu hướng xứ lý đột biến bằng tia gama để tạo dòng không
hột đang được thực hiện trên cam Sành (Trần Thị Oanh Yến và ctv., 2004).
1.5.5 Dòng cam Sành LĐ 6
Từ dòng cam Sành (CS8) có số lượng 10-23 hột/trái, được chiếu xạ tại
Viện Nghiên cứu hạt nhân, sử dụng nguồn chiếu xạ: Co60, liều chiếu xạ 5,0
krad. Kết quả đã tạo ra được một dòng cam Sành không hột bằng chiếu xạ đột
biến sử dụng tia gamma trên mầm ngủ có các đặc tính nổi trội: có tỉ lệ hạt
phấn bất dục cao (70%), số hột/trái thấp 40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng
giống như cam Sành thương phẩm; năng suất khá cao (20-25kg/cây/năm, cây
3 năm tuổi) (Trần Thị Oanh Yến và ctv., 2013)
Dòng cam Sành không hột này đã được Hội đồng công nhận giống Cục
Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận tạm thời là
giống cây trồng mới để sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và
miền Đông Nam bộ với tên gọi dòng cam Sành LĐ6 (Trần Thị Oanh Yến và
ctv., 2013).
Từ dòng cam Sành LĐ6, Viện Cây ăn quả miền Nam đã vi ghép tạo cây
sạch bệnh (S0) đang được lưu giữ trong nhà lưới chống côn trùng, thời gian tới
giống LĐ6 sẽ được Viện Cây ăn quả miền Nam cung cấp cho các nhà vườn
Theo Spiegel-Roy and Goldschimidt (1996), sự sinh hạt phấn trải qua hai
bước:
- Bước đầu tiên là sự phát sinh tiểu bào tử. Mỗi tế bào mẹ tiểu bào tử
lưỡng bội phân chia giảm nhiễm, sinh ra bốn tiểu bào tử đơn bội, mỗi tiểu bào
tử đó sẽ phát triển thành một hạt phấn duy nhất.
- Bước hai là sự phát sinh giao tử, trong đó các tiểu bào tử phân hóa
thành các hạt phấn hoạt động. Hạt phấn chín có liên quan tới sự phân chia
nguyên nhiễm của mỗi tiểu bào tử đơn bội. Khi hạt phấn chín bao phấn thường
có màu vàng sáng.
1.6.2 Bầu noãn, tiểu noãn, sự sinh sản noãn và túi phôi
1.6.2.1 Cấu tạo bầu noãn
Theo Hà Thị Lệ Ánh (2000), bầu noãn có cấu tạo như sau:
11