Quan hệ mỹ venezuela từ năm 1998 đến nay luận văn ths - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------NGUYỄN THU NGA

QUAN HỆ MỸ - VENEZUELA TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Hà Nội - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------NGUYỄN THU NGA

QUAN HỆ MỸ - VENEZUELA TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60310206

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy

Hà Nội - 2015

2


LỜI CẢM ƠN

1.3. NHẬN XÉT ......................................................................................................... 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ MỸ - VENEZUELA TỪ NĂM 1998
ĐẾN NAY ...................................................................................................................... 36
2.1. TRÊN PHƢƠNG DIỆN AN NINH – CHÍNH TRỊ ............................................ 36
2.1.1. Những căng thẳng trong quan hệ hai nƣớc ................................................... 36
2.1.2. Hợp tác chống buôn lậu ma túy và chống khủng bố .................................... 46
2.2. TRÊN PHƢƠNG DIỆN KINH TẾ ..................................................................... 51
2.2.1. Quan hệ thƣơng mại...................................................................................... 51
2.2.2. Quan hệ đầu tƣ .............................................................................................. 56
2.3. TRÊN CÁC LĨNH VỰC KHÁC ......................................................................... 60
2.3.1 Hỗ trợ về dầu lửa của Venezuela đối với nhân dân Mỹ ................................ 60
2.3.2 Trong lĩnh vực giáo dục ................................................................................ 62

4


CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ HAI NƢỚC TỪ NĂM 1998
ĐẾN NAY VÀ DỰ BÁO XU HƢỚNG VẬN ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ
NÀY TRONG THỜI GIAN TỚI ................................................................................ 65
3.1. CÁC ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG QUAN HỆ HAI NƢỚC ............................ 65
3.1.1. Về an ninh – chính trị ................................................................................... 65
3.1.2. Về kinh tế ...................................................................................................... 66
3.2. TÁC ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ MỸ - VENEZUELA TỚI QUAN HỆ
QUỐC TẾ TRONG KHU VỰC VÀ TRÊN THẾ GIỚI ............................................ 68
3.2.1. Tác động tới quan hệ quốc tế trong khu vực Mỹ Latinh .............................. 68
3.2.2. Tác động tới quan hệ quốc tế trên thế giới ................................................... 70
3.3. DỰ BÁO XU HƢỚNG VẬN ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI
NƢỚC TRONG THỜI GIAN TỚI ............................................................................ 73
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 78

đƣợc xem là “ngọn cờ đầu” của phong trào này. Ngay sau khi lên nắm quyền vào
năm 1998, Tổng thống Hugo Chavez đã thi hành chính sách giảm dần sự phụ thuộc

6


vào Mỹ và hạn chế ảnh hƣởng của Mỹ đối với Venezuela cũng nhƣ trong khu vực.
Tổng thống Chavez phản đối mạnh mẽ mô hình kinh tế tự do và những chính sách
can thiệp của Mỹ vào nền kinh tế, chính trị các nƣớc Mỹ Latinh và lên án chính
sách đối ngoại mà ông cho là của Đế quốc Mỹ. Cũng chính từ đây, mối quan hệ
song phƣơng Mỹ - Venezuela bƣớc sang một giai đoạn mới, giai đoạn căng thẳng,
đối đầu và trải qua không ít những sóng gió cho đến tận ngày nay. Những căng
thẳng trong quan hệ ngoại giao vẫn không ngừng leo thang bởi tác động của những
chính sách đối ngoại của cả hai nƣớc. Tổng thống Hugo Chavez không chỉ thi hành
chính sách thân thiện với các nƣớc thù địch của Mỹ nhƣ Cuba, Iraq, Iran,
Afghanistan, Triều Tiên… mà còn tăng cƣờng hợp tác với các cƣờng quốc ngoài
khu vực nhƣ Nga, Trung Quốc trong cả lĩnh vực kinh tế và chính trị. Những mối
quan hệ này đe dọa trực tiếp đến lợi ích kinh tế, chiến lƣợc của Mỹ ở Venezuela và
khu vực Mỹ Latinh và càng khiến cho mối quan hệ Mỹ - Venezuela thêm rạn nứt.
Mặc dù có những căng thẳng ngoại giao nhiều khi lên đến đỉnh điểm, nhƣng
giữa Mỹ và Venezuela vẫn có một mối quan hệ kinh tế khăng khít không thể tách
rời. Sợi dây gắn kết hai nền kinh tế này chính là nguồn dầu mỏ dồi dào của
Venezuela, nguồn dầu mà nền kinh tế Mỹ luôn luôn thèm khát. Chính sự đan xen
giữa hợp tác và xung đột này đã khiến cho mối quan hệ Mỹ - Venezuela trở nên
phức tạp và có tính hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu về Mỹ và ảnh hƣởng của
Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh. Hơn nữa, quan hệ Mỹ - Venezuela là một mối quan hệ
quan trọng bởi những thăng trầm, biến cố trong quan hệ hai nƣớc có những tác động
không nhỏ tới quan hệ quốc tế trong khu vực Mỹ Latinh cũng nhƣ với một số nƣớc
trên thế giới.
Trong xu thế hợp tác chung của thế giới hiện nay, Việt Nam đang tranh thủ tất

