TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM SINH HỌC
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ TƢƠNG QUAN CHIỀU DÀI
TRỌNG LƢỢNG MỘT SỐ LOÀI CÁ KINH TẾ HỌ
CÁ BỐNG ELEOTRIDAE VÀ GOBIIDAE
Ở HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành SƢ PHẠM SINH – KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Cán bộ hƣớng dẫn
ThS. ĐINH MINH QUANG
Sinh viên thực hiện
LÝ VĂN TRỌNG
Lớp: Sƣ phạm Sinh – KTNN. K36
MSSV: 3108108
NĂM 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƢ PHẠM
BỘ MÔN SƢ PHẠM SINH HỌC
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ TƢƠNG QUAN CHIỀU DÀI
TRỌNG LƢỢNG MỘT SỐ LOÀI CÁ KINH TẾ HỌ
CÁ BỐNG ELEOTRIDAE VÀ GOBIIDAE
Ở HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Sinh K38 đã động viên và giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn chú Giang và thầy Miền Cù Lao Dung – Sóc Trăng
đã giúp tôi trong quá trình thu mẫu.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
i
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
TÓM LƢỢC
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi hội tụ, giao thoa giữa nước ngọt, mặn và
lợ đã tạo nên sự đa dạng thành phần loài thủy hải sản, đặc biệt là các loài cá bống
họ Eleotridae và Gobiidae. Trong thời gian gần đây, nguồn lợi thủy sản ở khu vực
này đang suy giảm đáng kể do khai thác quá mức. Vì vậy, nghiên cứu về đa dạng
loài cá bống trắng và đen được thực hiện ở Cù Lao Dung – Sóc Trăng từ tháng
08/2013 đến tháng 01/2014 để xác định thành phần loài và mối tương quan chiều
dài trọng lượng một số loài cá kinh tế thuộc họ cá bống Eleotridae và Gobiidae.
Kết quả thu được 603 cá thể, xác định được thành phần loài cá bống trắng và cá
bống đen ở Sóc Trăng gồm 28 loài thuộc 19 giống, 4 phân họ và 2 họ (Eleotridae
và Gobiidae). Các chỉ số sinh học: Shannon, Margalef và Pielou tương đối cao (d
= 3,4417, J’ = 0,9117, H ' = 2,5232), chỉ số ưu thế Simpson thấp ( λ = 0,0845) cho
thấy độ đa dạng về thành phần loài cá thuộc 2 họ Eleotridae và Gobiidae ở Sóc
Trăng tương đối phong phú, sự phân bố các cá thể tương đối đồng đều qua các
tháng, khả năng xuất hiện loài ưu thế rất thấp. Thành phần loài cá họ Eleotridae
2. Mục tiêu đề tài ............................................................................................................. 2
CHƢƠNG II. LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU ......................................................................... 4
1. Tổng quan về đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu ...................................................... 4
1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................................ 4
1.2. Địa hình ................................................................................................................ 4
1.3. Khí hậu ................................................................................................................. 4
1.4. Sông ngòi .............................................................................................................. 4
1.5. Tài nguyên thiên nhiên ......................................................................................... 5
2. Tổng quan về đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Sóc Trăng ....................................... 5
2.1. Đơn vị hành chính và đặc điểm dân số ................................................................. 5
2.2. Đời sống kinh tế - xã hội ...................................................................................... 6
3. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 6
3.1. Phân bộ Gobioidei ................................................................................................ 6
3.2. Đặc điểm họ Eleotridae và Gobiidae .................................................................... 7
3.3. Sự đa dạng thành phần loài họ Eleotridae và Gobiidae ........................................ 8
4. Mối tương quan chiều dài và trọng lượng cá ............................................................. 10
CHƢƠNG III. PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................... 14
1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................................ 14
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 14
2.1. Thời gian nghiên cứu .......................................................................................... 14
2.2. Địa điểm nghiên cứu ........................................................................................... 14
3. Phương tiện và phương pháp nghiên cứu .................................................................. 15
3.1. Phương tiện ......................................................................................................... 15
