BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN BÁ PHÚ
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT
VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI TH ỰC VẬT
CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Cần Thơ - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN BÁ PHÚ
KHẢO SÁT ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT
VÀ ĐẶC ĐIỂM H ÌNH THÁI TH ỰC VẬT
CỦA QUÝT ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Chuyên ngành: Khoa học Cây trồng
Mã số: 62.62.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS. TS. NGUYỄN BẢO VỆ
Cần Thơ - 2013
iii
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận án
v
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát đặc tính không hột và đặc điểm hình thái thực vật của quýt
Đường không hột ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện nhằm mục tiêu: (i)
Tìm hiểu đặc điểm nhận diện và mối quan hệ của hai cây quýt Đường không hột với
nhau và với cây quýt Đường có hột; (ii) Xác định nguyên nhân không hột của hai
cây quýt Đường không hột; (iii) Đánh giá sự ổn định của đặc tính không hột theo
thời gian, ở ba vùng canh tác thuộc ĐBSCL, trên ba thế hệ tháp và trên các gốc tháp
khác nhau; (iv) Tìm hiểu khả năng cho năng suất và chất lượng của quýt Đường
không hột ở ĐBSCL. Tổng cộng có 8 khảo sát và 5 thí nghiệm được thực hiện tại
Lai Vung - Đồng Tháp, trường Đại Học Cần Thơ - Thành phố Cần Thơ, Trà Ôn -
Vĩnh Long từ năm 2007 - 2011. Vật liệu chính là hai cây quýt Đường không hột
được phát hiện trong quần thể quýt Đường có hột ở ĐBSCL.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Đặc điểm hình thái thực vật về cây, thân
cành, lá, hoa và trái của hai cây quýt Đường không hột là giống nhau và không khác
với cây quýt Đường có hột. Có thể nhận diện được hai cá thể quýt Đường không hột
bằng kỹ thuật RAPD với dấu phân tử DNA. Hai cây quýt Đường không hột có mối
quan hệ gần gũi với nhau và gần với quýt Đường có hột; (ii) Đặc điểm tiểu noãn
phát triển muộn là nguyên nhân tạo trái hoàn toàn không hột của hai cây quýt
Đường không hột; (iii) Đặc tính hoàn toàn không hột được duy trì ổn định theo thời
gian, trong điều kiện trồng xen và có thụ phấn chéo với các giống cam quýt khác, ở
ba vùng canh tác khác nhau của ĐBSCL, ở ba thế hệ tháp và trên ba loại gốc tháp
khác nhau (cam Mật, chanh Tàu và Hạnh); (iv) Quýt Đường không hột có khả năng
cho năng suất và chất lượng tốt ở ĐBSCL.
Từ khóa: quýt Đường, không hột, tiểu noãn, phát triển, ổn định, hình thái, RAPD, dấu
phân tử, gốc tháp, thế hệ, cam Mật, đồng bằng sông Cửu Long …
vi
SUMMARY
Thesis “Study of the seedless characteristic and morphological
characteristics of the seedless Duong mandarin in the Mekong Delta” was carried
Trang phụ bìa ii
Lời cam đoan iii
Trang cảm tạ iv
Tóm lược v
Summary vi
Mục lục vii
Danh mục ký hiệu, chữ viết tắt ix
Danh mục bảng x
Danh mục hình xii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUÝT ĐƯỜNG 4
1.1.1 Nguồn gốc 4
1.1.2 Phân loại 4
1.1.3 Sơ lược về quýt Đường 5
1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THỰC VẬT QUÝT ĐƯỜNG 6
1.2.1 Đặc điểm rễ 6
1.2.2 Đặc điểm thân 6
1.2.3 Đặc điểm lá 8
1.2.4 Đặc điểm hoa 8
1.2.5 Đặc điểm trái 9
