Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang - Pdf 31

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM ĐỨC HIẾU

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
Ở HUYỆN YÊN SƠN - TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

PHẠM ĐỨC HIẾU

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN
THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
Ở HUYỆN YÊN SƠN - TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

trọng tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Xuân
Dũng người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng QLĐT Sau đại học,
Khoa Kinh tế, các đơn vị liên quan của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị
kinh doanh - ĐHTN. Tôi xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ của
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - những người đã trang bị cho
tôi những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thành công trình này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, UBND tỉnh Tuyên Quang, UBND huyện Yên Sơn, Phòng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Sơn, Chi cục Thống kê
huyện Yên Sơn, các xã và các hộ nông dân huyện Yên Sơn đã giúp tôi trong
quá trình điều tra số liệu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên
chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành
luận văn.
Tuyên Quang, tháng năm 2014
Tác giả

Phạm Đức Hiếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SXNN


UBND

Ủy ban nhân dân

NTM

Nông thôn mới

NQ-CP

Nghị quyết chính phủ

SXHH

Sản xuất hàng hóa

DVNN

Dịch vụ nông nghiệp

DN

Doanh nghiệp

TBKT

Thiết bị kỹ thuật

HTXNN

Bảng 3.13: Hiệu quả sản xuất ngành trồng trọt ở các hộ điều tra năm 2012 ........ 68
Bảng 3.14: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành
chăn nuôi năm 2010 - 2012........................................................... 70
Bảng 3.16: Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hóa ................................. 72
Bảng 3.17: Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa bình quân ở hộ
nông dân điều tra năm 2012 .......................................................... 74
Bảng 3.18: Mức thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu của hộ
nông dân điều tra năm 2012.......................................................... 76
Bảng 3.19: Một số chỉ tiêu của trang trại huyện Yên Sơn năm 2012 ............. 77
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay, kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế phổ biến,
có vai trò rất lớn và là bộ phận hữu cơ trong nền kinh tế, là chủ thể quan trọng
trong phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thôn. Cùng với sự phát triển của
kinh tế xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng thì kinh tế hộ nông
dân không ngừng phát triển cả về quy mô và tính chất. Trong tình hình đó,
một bộ phận hộ nông dân chuyển từ quy mô nhỏ thành quy mô lớn, từ sản
xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hoá, trao đổi sản phẩm trên thị trường.
Nhiều hộ đã khẳng định được vị trí vai trò sản xuất hàng hoá của mình trong
nông nghiệp, nông thôn. Họ sử dụng có hiệu quả đất đai, tiền vốn, lao động và
đã vươn lên làm giầu. Mặc dù có nhiều hộ đã thành công trong phát triển kinh
tế hàng hoá nhưng nhìn chung, kinh tế hộ chưa chuyển hẳn sang kinh tế hàng
hoá. Do có sự khác nhau về điều kiện, khả năng kinh nghiệm sản xuất cho nên
có sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các hộ. Bên cạnh những hộ

sông Gâm đều chảy vào và gặp nhau tại huyện này. Là huyện có nhiều tiềm
năng nông lâm nghiệp chưa được khai thác, cơ sở hạ tầng và kinh tế hộ nông
dân vẫn còn nhiều khó khăn. Một trong những nguyên nhân quan trọng là kinh
tế hộ nông dân còn gặp nhiều trở ngại, chưa thực sự đi vào sản xuất hàng hoá.
Chính vì vậy nghiên cứu phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất
hàng hoá là hết sức cần thiết đối với huyện Yên Sơn. Chính vì vậy, tác giả chọn
đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng
hóa ở huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang” làm luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản
xuất hàng hóa nông nghiệp của hộ nông dân ở huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên
Quang) để tìm ra những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới phát
triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, từ đó đề xuất giải
pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao mức sống của nông dân
huyện Yên Sơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


3
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu
nhập cho hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa ở huyện Yên Sơn - tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển kinh
tế hàng hóa hộ nông dân theo hướng bền vững cho hộ nông dân huyện Yên