3.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 15
3.2.1 Phương pháp thu mẫu cá .............................................................................. 15
3.2.2 Xử lý và bảo quản mẫu ................................................................................. 16
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
iii
iv
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Ý nghĩa của tham số tăng trưởng (hệ số mũ) b ..................................................... 19
Bảng 2: Danh sách các loài cá họ Eleotridae ở Sóc Trăng ................................................. 22
Bảng 3: Danh sách các loài cá họ Gobiidae ở Sóc Trăng ................................................... 27
Bảng 4: Phương trình tương quan chiều dài và trọng lượng một số loài cá bống họ
Eleotridae và Gobiidae ở Sóc Trăng ................................................................................... 49
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
v
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Đặc điểm hình thái họ Eleotridae (Nelson, 2006) .................................................. 8
Hình 32: Cá bống (Oxuderces dentatus) ........................................................................... VI
Hình 33: Cá bống vảy cằm (Aulopareia janetae) .............................................................. VI
Hình 34: Cá bống mít (Stigmatogobius pleurostigma) ...................................................... VI
Hình 35: Cá bống cát trắng (Glossogobius sparsipapillus) ............................................... VI
Hình 36: Cá kèo vảy nhỏ (Pseudapocryptes lanceolata) ................................................ VII
Hình 37: Cá bống xệ (Stenogobius mekongensis) ........................................................... VII
Hình 38: Cá bống lá tre (Acentrogobius viridipunctatus) ............................................... VII
Hình 39: Cá thòi lòi (Periophthalmodon scholosseri)..................................................... VII
Hình 40: Cá bống sao (Boleophthalmus boddarti) ......................................................... VIII
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
vi
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Hình 41: Cá thòi lòi chấm cam (Periophthalmus chrysospilos) ..................................... VIII
Hình 42: Cá bống xệ vảy to (Oxyurichthys sp.) ............................................................. VIII
Hình 43: Cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) ....................................................... VIII
Hình 44: Cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus).......................................................... IX
Hình 45: Cá bống cấu (Butis humeralis) ........................................................................... IX
Hình 46: Cá bống trân (Butis butis) ................................................................................... IX
Hình 47: Cá bống lưng cao (Butis koilomaton) ................................................................. IX
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
1. Đặt vấn đề
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những vùng trọng điểm
kinh tế của cả nước với diện tích tự nhiên 39.734 km2. ĐBSCL không chỉ là vựa
lúa lớn nhất của của cả nước mà còn là vựa cá tôm trù phú của Việt Nam. ĐBSCL
có vị trí thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội, có tiềm năng lớn nhất để phát
triển công nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.
Trong nuôi trồng thủy sản, toàn vùng có diện tích nuôi thủy sản nước ngọt, nước
mặn trên 685.800 ha, sản lượng gần 1 triệu tấn/năm (Nguyễn Xuân Hiền, 2006).
Sóc Trăng là tỉnh ven biển ở ĐBSCL, nằm ở hạ lưu sông Hậu, có diện tích
đất tự nhiên khoảng 33.1176,29 ha (chiếm 8,33% diện tích tự nhiên của vùng
ĐBSCL). Nơi đây được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi, kênh rạch
chằng chịt, quanh năm được phù sa bồi đắp, làm cho đất đai màu mỡ thích hợp cho
việc trồng lúa, cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản – và là vùng cung cấp các giống
lúa đặc sản cho vùng và các tỉnh lân cận cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới
(Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Sóc Trăng, 2012). Vùng này còn là nơi hội tụ,
giao thoa giữa nước ngọt, mặn và lợ đã góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về
thành phần loài thủy hải sản của vùng (661 loài cá, 35 loài tôm trong đó có cả các
loài tôm hùm, tôm rồng, 23 loài mực). Ngoài ra, Sóc Trăng còn có nhiều tiềm năng
khác như phát triển du lịch sinh thái và phát triển cảng biển - góp phần thúc đẩy sự
phát triển của vùng cũng như cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân (Cục
Thống kê Sóc Trăng, 2012).