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA HẠT PHẤN VÀ TIỂU NOÃN CAM QUÝT 11
1.3.1 Đặc điểm của hạt phấn 11
1.3.2 Đặc điểm của tiểu noãn 12
1.4 SỰ THỤ PHẤN VÀ THỤ TINH Ở CAM QUÝT 14
1.4.1 Sự thụ phấn 14
1.4.2 Sự thụ tinh 18
1.5 ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT Ở CAM QUÝT 20
1.5.1 Trinh quả sinh 23
1.5.2 Nguyên nhân không hột ở cam quýt 26
3.1.4 Đặc điểm trái 63
3.1.5 Xác định mối quan hệ di truyền bằng dấu phân tử DNA 66
3.2 ĐẶC ĐIỂM HẠT PHẤN VÀ TIỂU NOÃN CỦA QUÝT ĐƯỜNG
KHÔNG HỘT 72
3.2.1 Đặc điểm của hạt phấn 72
3.2.2 Đặc điểm của tiểu noãn 76
3.2.3 Thảo luận về nguyên nhân không hột 88
3.3 SỰ ỔN ĐỊNH CỦA ĐẶC TÍNH KHÔNG HỘT 91
3.3.1 Sự ổn định đặc tính không hột theo thời gian 91
3.3.2 Sự ổn định đặc tính không hột theo vùng canh tác 92
3.3.3 Sự ổn định của đặc tính không hột theo thế hệ 96
3.3.4 Sự ổn định đặc tính không hột theo gốc tháp 100
3.3.5 Thảo luận về sự ổn định của đặc tính không hột 104
3.4 KHẢ NĂNG CHO NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA QUÝT
ĐƯỜNG KHÔNG HỘT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 106
3.4.1 Sự sinh trưởng 106
3.4.2 Năng suất 110
3.4.3 Chất lượng 113
Chương 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 115
4.1 Kết luận 115
4.2 Đề nghị 115
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ……117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC
ix
CHỮ VIẾT TẮT
DNA
Deoxyribo Nucleic Acid
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
58
3.6
Kích thước một số bộ phận của hoa quýt Đường không hột
59
3.7
Kích thước và số nhị hoa của quýt Đường không hột
59
3.8
Thời gian từ có nụ đến khi hoa nở và từ hoa nở đến hoa tàn của quýt
Đường không hột
60
3.9
Chiều dài (mm) hoa quýt Đường không hột theo thời gian
61
3.10
Đường kính (mm) hoa quýt Đường không hột theo thời gian
62
3.11
Tỷ số chiều dài/ đường kính hoa quýt Đường không hột theo thời gian
63
3.12
Đặc tính bên ngoài trái quýt Đường không hột
63
3.13
Kích thước và trọng lượng của trái quýt Đường không hột
65
3.14
Chiều dày vỏ, số múi và số túi dầu/cm
2
của trái quýt Đường không hột
không hột
81
3.23
Tỷ lệ (%) nướm nhụy hiện diện ống phấn ở thời điểm 3 ngày sau khi
thụ phấn bởi những cách thụ phấn khác nhau
84
3.24
Tỷ lệ (%) vòi nhụy (phần trên) hiện diện ống phấn ở thời điểm 3 ngày
xi
sau khi thụ phấn bởi những cách thụ phấn khác nhau
84
3.25
Tỷ lệ (%) vòi nhụy (phần dưới) hiện diện ống phấn ở thời điểm 3 ngày
sau khi thụ phấn bởi những cách thụ phấn khác nhau
84
3.26
Tỷ lệ (%) bầu noãn hiện diện ống phấn ở thời điểm 3 ngày sau khi thụ
phấn bởi những cách thụ phấn khác nhau
85
3.27
Số hột chắc/trái của quýt Đường không hột với cách thụ phấn khác
nhau
87
3.28
Số hột lép/trái của quýt Đường không hột với cách thụ phấn khác
nhau
87
3.29
Số hột chắc/trái của quýt Đường không hột theo thời gian
91
Phân biệt hột chắc (1) và hột lép (2) trong trái quýt Đường
45
3.1
Đặc tính thân cành của quýt Đường không hột
54
3.2
Lá của quýt Đường không hột
56
3.3
Hoa của quýt Đường không hột
58
3.4
Dạng trái quýt Đường không hột
64
3.5
Phổ điện di sản phẩm PCR với mồi A13 của quýt Đường không hột
67
3.6
Phổ điện di sản phẩm PCR với các mồi OPH13, SO15 và SN20 của
quýt Đường không hột
67
3.7