điểm còn hạn chế trong việc phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa
trên địa bàn huyện.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng
sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân
theo hướng sản xuất hàng hóa.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản
xuất hàng hóa ở huyện Yên Sơn - Tỉnh Tuyên Quang
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông
dân theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Yên Sơn - Tỉnh Tuyên Quang

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ
NÔNG DÂN THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt
động trong nông hộ và ngoài nông hộ. Thu từ sản xuất trong nông hộ bao gồm
các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ bao
gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu…
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất

Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế
hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá.
+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ
nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ
giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Ở
nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho
các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có
mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng. Người nông dân phấn khởi
trong sản xuất. Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được
quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ.
+ Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao
động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng
nhu cầu khác của gia đình. Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong
nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác.
+ Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các
thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn
của cộng đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông
nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa
gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại.
Trước thực tiễn phong phú của sản xuất hiện nay, kinh tế hộ nông dân
đang được nghiên cứu để định hướng phát triển. Vấn đề này sẽ còn gây nhiều
tranh luận về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta trong nhiều năm tới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


7
1.1.2. Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
Theo từ điển Larousse: phát triển là một quá trình, là "tổng hoà các


http://www.lrc-tnu.edu.vn/


9
giúp họ có cuộc sống tốt hơn so với làm nông nghiệp. Như vậy ruộng đất sẽ
từng bước được tích tụ trong tay những hộ làm ăn giỏi. Khi đã đạt tới một quy
mô nhất định, các sản phẩm nông nghiệp hàng hoá sẽ xuất hiện trên thị
trường, hình thành các hộ nông dân sản xuất hàng hoá. Đó là xu hướng vận
động, phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân. Với xu thế này, các hộ sản
xuất hàng hoá sẽ không ngừng tăng lên về số lượng cũng như về quy mô nông
hộ. Chính những hộ sản xuất hàng hoá này đã góp phần to lớn vào việc phát
triển nhanh sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị (tháng 4 năm 1988) giao quyền sử dụng đất ổn định cho hộ nông
dân, đã tạo ra những điều kiện và môi trường cho kinh tế hàng hoá phát triển.
Có thể nói, lịch sử phát triển nông nghiệp là lịch sử vận động và phát
triển của kinh tế hộ nông dân và các trang trại gia đình. Sự vận động này tuân
theo quá trình từ thấp đến cao, từ sản xuất tự cấp, tự túc đến sản xuất hàng
hoá. Kinh tế hộ nông dân đã trải qua các hình thái sau:
- Nhóm kinh tế hộ sinh tồn: Là dạng phát triển rất thấp của kinh tế hộ.
Họ sản xuất một vài nông sản chủ yếu để duy trì sự sống của gia đình, họ có ít
vốn, công cụ sản xuất thô sơ, phụ thuộc vào tự nhiên, năng suất lao động thấp.
Hiện nay còn tồn tại ở một số dân tộc ít người thuộc các vùng xa xôi hẻo lánh,
các vùng núi cao biệt lập với xã hội. Thiếu lương thực, thực phẩm là nỗi lo
lắng thường xuyên của họ.
- Nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc với nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc
hậu, phân tán. Đặc điểm của nhóm hộ này là sản xuất chủ yếu để cung cấp
lương thực, thực phẩm và một số loại nông sản cần thiết khác đáp ứng yêu
cầu tiêu dùng cho gia đình, ít tiếp xúc với thị trường. Trong quá trình phát
triển, nhóm hộ kinh tế tự cấp tự túc là bước phát triển cao hơn so với nhóm hộ

phẩm trên thị trường.
1.1.3.2. Sản xuất hàng hoá là động lực thúc đẩy từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn trong nông nghiệp
Kinh tế hộ gia đình đã tồn tại từ hàng ngàn năm nay, thể hiện rất rõ vai
trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp. Trang trại gia đình ở các
nước phát triển, hộ nông dân ở các nước đang phát triển là lực lượng chủ yếu
sản xuất ra sản phẩm hàng hoá trong nông nghiệp. Ở Mỹ với 2,2 triệu trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