Hiện nay, do khai thác quá mức với nhiều phương tiện khác nhau, đặc biệt
là cào điện và siệt điện đã và đang làm cho nguồn lợi thủy sản bị suy giảm một
cách đáng kể và có nguy cơ cạn kiệt bao gồm cả họ cá bống trắng và bống đen, hai
họ cá có độ đa dạng loài cao thuộc phân bộ Cá Bống. Hai họ cá này phân bố rộng ở
cả môi trường nước ngọt, mặn và cả nước lợ, chúng có nhiều loài có giá trị kinh tế
cao như: cá bống tượng, cá bống cát, cá thòi lòi biển, cá kèo đồng nhưng sản lượng
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
giữa chiều dài và trọng lượng một số loài cá bống thuộc hai họ (Eleotridae và
Gobiidae), mà còn cung cấp những dẫn liệu cần thiết giúp cho chính quyền địa
phương xây dựng chiến lược khai thác và bảo vệ hợp lý nguồn lợi thủy sản của vùng.
2. Mục tiêu đề tài
Định loại các loài cá bống họ Gobiidae và Eleotridae thu được dựa vào đặc
điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu.
Xác định sự phân bố (định tính) cá các loài cá bống họ Gobiidae và
Eleotridae theo hệ mùa, hệ sinh thái (sông và bãi bồi) ở khu vực nghiên cứu.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
2
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Xác định các chỉ số sinh học như: chỉ số đa dạng (Shannon), chỉ số ưu thế
(Simpson), chỉ số Chỉ số phong phú (Margalef) và chỉ số đồng đều (Pielou).
Thực hiện bộ mẫu ngâm bổ sung vào bộ sưu tập mẫu cá của phòng thí
nghiệm, phục vụ công tác dạy và học của giảng viên và sinh viên.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
3
kiện khí hậu thuận lợi cho sinh hoạt và có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng
với nhiều loại cây trồng nhiệt đới, thêm vào đó với nền nhiệt, ẩm tương đối cao có
tác động mạnh đến thúc đẩy tăng trưởng sinh khối, tăng năng suất của các cây
trồng (Cục Thống kê Sóc Trăng, 2012).
1.4. Sông ngòi
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
4
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Sóc Trăng là khu vực có hệ thống sông ngòi chằng chịt với 2 cửa sông lớn
Trần Đề và Định An. Nơi đây chịu ảnh hưởng của thủy triều ngày lên xuống 2 lần,
mực thủy triều dao động từ 0,4 - 1 m. Chế độ thủy triều không chỉ gắn liền với các
hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương mà còn mang lại nguồn lợi
thủy hải sản phong phú bao gồm cá đáy, cá nổi và tôm (661 loài cá, 35 loài tôm, 23
loài mực) (Cục Thống kê Sóc Trăng, 2012; Lê Thông và ctv., 2011).
1.5. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất: Đất đai có độ màu mỡ cao thích hợp cho việc trồng lúa, cây
công nghiệp cũng như các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng. Ngoài ra, Sóc
Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú, Cù Lao Dung chạy dài ra
tận biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí mát mẻ, trong lành là điểm lý tưởng
cho việc phát triển du lịch sinh thái (Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Sóc
Trăng, 2012).
1992, bằng 10.874,3 tỷ đồng. Kế hoạch năm 2012, GDP là 14.098,6 tỷ đồng, tăng
12% so với năm 2011. GDP bình quân đầu người năm 2011 (theo giá cố định
1994) là 881 USD, gấp 6,3 lần so với năm 1992 (Cục Thống kê Sóc Trăng, 2012).
Nông nghiệp và thủy sản: Nhờ có lợi thế về địa lý, điều kiện đất đai cũng
như nguồn nước tưới cho phép Sóc Trăng phát triển một nền nông nghiệp đa dạng.