Mỹ - Venezuela cuối thế kỷ XVIII đến mối quan hệ dầu khí và ảnh hƣởng trên toàn
cầu của mối quan hệ này cuối thế kỷ XX. Bằng sự hiểu biết sâu sắc của mình về
lịch sử Venezuela, tác giả không chỉ giải thích về bản chất đang dần thay đổi của
mối quan hệ Mỹ - Venezuela trong vòng hai thế kỷ XVIII, XIX mà còn phân tích
những kênh ảnh hƣởng khác nhau của Mỹ trong thế kỷ XX diễn ra ngày càng phức
tạp. Đồng thời, tác giả cũng mô tả những chiến lƣợc mà Venezuela đã sử dụng để
đối phó với ngƣời láng giềng phía Bắc của họ. Thế mạnh của công trình nghiên cứu

8


này nằm ở những phân tích của tác giả về những nỗ lực nhằm tạo ra một tiếng nói
hiệu quả của Venezuela trong quan hệ với Mỹ và bảo vệ chủ quyền của họ. Tuy
nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ tập trung vào mối quan hệ của Mỹ và
Venezuela giai đoạn trƣớc thế kỷ XIX, thế kỷ XX mà chƣa có những đề cập sâu sắc
tới diễn biến của mối quan hệ này trong thế kỷ XXI, trong khi thế kỷ XXI mới là
thời điểm xảy ra nhiều biến động, định hình nên mối quan hệ Mỹ - Venezuela.
Bên cạnh đó,nhắc đến quan hệ Mỹ - Venezuela cũng không thể không đề cập
tới một bài viết khá công phu khác của tác giả James Petra, đƣợc đăng tải trên trang
web voltairenetwork.org năm 2013: “US - Venezuela Relations: A case study of
Imperialism and Anti-Imperialism”, tạm dịch là “Quan hệ Mỹ - Venezuela: Một ví
dụ điển hình cho mối quan hệ của Chủ nghĩa Đế quốc và chống Chủ nghĩa Đế
quốc”. Có thể nói, đây cũng là một công trình nghiên cứu mà tác giả đã dành nhiều
tâm huyết và thời gian để theo dõi, tìm hiểu những diễn biến phức tạp của mối quan
hệ kéo dài nhiều thập kỷ giữa Mỹ và Venezuela qua những đời Tổng thống khác
nhau. Bằng cách tiếp cận so sánh lịch sử, tác giả đã chỉ ra đƣợc sự khác biệt trong
chính sách đối ngoại của Mỹ đối với chính quyền của hai giai đoạn Tổng thống
khác nhau ở Venezuela, một là chính quyền thân Mỹ của Tổng thống Perez và Tổng
thống Caldera (1980-1998), và sự nổi lên nhƣ một hiện tƣợng chống Mỹ tiêu biểu
của chính quyền của Tổng thống Hugo Chavez (1998-2013). Thế mạnh của bài viết

Venezuela nhƣ là một điển hình cho chính sách của Mỹ đối với các nƣớc cánh tả ở
khu vực Mỹ Latinh. Một nghiên cứu khác có liên quan tới Venezuela và chính sách
đối ngoại của Venezuela là Luận văn thạc sĩ năm 2010, chuyên ngành Quan hệ quốc
tế: “Venezuela những năm đầu thế kỷ XXI và quan hệ với Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thị Khánh Vân. Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích những diễn biến
của tình hình thế giới và khu vực Mỹ Latinh đầu thế kỷ XXI, tập trung phân tích
tình hình kinh tế, chính trị Venezuela và đề cập tới chính sách đối ngoại của
Venezuela đối với Mỹ từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay. Hai nghiên cứu trên,
tuy không tập trung vào mối quan hệ Mỹ và Venezuela nhƣng đã phác thảo đƣợc
những nét khái quát về quan hệ hai nƣớc đặt trong tổng thể mối quan hệ giữa Mỹ và
khu vực Mỹ Latinh và quan hệ giữa Venezuela với các nƣớc khác trong khu vực và
trên thế giới.