Phổ điện di sản phẩm PCR với các mồi A02, OPH18 và SN06 của
quýt Đường không hột
69
3.8
Giản đồ nhánh của quýt Đường không hột
71
3.9
Tỷ lệ hạt phấn nẩy mầm (%) của quýt Đường không hột
phấn khác nhau của quýt Đường không hột; độ phóng đại 100
lần; mũi tên màu trắng chỉ ống phấn
86
3.18
Hột trong trái quýt Đường không hột với cách thụ phấn khác nhau
88
3.19
Phẫu diện cắt ngang bầu noãn hoa nở của quýt Đường không hột ở 3
vùng canh tác, độ phóng đại 100 lần
93
3.20
Phẫu diện cắt ngang bầu noãn hoa 3 ngày sau nở (hoa tàn) của quýt
xiii
Đường không hột ở 3 vùng canh tác, độ phóng đại 100 lần
94
3.21
Phẫu diện cắt ngang trái quýt Đường không hột khoảng 4 tháng tuổi
được trồng ở 3 vùng canh tác
95
3.22
Phẫu diện cắt ngang bầu noãn hoa nở của quýt Đường không hột ở
3 thế hệ tháp, độ phóng đại 100 lần
97
3.23
Phẫu diện cắt ngang bầu noãn hoa 3 ngày sau nở (hoa tàn) của
quýt Đường không hột ở 3 thế hệ tháp, độ phóng đại 100 lần
98
3.24
Phẫu diện cắt ngang trái khoảng 4 tháng tuổi qua 3 thế hệ tháp của
quýt Đường không hột
ưa chuộng. Trên cam quýt, trái không hột hoặc ít hột thường do giống trồng có
nhiễm sắc thể là tam bội, do sự bất dục đực hoặc noãn bất dục hoặc do sự bất tương
hợp trong đó có sự bất tương hợp do tự thụ phấn (Jackson và Futch, 1997; Jackson
và Gmitter, 1997) [72] [71].
Trên thế giới, hầu hết các giống cam quýt trồng được chọn lọc từ những đột
biến tự nhiên và chỉ một tỷ lệ nhỏ được tạo ra từ các chương trình lai tạo. Trên thị
trường thế giới cũng đã xuất hiện nhiều loại cam quýt không hột được chọn lọc từ
đột biến tự nhiên như: cam Navel, quýt Satsuma (Vũ Công Hậu, 1996) [40] và
một số loại cây không hột trong nước đã được phát hiện như: bưởi Năm Roi, cam
Mật không hột (Trần Thị Oanh Yến và ctv., 2005) [35].
Cam sành và quýt Đường thích nghi tốt ở điều kiện đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL), cây cho năng suất cao, phẩm chất ngon, bán được giá nên được
người dân trồng nhiều, nhưng trái có nhiều hột đã hạn chế phần nào việc tiêu thụ
trái tươi. Trong các nghiên cứu về trái cam Sành và quýt Đường đã ghi nhận được
nhiều trường hợp có trái không hột hay ít hột (nhỏ hơn 5 hột). Do đó, trường Đại
Học Cần Thơ đã hợp tác với Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Vĩnh Long khảo sát truy
tìm cây cam Sành và quýt Đường không hột ở ĐBSCL. Kết quả đề tài đã phát hiện
được hai cây quýt Đường không hột trong quần thể quýt Đường có hột ở xã Tân
Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Nguyễn Bảo Vệ và ctv., 2007) [13].
Vì vậy, đề tài “Khảo sát đặc tính không hột và đặc điểm hình thái thực vật
của quýt Đường không hột ở đồng bằng sông Cửu Long” đã được thực hiện, để có
cơ sở phát triển một giống quýt Đường không hột mới ở ĐBSCL.
2
* Mục tiêu nghiên cứu
(i) Tìm hiểu đặc điểm nhận diện và mối quan hệ của hai cây quýt Đường
không hột với nhau và với cây quýt Đường có hột.
(ii) Xác định nguyên nhân không hột của hai cây quýt Đường không hột.
(iii) Đánh giá sự ổn định của đặc tính không hột theo thời gian, ở ba vùng
canh tác thuộc ĐBSCL, trên ba thế hệ tháp và trên các gốc tháp khác nhau.
(iv) Tìm hiểu khả năng cho năng suất và chất lượng của quýt Đường không
Hai cá thể quýt Đường không hột được phát hiện ở ĐBSCL.