Tuy nhiên, sản phẩm chủ lực của vùng là lúa với sản lượng năm 2010 xấp xỉ gần 2
triệu tấn, năng suất lúa tăng từ 5,1 tấn/ha lên 5,6 tấn/ha, diện tích cây đặc sản hành
tím tăng từ 4,6 nghìn ha lên gần 6,6 nghìn ha. Bên cạnh đó, thủy sản cũng là là
ngành kinh tế mũi nhọn quan trọng của vùng có thể phát triển ở cả 3 vùng sinh thái
nước ngọt, mặn, lợ. Năm 2010, sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 168
nghìn tấn. Giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 11.402,5 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu
thủy sản đạt 393,4 triệu USD chiếm 91% tổng giá trị các mặt hàng xuất khẩu của
tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Sóc Trăng, 2012).
Công nghiệp: Các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh tiếp tục phát triển,
nâng cao cả về chất lượng và số lượng như: tôm đông, chả cá, đường kết, gạch
nung. Năm 2011, sản lượng tôm đông lạnh là 50.359 tấn, đường kết 40.956 tấn,
gạch nung các loại 58.853 ngàn viên (Cục Thống kê Sóc Trăng, 2012).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh đã góp phần nâng cao phần nào chất
lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh những thuận lợi do điều kiện tự nhiên
của vùng mang lại, thì cũng có những khó khăn và thách thức đối với người dân
như: sự xâm nhập mặn vào mùa khô, các sông rạch giáp biển thì nhiễm mặn quanh
năm nên không thể phục vụ tưới cho nông nghiệp. Trong những năm gần đây, ở
Sóc Trăng cũng thường xảy ra lốc xoáy gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất
của người dân (Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Sóc Trăng, 2012).
3. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Phân bộ Gobioidei
Phân bộ cá bống (Goboioidei) trên thế giới có số lượng loài tương đối phong
phú (khoảng 700 loài), phân bố rộng rãi khắp thế giới, sống ở các vùng biển cạn
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
Eleotridae có những đặc điểm nổi bật giúp phân biệt được họ cá này với các họ cá
khác (Hình 1):
1) 2 vây bụng tách biệt;
2) Không có đường bên; thân phủ vảy hoặc không có, có khi chỉ có một
phần thân phủ vảy;
3) 2 vây lưng tách biệt hoặc nối liền với nhau qua màng ở gốc vây, vây lưng
thứ nhất có 6-10 gai, vây thứ 2 có 1 gai và 6-15 tia vây;
4) Dài gốc vây lưng thứ 2 bằng hoặc ngắn hơn dài cuống đuôi; màng mang
không liên tục.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
7
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Hình 1: Đặc điểm hình thái họ Eleotridae (Nelson, 2006)
Khi nghiên cứu họ Gobiidae thì Nguyễn Văn Hảo (2005) và Trần Đắc Định
(2013), tác giả cũng nêu lên những điểm nổi bật để phân biệt chúng với các loài cá
khác cũng như các họ cá có hình thái tương tự như họ Eleotridae (Hình 2):
1) Vây bụng dính liền tạo thành hình đĩa;
2) Không có đường bên; phần lớn không có bóng hơi; thân dẹp bên, phủ vảy
hoặc không;
3) 2 vây lưng tách biệt ở nhiều loài, vây lưng thứ nhất có đến 10 gai (thông
thường có 6 gai);
loài, Eleotridae gồm 2 loài (Võ Văn Phú và ctv., 2012).