10


Nhƣ vậy, cho đến nay, đề tài “Quan hệ Mỹ - Venezuela từ năm 1998 đến
nay” vẫn đƣợc coi là một đề tài mới mẻ và cần thiết bởi vẫn chƣa có công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về mối quan hệ này trên từng lĩnh vực
cụ thể. Tuy nhiên, nguồn tài liệu đề cập tới những diễn biến trong quan hệ ngoại
giao, an ninh – chính trị cũng nhƣ kinh tế giữa Mỹ và Venezuela rất phong phú.
Ngoài các bài viết, các công trình nghiên cứu bằng tiếng nƣớc ngoài nhƣ đã đề cập
ở trên, các tài liệu đó còn bao gồm: những bài phân tích của các học giả nổi tiếng
thế giới đƣợc Thông tấn xã Việt Nam biên dịch và phát hành hàng ngày trong
chuyên mục Tài liệu tham khảo đặc biệt nhƣ: “Mưu đồ của Mỹ đối với Venezuela”
đƣợc đăng tải trên số 061, phát hành ngày 12/03/2014; "Mỹ chống Venezuela:
Chiến tranh lạnh chuyển sang nóng” trên số 070, phát hành ngày 21/03/2014, cùng
nhiều bài phân tích, nghiên cứu khác về chính sách của Mỹ đối với Venezuela và
chính sách của Venezuela đối với Mỹ, những diễn biến trong quan hệ hai nƣớc qua
từng năm trên các lĩnh vực trong các tạp chí nhƣ Tạp chí Châu Mỹ Ngày Nay, Tạp

ninh- chính trị và kinh tế.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu quan
hệ quốc tế kết hợp với phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử trên cơ sở tổng hợp, phân
tích những tài liệu đã có để từ đó, rút ra những nhận xét, kết luận và đánh giá về vấn
đề đang nghiên cứu.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành
ba chƣơng:
Chương 1: Những yếu tố tác động đến mối quan hệ Mỹ - Venezuela từ năm
1998 đến nay: Chƣơng này trình bày khái quát mối quan hệ giữa Mỹ và Venezuela
giai đoạn trƣớc năm 1998, những yếu tố khách quan và chủ quan trực tiếp hoặc gián
tiếp tác động đến mối quan hệ giữa hai nƣớc.

12


Chương 2: Thực trạng quan hệ Mỹ - Venezuela từ năm 1998 đến nay:
Chƣơng này tập trung trình bày, phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa Mỹ và
Venezuela trên các lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế và một số lĩnh vực khác.
Chương 3: Nhận xét về mối quan hệ Mỹ - Venezuela trong giai đoạn từ năm
1998 đến nay và dự báo xu hướng vận động của mối quan hệ này trong thời gian
tới: Chƣơng này tổng kết lại những đặc điểm chính trong quan hệ giữa hai nƣớc giai
đoạn từ năm 1998 đến nay. Từ đó, đánh giá những ảnh hƣởng, tác động của mối
quan hệ này đối với quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Ngoài ra, tác giả
đƣa ra những dự báo về triển vọng mối quan hệ giữa hai nƣớc trong thời gian tới.