+ Phạm vi nghiên cứu
- Khảo sát trên cây mẹ và đời con được tháp bằng mắt tháp.
- Trong 3 vùng canh tác cam quýt (Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long) ở
ĐBSCL.
- Trong thời gian từ 2007 đến 2011.
- Khảo sát đặc điểm hình thái thực vật, mối quan hệ di truyền bằng kỹ thuật
RAPD, đặc điểm của hạt phấn và tiểu noãn, sự ổn định đặc tính không hột (theo
thời gian, ở ba vùng canh tác, ở ba thế hệ tháp và trên ba gốc tháp khác nhau (cam
Mật, chanh Tàu và Hạnh), khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng trái của
quýt Đường không hột.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ QUÝT ĐƯỜNG
1.1.1 Nguồn gốc
Theo Vũ Công Hậu (1996) [40], khó xác định được nguồn gốc cam quýt vì
có rất nhiều chủng loại và đó là những cây trồng lâu năm có diện tích phân bố rộng.
Cam quýt được đề cập đầu tiên trong văn học Trung Quốc năm 2200 trước công
nguyên (Purdure University, 2005) [108]. Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam
quýt có nguồn gốc từ vùng Đông Nam Châu Á, vùng xuất xứ của giống thuộc chi
Citrus bắt đầu từ Đông Ấn Độ kéo dài sang miền Nam của Trung Quốc, qua Nhật
Bản xuống đến Châu Úc (Trần Thế Tục và ctv., 1998) [32]. Các giống quýt hàng
hoá có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam Châu Á, riêng quýt
Satsuma có nguồn gốc hoàn toàn ở Nhật Bản (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,
2004) [12].
Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999) [38] cho rằng cây quýt Đường không biết
được trồng ở đồng bằng sông Cửu Long từ bao giờ và có phải nhập từ Thái Lan hay
không, vì quýt Đường trước đây còn được gọi là quýt Xiêm do trái lúc còn non ít
chua nên người dân Chợ Lách chở cây giống đem bán gọi là quýt Đường. Ở Thái
Lan, trái quýt giống như quýt Đường của ta được ép bán nước quả tươi ở chợ rất
mỗi cây có thể đạt 25 kg/năm. Cây có thể cho ra đọt non rải rác quanh năm tùy tình
trạng dinh dưỡng của cây và ẩm độ đất. Cây trồng bằng hột có gai, nhưng cây tháp
có rất ít hoặc không gai. Người dân thường xiết nước cho ra hoa tập trung vào
khoảng tháng 1 - 3 đầu mùa khô, thời điểm ra hoa lúc này thường bất lợi là khi trái
lớn rơi vào thời điểm mưa dầm và nước ngầm trong đất thường dâng cao, đất thiếu
thoáng khí ảnh hưởng đến bộ rễ, làm cây lấy không đủ dinh dưỡng để nuôi trái nên
6
trái thường rụng nhiều. Thịt trái có màu cam, mềm, con tép lớn. Lượng nước quả
nhiều, có màu cam, thơm, ngon. Nước quả có độ brix là 9,0% và trị số pH là 3,8 nên
có giá trị cao để làm nước giải khát. Tinh dầu ở vỏ trái ít the và ít đắng nên có thể
ép nguyên cả trái mà không làm ảnh hưởng đến phẩm chất nước quả. Ở ĐBSCL,
quýt Đường thường được dùng để ăn tươi vì phẩm chất thơm ngon, có thể lột vỏ và
tách múi bằng tay dễ dàng, được dân ưa chuộng và trồng rải rác khắp nơi trong
vùng trồng cây cam quýt. Tuy nhiên trái có nhiều hột, vách múi dai nên không đạt
tiêu chuẩn để xuất khẩu trái tươi.
1.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THỰC VẬT QUÝT ĐƯỜNG
1.2.1 Đặc điểm của rễ
Theo Trần Thế Tục và ctv. (1998) [32], rễ cam quýt phân bố nông, rễ bất
định phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt, ở tầng sâu 10 - 30 cm, hoạt
động mạnh thời kỳ 1 - 8 năm tuổi sau trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém.
Rễ cam quýt thường mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt, sự
phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất (Nguyễn
Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) [12].