Khu hệ cá nước ngọt Nam Bộ (Việt Nam) xác định được 255 loài, 139
giống, 43 họ và 14 bộ. Trong đó, họ Eleotridae gồm 3 giống với 4 loài, họ
Gobiidae 14 loài và 10 giống (giống Pongonobius, Pseudogobius, Acentrogobius,
Oxyurichthys, Aulopareia, Brachygobius, Ctenogobius, Glossogobius, Oligolepis
và Stigmatogobius) (Mai Đình Yên, 1992). Khu hệ cá trên sông MêKông đã mô tả
và thống kê được 18 bộ, 65 họ và 217 loài. Trong đó, thành phần loài cá thuộc hai
họ Eleotridae và Gobiidae cũng tương đối phong phú (họ Eleotridae có 6 giống và
6 loài, họ Gobiidae có 34 giống và 50 loài) (Rainboth, 1996). Khu hệ cá ĐBSCL
xác định được 137 loài và 99 giống, họ Eleotridae và Gobiidae đều có 5 loài
(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Trong khi đó, kết quả nghiên
cứu của Trần Đắc Định (2013) về khu hệ cá ĐBSCL thống kê được 322 loài và 77
họ, họ Eleotridae có 7 loài và 3 giống, Gobiidae có 59 loài và 32 giống, kết quả
nghiên cứu bổ sung thêm dẫn liệu đa dạng cho vùng và cả nước.
Thành phần loài cá ở một số nhánh sông, suối chính chảy vào sông Sài Gòn
thuộc tỉnh Bình Phước gồm 59 loài, xếp trong 40 giống, 20 họ, 8 bộ. Trong đó,
thành phần loài cá họ Eleotridae và Gobiidae tương đối hạn chế (Eleotridae 1 loài,
Gobiidae 3 loài), nguyên nhân có thể do điều kiện môi trường sống không thích
hợp với hai họ cá này. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã bổ sung 8 loài cá mới cho
lưu vực sông Sài Gòn, trong đó có loài Oxyurichthys sp. thuộc họ Gobiidae (Tống
Xuân Tám và Nguyễn Thị Ngọc Chúc, 2011). Khu hệ cá ở hồ Dầu Tiếng, bước đầu
thu thập được 45 giống, 24 họ và 9 bộ. Trong đó, thành phần loài cá hai họ
Eleotridae và Gobiidae tương đối hạn chế (họ Eleotridae 2 loài, họ Gobiidae 2
loài), 1 loài có giá trị kinh tế là Oxyeleotris marmoratus (Tống Xuân Tám, 2007).
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
9
Bộ môn Sinh học
2012). Kết quả điều tra thành phần loài cá bống phân bố ở Sóc Trăng và Bạc Liêu
đã thống kê được 10 loài cá có giá trị kinh tế, trong đó họ Eleotridae có các 4 loài:
Eleotris balia, Butis butis, Oxyeleotris marmaratus, Oxyeleotris urophthalmus; họ
Gobiidae có 6 loài: Oxyurichthys sp., Oxyurichthys microlepis, Glossogobius
giuris,
Pseudapocryptes
lanceolatus,
Parapocryptes
serperaster
và
Boleophthalmus boddarti (Lê Thị Ngọc Thanh, 2010).
4. Mối tƣơng quan chiều dài và trọng lƣợng cá
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
10
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
11
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
khối lượng khác nhau trong từng giai đoạn cá phát triển, giai đoạn còn nhỏ cá tăng
trưởng về chiều dài hơn về khối lượng. Ngược lại, giai đoạn cá lớn tăng trưởng
nhanh về khối lượng hơn chiều dài. Như vậy, sự tương quan chiều dài và trọng
lượng của loài cá này ở Sóc Trăng và Bạc Liêu tương đối chặt chẽ (R2 > 0,7), lần
lượt được thể hiện qua phương trình hồi qui là W= 0,0759L1,4223, W= 0,1729L1,2961
(Trần Hoàng Vũ, 2011).