13


CHƢƠNG 1:

cực duy nhất lãnh đạo thế giới. Bối cảnh đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ mở
rộng tham vọng bá chủ, thực hiện chính sách vƣơn ra toàn thế giới. Can thiệp và
thâu tóm các nƣớc Mỹ Latinh là một trong những chiến lƣợc nhằm khuyếch trƣơng
sức mạnh mà Mỹ không thể bỏ qua. Mỹ sẵn sàng mở hầu bao đối với những chính
quyền thân Mỹ, hỗ trợ cho các lực lƣợng đối lập lật đổ những chính phủ chống đối
hoặc làm phƣơng hại đến lợi ích của Mỹ.
Về phía Venezuela, trong suốt 40 năm kể từ khi chế độ độc tài Perez Jimenez
bị lật đổ (1958) đến trƣớc cuộc bầu cử của Tổng thống Hugo Chavez (1998), nền
chính trị của Venezuela đƣợc cho là phục vụ cho lợi ích kinh tế và chính trị Mỹ
trong tất cả các vấn đề chiến lƣợc. Venezuela lúc này là một công cụ sắc bén trong
tay Mỹ, hỗ trợ đắc lực cho Mỹ trong việc thực hiện những chính sách kiềm chế và
chống lại những nƣớc mà Mỹ cho là đang đe dọa đến lợi ích và an ninh của Mỹ.
Các chính quyền của Venezuela đều tuân theo sự dẫn dắt của chính phủ Mỹ trong
việc gạt Cuba ra khỏi Tổ chức các nƣớc châu Mỹ, phá vỡ quan hệ với Cuba và xúc
tiến lệnh phong tỏa, cô lập đất nƣớc nhỏ bé này ở châu Mỹ. Venezuela cũng đã “kề
vai sát cánh” với Mỹ trong những chính sách chống nổi loạn ở khu vực Mỹ Latinh,
chẳng hạn nhƣ chống lại chế độ dân chủ cánh tả ở Chile dƣới thời Tổng thống
Salvador Allende (1970-1973), chính phủ dân tộc ở Brazil (1961-1964), Peru
(1967-73), Bolivia (1968-71) và Ecuador (trong những năm 1970). Ngoài ra,
Venezuela còn hỗ trợ Mỹ trong các cuộc xâm lƣợc ở nƣớc Cộng hòa Dominica,
Panama và Grenada [51].
Nhƣ vậy, có thể nói, mối quan hệ an ninh – chính trị song phƣơng Mỹ Venezuela trƣớc năm 1998 là một mối quan hệ mang tính thống trị - phục tùng, giữa
một bên là siêu cƣờng số một thế giới, hội tụ tất cả sức mạnh về quân sự, chính trị
và kinh tế, với một bên là một nƣớc Mỹ Latinh tầm trung – khu vực đƣợc xem là
“sân sau” của Mỹ. Trong suốt giai đoạn này, Venezuela đã luôn thể hiện là một
trong những “trợ thủ” của Mỹ, giúp Mỹ thực hiện mƣu đồ bá chủ của mình ở Tây
bán cầu.

15



16


dầu giá rẻ cho thị trƣờng luôn khan hiếm dầu mỏ của Mỹ. Hàng năm, khoảng 50%
lƣợng dầu xuất khẩu của Venezuela đƣợc xuất sang thị trƣờng Mỹ, và Mỹ nghiễm
nhiên trở thành đối tác thƣơng mại lớn nhất, giữ vai trò “sống còn” đối với nền kinh
tế Venezuela. Trái lại, lƣợng dầu xuất khẩu của Venezuela cũng chiếm đến 10% 15% lƣợng dầu nhập khẩu của Mỹ [74]. Sự phát triển của ngành công nghiệp dầu
mỏ này cũng đã đem nhiều ngƣời Mỹ đến Venezuela hơn, đồng thời làm tăng sự
can thiệp về mặt kinh tế của Mỹ đối với Venezuela. Đầu thế kỷ XX, các công ty,
các tập đoàn của Mỹ bắt đầu ồ ạt kéo sang đầu tƣ, khai thác nguồn dầu mỏ dồi dào
của đất nƣớc Nam Mỹ này và dần dần nắm vai trò chi phối nền kinh tế vốn phụ
thuộc chặt chẽ vào ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela.
Nhƣ vậy, dƣới hình thức rất “nhân đạo” là cho vay hay đầu tƣ nhằm giúp đỡ
Venezuela cũng nhƣ các nƣớc Mỹ Latinh khác, Mỹ đã biến Venezuela thành một
nguồn cung cấp dầu thô lớn cho Mỹ và đất nƣớc này cũng trở thành một trong
những thị trƣờng xuất khẩu lớn nhất của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh, chủ yếu là nhập
các máy móc công nghệ và hàng tiêu dùng của Mỹ. Nhƣ vậy, mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và Mỹ Latinh hay Mỹ và Venezuela thể hiện ở chỗ: Mỹ là
thị trƣờng tiêu thụ chính nguồn tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu của các nƣớc Mỹ
Latinh, đem lại doanh thu khá lớn cho những nƣớc này, còn Mỹ phụ thuộc vào
nguồn cung cấp khoáng sản, nhiên liệu, đặc biệt là dầu lửa từ các nƣớc trong khu
vực này. Tuy nhiên, đó là mối quan hệ không bình đẳng ở chỗ: Mỹ dựa vào sức
mạnh kinh tế và nguồn tài trợ của mình, đơn phƣơng áp đặt chính sách đối với các
nƣớc Mỹ Latinh, buộc các nƣớc này cải cách theo con đƣờng mà Mỹ đã vẽ ra cho
họ. Và chính quyền của các nƣớc này, bao gồm cả Venezuela, với những khoản nợ
không có khả năng trả, không còn cách nào khác phải “thân Mỹ”, không thể tách rời
lợi ích của Mỹ mặc dù chính sách kinh tế tự do mới sau đó đã bộc lộ những sai lầm
khủng khiếp khiến cho đời sống nhân dân lâm vào cơ cực, nền kinh tế thêm nợ nần,
khủng hoảng.