Vũ Công Hậu (1996) [40] cho rằng rễ cam quýt thuộc rễ cọc, thời gian đầu
chủ yếu là rễ cám, phát triển trên tầng đất mặt. Loài cây làm gốc ghép có ảnh hưởng
đến sự phân bố của bộ rễ như gốc cam Ba Lá có rễ ăn cạn. Cùng một gốc ghép
nhưng khi ghép các giống khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự phân bố của rễ, cam
Sunkist ghép trên gốc bưởi có bộ rễ ăn sâu hơn cam Bố Hạ cùng ghép trên gốc
bưởi. Khi trồng bằng cành chiết hay ghép cây trên các gốc ghép sản xuất bằng cách
chiết thì có đến 80% số rễ nằm ở tầng đất mặt.
tạo ra cành mới, từ các cành này tạo ra hoa và quả (Nguyễn Hữu Đống và ctv.,
2003) [15]. Nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cam
8
quýt: phát lộc và sinh cành mới (Hoàng Ngọc Thuận, 1995) [6]. Quýt Đường có thể
ra đọt rải rác quanh năm tùy tình trạng dinh dưỡng của cây và ẩm độ đất (Trần
Thượng Tuấn và ctv, 1999) [38].
1.2.3 Đặc điểm của lá
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1994) [37], lá cam quýt thuộc loại lá đơn
gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá. Hình dạng và kích thước lá thay đổi tùy theo
loài, bưởi có cánh lá lớn, cam ngọt có cánh lá trung bình và thanh yên không có
cánh lá (Coit, 1922) [53]. Hình dáng lá cam quýt rất khác nhau, có thể nhọn đuôi lá
hoặc chẻ lõm (Phạm Văn Duệ, 2005) [24], các loài quýt thường có đuôi lá chẻ lõm
xuống ở phía mút lá (Đường Hồng Dật, 2000 [3]). Nguyễn Văn Luật (2006) [19]
cho rằng lá cam quýt có khía răng cưa, mặt dưới có màu xanh lợt, cuống lá có cánh
nhỏ.
Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999) [38] cho rằng lá quýt Đường thuộc lá đơn,
không rụng theo mùa, phiến lá có màu xanh, dạng lá hình mác. Chiều dài lá trưởng
thành khoảng 8,4 cm và chiều rộng lá khoảng 4,2 cm. Cuống lá ngắn với chiều dài
trung bình 3,3 mm, cánh lá hẹp đôi khi không rõ. Theo Phạm Hoàng Hộ (2003)
[22], lá quýt Đường có cuống không cánh, phiến lá có nhiều túi tinh dầu dễ thấy.
1.2.4 Đặc điểm của hoa
Hoa cam quýt thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách lá, thường là hoa
lưỡng tính (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994; Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,
2004; Trần Văn Hâu, 2009) [37] [12] [39]. Trần Thế Tục và ctv. (1998) [32] nhận
thấy mỗi hoa của nhóm cam quýt biến động từ 3 - 7 cánh hoa, có màu trắng, ngoại
trừ ở loài chanh có màu tím ở phía ngoài. Hoa đơn thường chỉ có một hoa ở đầu
cành. Nhóm hoa chùm trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và trên ngọn cành có 1 hoa,
thông thường có từ 3 - 7 hoa trên một cành, một số cành hoa không có lá, một chùm
có 3 - 5 hoa.
Randhawa và ctv. (1961) [110] cho rằng phát hoa của nhóm cam quýt thuộc
10
trái có thể dễ tách khỏi thịt trái như quýt, nhưng cũng có khi rất khó tách (Trần Thế
Tục và ctv., 1998) [32]. Theo Goldschmidt (1988) [62], vỏ trái cam quýt bao gồm
phần bên ngoài có màu sắc gọi là ngoại quả bì chứa lớp cutin và một vài tế bào nhu
mô dày, phía trong của ngoại quả bì có chứa nhiều túi tinh dầu. Trong giai đoạn đầu
phát triển trái, ngoại quả bì có màu xanh đậm và chiếm từ 60 - 90% thể tích trái.
Khi trái gần chín diệp lục tố dần dần biến mất và lục lạp chuyển thành sắc lạp giàu
thể carotene và ngoại quả bì trở nên mỏng hơn.