Kết quả phân tích đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá bống lá tre
Acentrogobius viridipunctatus ở hệ đầm phá Thừa Thiên Huế, cho thấy sự tăng
trưởng về chiều dài và khối lượng của loài cá này có mối tương quan chặt chẽ với
nhau, chiều dài tăng thì khối lượng cũng tăng theo. Tuy nhiên, sự tăng trưởng về
chiều dài và trọng lượng không đồng đều ở các giai đoạn sinh trưởng. Đặc điểm
này của cá phù hợp hợp với tính thích nghi nhiệt đới của các loài cá nhiệt đới. Kết
quả mối tương quan chiều dài và trọng lượng thể hiện qua phương trình hồi qui W=
3.0311 x 10-8L2,7573, R2 = 0,9603 (Lê Thị Nam Thuận và Tông Thị Nga, 2011). Kết
quả nghiên cứu của Trần Đắc Định và ctv (2011) về tập tính di cư của cá kèo
(Pseudapocryptes elongatus) phân bố ở ven biển ĐBSCL, xác định được phương
trình tương quan chiều dài và trọng lượng của loài cá này là W= 0,0003L2,2325, R2=
0,78, chiều dài của cá dao động từ 85 - 181 mm. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng
lại ở phương trình tương quan chiều dài và trọng lượng của cá, chưa nêu bật được
kể (P > 0,05).
Kết quả phân tích mối quan hệ chiều dài và trọng lượng của loài
Periophthalmus barbarus (Linneaus 1766 ) trên sông New Calabar ở Nigeria, xác
định được sự tăng trưởng của loài cá này giữa các tháng với nhau, giữa mùa mưa
và mùa khô có sự khác mhau nhưng không đáng kể (P > 0,05); giữa chiều dài và
trọng lượng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, chiều dài thân cá dao
động từ 4,1 – 11,2 cm (giá trị trung bình là 8,64 ± 1,27 cm), trọng lượng thân dao
động từ 0.70g - 39.62g (giá trị trung bình là 11.16 ± 7.29g) (Chukwu và Deekae,
2010).
Nghiên cứu của Khaironizam và Norma-Rashid (2002) về mối quan hệ
chiều dài và trọng của một số loài cá thuộc phân họ Oxudercinae (họ Gobiidae) ở
các vùng ven biển Selangor - Malaysia, xác định được hệ số tăng trưởng (b) trung
bình của 11 loài cá bống là 2,95 ± 0,302, và sự khác biệt hệ tăng trưởng b giữa các
loài cá không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tăng
trưởng của 11 loài cá ở khu vực nghiên cứu tương đối đồng bộ, chiều dài cá tăng
thì trọng lượng cá cũng tăng theo.
Kết quả các công trình nghiên cứu trên, cho thấy sự tăng trưởng chiều dài và
trọng lượng các loài cá bống có quan hệ mật thiết với nhau (R2 > 0,7; P < 0,05), và
tuân theo quy luật tăng trưởng chung của các loài cá khác (Trần Kiên, 1978). Tuy
nhiên, việc nghiên cứu về sự tương quan chiều dài và trọng lượng cá, đặc biệt là đối
với hai họ cá bống Eleotridae và Gobiidae vẫn còn hạn chế ở khu vực nghiên cứu.
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
13
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Bộ môn Sinh học
Luận văn tốt nghiệp đại học – Khóa 36 (2014)
Trường Đại học Cần Thơ
Hình 3: Bản đồ thu mẫu
(Dấu mũi tên: khu vực thu mẫu)
3. Phƣơng tiện và phƣơng pháp nghiên cứu
3.1. Phƣơng tiện
Xô nhựa, cân điện tử, thước palme, bàn đo cá, kính lúp, máy ảnh, formol
công nghiệp 40%.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu mẫu cá
Việc thu mẫu được tiến hành dựa trên phương pháp của Phạm Nhật và ctv
(2003) (phụ lục 1), cụ thể:
Xác định nơi thu mẫu cá
Mẫu cá dùng để nghiên cứu về thành phần loài họ Gobiidae được thu ở hai
sinh cảnh: sinh cảnh sông Cồn Tròn (Xã An Thạnh 3) và sinh cảnh bãi bồi ven biển
ở hai sinh cảnh: sinh cảnh sông Cồn Tròn (Xã An Thạnh 3) và sinh cảnh bãi bồi
ven biển (Xã An Thạnh Nam) huyện Cù Lao Dung.
Nguyên tắc thu mẫu cá
Chuyên ngành Sư phạm Sinh – KTNN
15