dầu của Ả Rập Xê – Út (266 tỷ thùng), vƣơn lên dẫn đầu với 18% trữ lƣợng dầu
toàn thế giới [100,31]. Nhiều chuyên gia nhận định, với mức độ khai thác nhƣ hiện
nay thì phải 100 năm nữa Venezuela mới khai thác hết trữ lƣợng dầu thô khổng lồ
này. Bên cạnh đó, Venezuela cũng là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu

18


dầu thô lớn nhất thế giới và có một tầm quan trọng đặc biệt trong bức tranh năng
lƣợng toàn cầu. Đối với Venezuela, ngành công nghiệp dầu mỏ chính là “linh hồn”
của nền kinh tế bởi nó chiếm đến 90% giá trị xuất khẩu hàng năm của đất nƣớc
Nam Mỹ này. Do đó, việc khai thác dầu đã đƣợc ƣu tiên phát triển ngay từ thời các
chế độ độc tài quân sự cai trị đất nƣớc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Chính yếu
tố này đã đƣa Venezuela đi sâu hơn vào quỹ đạo của Mỹ. Ngành công nghiệp “vàng
đen” đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi chính trị và xã hội
Venezuela. Đồng thời biến Venezuela thành một đối tác quan trọng của Mỹ khi mà
sự tăng trƣởng của ngành công nghiệp xe cơ giới ở Mỹ ngày càng cao và nhu cầu sử
dụng xăng dầu cho các ngành sản xuất cũng nhƣ tiêu dùng của ngƣời dân Mỹ ngày
càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, Venezuela trở thành một trong những đối tác
cung cấp dầu lửa hàng đầu cho Mỹ. Năm 2013, Venezuela là nhà cung cấp dầu thô
lớn thứ ba của Mỹ. Ngay cả trong những giai đoạn mà sản xuất dầu đang trên đà sụt
giảm thì lƣợng dầu xuất khẩu của Venezuela tới Mỹ vẫn thuộc tốp đầu. Trái lại, Mỹ
cũng chính là thị trƣờng xuất khẩu lớn nhất và quan trọng nhất của Venezuela. Đây
cũng chính là lý do mà hai bên vẫn tiếp tục duy trì quan hệ và “”cần đến nhau” mặc
dù có những căng thẳng ngoại giao nhiều khi lên đến đỉnh điểm, tƣởng chừng
không thể tháo gỡ. Dầu mỏ chính là sợi dây gắn kết hai quốc gia và làm cho mối
quan hệ song phƣơng này trở nên hấp dẫn, lôi cuốn bởi tính chất vừa xung đột, thù
địch (trên phƣơng diện ngoại giao), vừa hợp tác (trên phƣơng diện kinh tế) của nó.
Yếu tố thứ hai là vị trí địa chiến lƣợc của Venezuela. Bên cạnh nguồn dầu mỏ
và khí đốt dồi dào của Venezuela, thứ mà nền kinh tế Mỹ luôn cần đến, yếu tố vị trí