11
trại đã sản xuất ra 50% đậu tương của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40 50 triệu tấn ngô, hàng triệu tấn thịt các loại v.v...
- Các trang trại gia đình đã hình thành cách đây hàng trăm năm. Lúc
đầu quy mô trang trại nhỏ, sản phẩm hàng hoá ít. Càng về sau quy mô các
trang trại càng lớn, năng suất lao động càng cao. Hiện nay nhờ áp dụng
những thành tựu kỹ thuật tiên tiến như hoá học hoá, cơ giới hoá và cách mạng
sinh học, tin học,... đã giúp các trang trại hiện đại hoá sản xuất. nhiều khu vực
trên thế giới như Tây Âu và Bắc Mỹ, sản phẩm hàng hoá nông nghiệp đã dư
thừa, 1 lao động nông nghiệp nuôi được 35 - 100 người. Động lực dùng trong
nông nghiệp có tới 82% là sức máy móc cơ điện. Bằng việc hiện đại hoá các
trang trại gia đình, các nước phát triển đã đạt được nền sản xuất hàng hoá lớn
trong nông nghiệp.
- Ở các nước đang phát triển, hàng hoá nông sản chủ yếu được sản xuất
tại các trang trại hoặc các hộ gia đình có quy mô nhỏ từ 1 - 5 ha. Trong một
số ngành, đặc biệt là trồng cây ăn quả, cây công nghiệp... tuy quy mô trang
trại nhỏ song vẫn tạo ra khố i lượng nông sản hàng hoá lớn với tỷ suất hàng
hoá cao là nhờ tính năng động của mạng lưới tổ chức tốt về dịch vụ và lưu
thông hàng hoá. Các trang trại ở Malaixia năm 1992 sản xuất được 6,4 triệu

pháp tác động đến sản xuất hàng hoá nói chung.
Sản xuất hàng hoá để tạo điều kiện phát huy tính năng động sáng tạo
trong việc khai thác và tận dụng những tiềm năng kinh tế xã hội cũng như lợi
thế so sánh của từng vùng kinh tế. Nó có vai trò quan trọng trong việc điều
tiết sản xuất, phân công lao động xã hội, điều tiết thị trường.
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa
Phát triển nông nghiệp hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Thứ nhất, nhóm nhân tố về thể chế chính trị, chủ trương, chính sách của
Đảng. Việc nghiên cứu để thực thi một hệ thống thể chế pháp lý và chính sách
có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Vì có phát huy được lợi thế so sánh nhằm
làm tăng các loại sản phẩm, giá trị hàng hóa sản xuất nông nghiệp, thỏa mãn
ngày càng cao về nhu cầu nông sản cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu, góp
phần thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


13
+ Chính sách kinh tế nhiều thành phần: Trong nông nghiệp, nông thôn
hiện nay nhiều thành phần kinh tế có thể tham gia như: Kinh tế quốc doanh,
kinh tế hợp tác, kinh tế nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân... Việc
quy định vị trí vai trò của các nền thành phần kinh tế trong nền kinh tế là quan
trọng nhằm đảm bảo tính ổn định của sản xuất.
+ Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp.
Đầu tư trước hết vào việc xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống
điện, đường giao thông và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực
hiện việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất

càng cao thì sản xuất theo hướng hàng hóa càng phát triển. Quy mô sản xuất
nông nghiệp càng lớn cũng thể hiện việc chuyên môn hóa và tập trung hóa
trong sản xuất theo hướng hàng hóa càng lớn và được chú trọng.
Thứ năm, trình độ nhận thức và năng lực tư duy của người dân và cán
bộ thực hiện sản xuất hàng hóa. Người dân không có kiến thức, tư duy về sản
xuất hàng hóa sẽ khó thực hiện tốt vai trò của mình. Các nhà khoa học không
hiểu biết về các chủ trương, chinh sách về SXNN theo hướng, không có năng
lực chuyên môn sẽ không đảm nhiệm được vai trò cầu nối khoa học kỹ thuật
tới người dân. Bản thân các doanh nghiệp không biết về tầm quan trọng của
mình trong khâu tiêu thụ, không biết về các chính sách ưu đãi sẽ không tích
cực tham gia. Trình độ và tư duy về SXNN theo hướng hàng hóa tốt sẽ nâng
cao hiệu quả SXNN.
Thứ sáu, nhóm nhân tố thuộc về thị trường đầu vào, bao gốm đất, lao động,
đặc tính của sinh vật, trình độ và áp dụng khoa học công nghệ, vốn sản xuất.
Thứ bảy, nhân tố về tổ chức sản xuất. Việc tổ chức sản xuất như thế
nào và quy định quy trình sản xuất có vai trò quyết định sự thành công hay
thất bại trong cả quá trình cho ra sản phẩm. Đây là yếu tố kết hợp tổng hợp
các điều kiện thuận lợi về nhiều mặt để giúp sản phẩm hàng hóa có chỗ đứng
trên thị trường và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật.
Thứ tám, nhóm nhân tố thuộc về thị trường marketing và đầu ra.
Marketing bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: thu gom, chế biến, phân phối,
đóng gói, vận chuyển, bảo quản, ngừa rủi ro, bán hàng và các kênh tiêu thụ.
Các hoạt động này hoạt động có hiệu quả đảm bảo hàng hóa nông sản có giá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


15
trị. Thị trường đầu ra tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp rất đa dạng và



16
đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo
hướng hiện đại hóa và bền vững. Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự
chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng
như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa. Nông nghiệp,
nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những
thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận
dân cư đã có đời sống khá giả.
Là nước có diện tích đất canh tác khan hiếm và eo hẹp, tỷ lệ lao động
trong nông nghiệp cao, Trung Quốc chủ trương nâng cao hiệu quả sử dụng đất
và cải tạo đất trồng, giải quyết vấn đề dôi dư lao động. Vì vậy, quốc gia này
đã thực hiện thu hẹp kiểu kinh doanh cần nhiều lao động, mở rộng việc kinh
doanh tập trung vốn và kỹ thuật. Đó là điều có lợi cho nông dân, cho công
cuộc cải cách nông thôn và việc phân bổ tối ưu các nguồn lực trong sản xuất
nông nghiệp. Thực tế cho thấy, phương thức kinh doanh trên những mảnh
ruộng manh mún cổ truyền trước đây không còn phù hợp với việc thâm canh
bằng tập trung vốn và kỹ thuật. Chỉ có phương thức kinh doanh với quy mô
lớn mới tạo tiền đề cho việc đầu tư nhiều vốn và kỹ thuật nhằm đạt tới một
nền sản xuất hiện đại và bền vững.
Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng
góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc. Tổng kết kinh
nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản
Trung Quốc chỉ rõ: "Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn
định của cả nước, không có sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc
của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện
đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân". Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng
định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc
vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông

khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, ngăn chặn tình
trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài
nguyên đã bị suy thoái. Giải quyết tốt những mâu thuẫn về tư tưởng trong
nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai,
đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà
nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy
lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu
hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại
cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông
thôn với các dự án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn/


19
Một trong những tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền
vững và hiện đại hóa là cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ
thuật sản xuất tiên tiến. Thái Lan chú trọng phát triển cơ giới hóa nhằm đưa
nông nghiệp đi vào thâm canh, cải tạo và xây dựng nông thôn. Phát triển
mạng lưới xí nghiệp cơ khí nhỏ và vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn
và nông thôn. Khuyến khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí
trong nước chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng từ 1
đến 3 năm. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cải tạo đất, áp dụng công nghệ
sinh học để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; thực hiện việc chuyển giao công
nghệ nuôi cấy phôi; nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch.
Thái Lan còn chú trọng phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông,
hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản
cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước khác, nhất là các nước
công nghiệp phát triển. Hiện nay, ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status