Theo Phạm Hoàng Hộ (2003) [22], quýt Đường có trái tròn, to hơi dẹp, đáy
có núm, quả bì mỏng. Trái cao trung bình 5,5 cm và đường kính trái 6,2 cm, trọng
lượng trái khoảng 100 - 120 g (Trần Thế Tục và ctv., 1998) [32].
Trái quýt Đường khi chín vỏ trái có màu vàng tươi, láng, vỏ mỏng (1,5 mm)
và dai, vỏ trái có trọng lượng khoảng 15 g và chiếm 13,2% trọng lượng trái, tinh
dầu ở vỏ trái ít the và ít đắng. Mỗi trái trung bình có khoảng 10,7 múi, dễ tách rời
nhau, có thể lột vỏ và tách múi bằng tay dễ dàng. Tuy nhiên vách múi dai, thịt trái
có màu cam, mềm, con tép lớn. Lượng nước trái nhiều, có màu cam, thơm, ngon.
Nước trái có độ Brix là 9,0% và trị số pH là 3,6 (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999)
[38].
Theo Trần Thượng Tuấn và ctv. (1999) [38], quýt Đường trung bình có 13,2
hột/trái, nặng 2,8 g và chiếm 2,5% trọng lượng trái, hột nhiều phần nào ảnh hưởng
đến chất lượng của trái. Hột màu vàng nhạt, dạng cầu, dài 11,9 mm, rộng 8,2 mm,
vỏ hột láng, tử diệp và phôi đều có màu trắng xanh và mỗi hột trung bình có khoảng
2 phôi.
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000) [7], hột là cơ quan sinh sản được hình thành
do kết quả thụ tinh của tế bào hạt phấn với tế bào noãn. Hột phát triển từ noãn vì
vậy có thể xem hột là noãn đã chín (Nguyễn Bá, 2007) [10]. Hột noãn tâm phát sinh
từ các tế bào cái, tế bào mẹ và khi trồng mọc cây con hoàn toàn giống cây mẹ (Tôn
Thất Trình, 2000) [28].
11
Manner và ctv. (2006) [84] cho rằng hột cam quýt đa phôi, màu trắng đến
bước:
- Bước đầu tiên trong sự phát triển hạt phấn là sự phát sinh tiểu bào tử. Mỗi
tế bào mẹ tiểu bào tử lưỡng bội phân chia giảm nhiễm, sinh ra bốn tiểu bào tử đơn
bội, mỗi tiểu bào tử đó sẽ phát triển thành một hạt phấn duy nhất.
- Bước thứ hai là sự phát sinh tiểu giao tử, trong đó các tiểu bào tử phân hóa
thành các hạt phấn hoạt động. Hạt phấn chín có liên quan tới sự phân chia nguyên
nhiễm của mỗi tiểu bào tử đơn bội. Khi hạt phấn chín bao phấn thường có màu vàng
sáng.
1.3.2 Đặc điểm của tiểu noãn
Theo Hà Thị Lệ Ánh (2005) [5], bầu noãn có cấu tạo như sau:
- Bên ngoài là thành bầu noãn được tạo do hai lớp biểu bì ngoài và biểu bì
trong; giữa hai lớp biểu bì là nhu mô của bầu noãn chứa một đến ba bó libe gỗ.
- Bên trong là xoang rỗng gọi là buồng của bầu noãn. Bầu noãn là nơi chứa
tiểu noãn.
Noãn được sản sinh và được bảo vệ trong nhụy. Nhụy có cấu trúc giống như
một cái bình chứa một lá noãn (tâm bì) hoặc nhiều lá noãn hợp lại, noãn là nơi sản
xuất ra tế bào, noãn cũng là nơi thụ tinh. Nhụy gồm có ba phần: nướm nhụy, vòi
nhụy và bầu noãn ở dưới đáy của nhụy; sự phát sinh đại bào tử xảy ra trong noãn
(Nguyễn Đình Dậu, 1997) [14].
Spiegel-Roy và Goldschmidt (1996) [125] cho rằng tiểu noãn của cam quýt
có kiểu đính dạng noãn ngược, với lỗ noãn đối diện với trục của bầu noãn. Tiểu
noãn chín bao gồm cuống noãn, phôi tâm, túi phôi có tám nhân và hai lớp vỏ tiểu
noãn.