không thể phủ nhận lợi ích kinh tế mà yếu tố vị trí địa lý này mang lại, bất chấp
những căng thẳng trong quan hệ ngoại giao, chính trị.
Yếu tố thứ ba là phong trào cánh tả Mỹ Latinh. Thuật ngữ “cánh tả” vốn để
chỉ những ngƣời có tƣ tƣởng tiến bộ, dân chủ, tôn trọng quyền tự do cá nhân, không
chịu thuân theo những sự áp đặt của chế độ. Phong trào cánh tả ở khu vực Mỹ
Latinh đƣợc xem nhƣ một phong trào của các nƣớc phe tả đang muốn hạn chế dần
sự phụ thuộc vào Mỹ và có tƣ tƣởng bài Mỹ, chống lại chủ nghĩa đế quốc và tƣ
tƣởng bành trƣớng của Mỹ. Phong trào cánh tả Mỹ Latinh đặc biệt phát triển trong
những năm gần đây với sự lãnh đạo của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.
Thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử dân chủ của Tổng thống Chavez năm 1998

20


đƣợc xem là thắng lợi mở đầu cho phong trào cánh tả Mỹ Latinh, mở ra một trang
sử mới cho mảnh đất này, một đảng cánh tả đã giành thắng lợi lãnh đạo đất nƣớc
hƣớng tới mục tiêu xây dựng một “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI”, noi gƣơng Cuba
giữa lòng Nam Mỹ [48]. Do đó, Tổng thống Hugo Chavez đƣợc mệnh danh là
“ngọn cờ đầu” trong phong trào cánh tả Mỹ Latinh. Thắng lợi của ông là động lực
cho sự lên ngôi của hàng loạt các Đảng cánh tả và trung tả ở Mỹ Latinh thông qua
bầu cử những năm sau đó nhƣ: Đảng cánh tả của Tổng thống Chile Ricardo Lagos
(2000-2006), Chính phủ cánh tả của tổng thống Brazil Lula da Silva (2003-2011),
nữ Tổng thống Argentina Cristina Fernandez Kirchner (2003-2007), Chính phủ của
Tổng thống Panama M. Torrijos (2004-2009), Chính phủ của Tổng thống Uruguay
Tabare Vazquez (2005-2010), Chính phủ cánh tả của Tổng thống Bolivia Evo
Morales (2006-2012). Đặc biệt, năm 2006 là năm thành công vang dội của lực
lƣợng cánh tả Mỹ Latinh với năm lãnh tụ cánh tả đắc cử và tái đắc cử tổng thống tại
năm nƣớc Chile, Nicaragua, Ecuador, Brazil và Venezuela [1,53]. Một trong những
nguyên nhân quan trọng nhất mang tính quyết định đến sự thắng lợi của các Chính
phủ cánh tả ở Mỹ Latinh trong giai đoạn này là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa tự

vực. Quan hệ Mỹ - khu vực Mỹ Latinh nói chung và quan hệ Mỹ - Venezuela nói
riêng trong giai đoạn từ năm 1998 đến nay chịu sự tác động mạnh mẽ từ sự gia tăng
ảnh hƣởng của các cƣờng quốc ngoài khu vực nhƣ Trung Quốc, Nga, Nhật Bản,
EU… ở khu vực vốn đƣợc coi là “sân sau” của Mỹ. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết
thúc, đối thủ chính của Mỹ là Liên Xô không còn tồn tại, Mỹ trở thành siêu cƣờng
duy nhất lãnh đạo thế giới “một cực”. Tuy nhiên, các cƣờng quốc khác, đặc biệt là
Trung Quốc, đang không ngừng vƣơn lên, trở thành “mối đe dọa” không nhỏ tới lợi
ích của Mỹ. Điều đáng nói là, trong khi giai đoạn này, các chính sách đối ngoại của
Mỹ hƣớng sự tập trung vào các khu vực Trung Đông và Châu Á - Thái Bình Dƣơng
thì các cƣờng quốc đƣợc Mỹ xem nhƣ những đối thủ nặng ký lại thâm nhập vào thị
trƣờng Mỹ Latinh, thách thức vị thế của Mỹ ngay trên sân nhà. Đặc biệt trong
những năm gần đây, mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc với Mỹ Latinh cả trong
lĩnh vực kinh tế và quân sự ngày càng sâu sắc và phát triển tốt đẹp. Năm 2010, kim
ngạch thƣơng mại giữa Mỹ Latinh và Trung Quốc đạt 179 tỷ USD, tăng 51,2% so
với năm 2009 và cao hơn nhiều so với mức tăng 27,3% của khu vực này với Mỹ
[63]. Tầm quan trọng của khu vực Mỹ Latinh càng đƣợc làm nổi bật khi mới đây,

22


chỉ trong vòng chƣa đầy một tháng (từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2014), cả ba vị
nguyên thủ quốc gia gồm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tƣớng Nhật Bản
Shinzo Abe và Tổng thống Nga Valdimir Putin đều thực hiện những chuyến công
du dài ngày tới các nƣớc thuộc khu vực này. Đặc biệt, Nga và Trung Quốc còn có
mối quan hệ mật thiết với Venezuela kể từ khi Tổng thống Hugo Chavez lãnh đạo
đất nƣớc. Tổng thống Chavez tuyên bố sẽ hợp tác chặt chẽ hơn nữa với Trung
Quốc, dần thay thế vai trò là nƣớc nhập khẩu dầu thô lớn nhất của Mỹ bằng cách
thúc đẩy việc xuất khẩu dầu sang thị trƣờng Trung Quốc. Hai nƣớc đã thiết lập quan
hệ đối tác chiến lƣợc vì sự phát triển chung từ năm 2001, và đã ký hơn 300 văn kiện
hợp tác trong các lĩnh vực năng lƣợng, dầu khí, giáo dục y tế, công nghệ, thƣơng

tác động trực tiếp tới chính sách đối ngoại của hai bên Mỹ và Venezuela cũng nhƣ
mối quan hệ giữa hai nƣớc. Do Venezuela có những ảnh hƣởng nhất định tới khu
vực cho nên “đối xử” nhƣ thế nào với đất nƣớc này là một bài toán khó đối với giới
lãnh đạo Mỹ. Làm thế nào để duy trì lợi ích của Mỹ ở khu vực sân nhà trƣớc những
thách thức đƣợc đặt ra bởi những đối thủ ngày càng lớn mạnh, càng khiến Mỹ phải
thận trọng hơn với chính sách dành cho khu vực Mỹ Latinh nói chung và Venezuela
nói riêng.
1.2.2. Những yếu tố chủ quan
Bên cạnh những yếu tố khách quan nhƣ đã trình bày ở trên, mối quan hệ Mỹ Venezuela còn chịu tác động của những yếu tố chủ quan khác nhƣ tình hình trong
nƣớc và chính sách đối ngoại của hai nƣớc trong giai đoạn từ năm 1998 đến nay.
Tình hình trong nƣớc của Mỹ và Venezuela trong giai đoạn từ 1998 đến nay
liên tục xảy ra những biến động lớn, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách
đối ngoại cũng nhƣ quan hệ giữa hai nƣớc. Về phía Venezuela, sự lên ngôi của vị
Tổng thống cánh tả Hugo Chavez không những mở ra một kỷ nguyên mới cho đất
nƣớc Venezuela mà còn đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong quan hệ
song phƣơng Mỹ - Venezuela.
Là một sĩ quan phục vụ trong quân đội ở Barinas suốt 17 năm sau khi tốt
nghiệp trƣờng Đại học Simón Bolívar ở thủ đô Caracas, Hugo Chavez đã từng thực
hiện một cuộc đảo chính táo bạo năm 1992 do bất bình với tình trạng suy thoái kinh
tế ngày càng trầm trọng dƣới thời Tổng thống “thân Mỹ” Carlos Andrés Pérez

24


(1989 – 1993). Tuy nhiên, cuộc đảo chính bất thành đã khiến ông phải ngồi tù hai
năm và sau đó đƣợc vị Tổng thống lúc đó là Rafael Caldera (1994 – 1999) ân xá
phóng thích vào năm 1994. Bức xúc trƣớc tình trạng ngày càng suy thoái của đất
nƣớc và phải chứng kiến cảnh đói nghèo cực khổ của nhân dân cũng nhƣ sự điều
hành kém hiệu quả của giới cầm quyền chịu nhiều sự chi phối của Mỹ, năm 1998,
Hugo Chavez quyết định đứng ra tranh cử Tổng thống. Trong các chiến dịch tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status