NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
SDD
:
Suy dinh dưỡng
Zn
:
Kẽm
CT
:
Can thiệp
MT
:
Metallothionein
GH
:
Growthhormone
TCYTTG
:
Tổ chức Y tế thế giới
NKHHC
:
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp
WHO
:
World Health Organization
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu ..................................................... 26
4.2. Tác động của bổ sung kẽm đến tình trạng suy dinh dưỡng ..................... 27
KẾT LUẬN .................................................................................................... 35
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng protein - năng lượng là một bệnh lý dinh dưỡng quan
trọng vì nó làm tăng nguy cơ tử vong và để lại những hậu quả nặng nề. Trên
thế giới hiện có hàng trăm triệu trẻ em suy dinh dưỡng vừa và nặng, phân bố
chủ yếu ở các nước đang phát triển, ở ngay cả các nhóm dân nghèo khổ tại
các nước đã công nghiệp hóa và các vùng có nạn đói xảy ra do thiên tai và
chiến tranh [2]. So với các nước trong khu vực, ở nước ta tỷ lệ suy dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn rất cao [2]. Việc phòng chống suy dinh
dưỡng hiện đã có những bước tiến quan trọng. Đi đôi với suy dinh dưỡng tình
trang thiếu kẽm đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng của nhiều
nước trên thế giới nên cần được tiếp tục nghiên cứu ở các đối tượng có nguy
cơ cao, cũng như đề ra chiến lược can thiệp thích hợp. Dù đã được biết từ rất
lâu nhưng mãi đến khi Prasad (1961) phát hiện chứng lùn và thiểu năng sinh
dục do thiếu kẽm ở trẻ em Iran, người ta mới bắt đầu hiểu rõ giá trị và tầm
quan trọng của kẽm đối với sức khỏe con người [27]. Kẽm là một chất dinh
dưỡng đặc biệt quan trọng vì vai trò to lớn về mặt sinh học của nó. Vai trò nổi
bật của kẽm là sự tham gia của nó vào hoạt tính của trên 300 enzym với 3
chức năng nền tảng là cấu trúc enzym, xúc tác và điều hòa hoạt động của các
phản ứng sinh học. Các enzym phụ thụộc kẽm này tham gia một cách có hệ
thống vào cơ chế của các con đường chuyển hóa chủ yếu của cơ thể. Đặc biệt
của trẻ < 5 tuổi bị suy dinh dưỡng tại xã Hương Hồ huyện Hương Trà tỉnh
Thừa Thiên Huế” nhằm vào các mục tiêu sau:
1. Đánh giá sự cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ suy dinh dưỡng
được bổ sung kẽm.
2. Đánh giá hiệu quả của bổ sung kẽm đến tình trạng mắc bệnh nhiễm
khuẩn hô hấp và tiêu chảy ở trẻ bị suy dinh dưỡng.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ KẼM
Kẽm là một yếu tố vi lượng cần thiết cho mọi hình thái của cuộc sống đã
được biết đến từ lâu, nhưng mãi đến năm 1509 nó mới được nhận biết như là
một yếu tố riêng biệt [2],[3]. Các chứng cứ về sự cần thiết của kẽm đối với sự
tăng trưởng của sinh vật đã được chứng minh lần đầu tiên ở thực vật vào năm
1869 khi Raulin chứng tỏ sự cần thiết của kẽm đối với sự tăng trưởng của
nấm Aspergilusniger; ở động vật vào năm 1934, Bcrtrant và Bhattachene
chứng tỏ vai trò của kẽm trong sự phát triển của chuột [12].
Kể từ năm 1961 sau khi Prasad phát hiện chứng còi cọc và thiểu năng sinh
dục ở trẻ em nông thôn Iran có liên quan tới thiếu kẽm và từ đó tầm quan trọng
về ý nghĩa lâm sàng và sức khỏe cộng đồng của tình trạng thiếu hụt kẽm ngày
càng được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn [26]. Theo một báo cáo của quỹ
Nhi Đồng Liên Hợp Quốc ước tính có ít nhất 100 triệu trẻ em trên thế giới có
biểu hiện suy giảm miễn dịch thứ phát do thiếu hụt về dinh dưỡng mà kẽm là
một trong những nguyên nhân quan trọng nhất [12].
1.2. VAI TRÒ SINH LÝ VÀ CHUYỂN HÓA KẼM TRONG CƠ THỂ
1.2.1. Tính chất lý hóa của kẽm
của kẽm từ cơ thể người mẹ sang thai nhi, nên hàm lượng kẽm trong máu của
người mẹ có thể giảm đến 50% [1], [2].
Những cơ quan chứa kẽm nhiều nhất là cơ vân, xương, tiền liệt tuyến,
tóc và mắt. Trong dịch sinh học kẽm kết hợp với rất nhiều protein nên hàm
lượng kẽm trong các dịch này rất cao.
1.2.4. Nguồn cung cấp kẽm cho cơ thể
Nguồn cung cấp kẽm cho cơ thể từ nhiều thực phẩm khác nhau. Thông
thường cung cấp kẽm tốt nhất là từ thịt động vật. Thịt sò chứa hàm lượng kẽm
cao nhất (75mg/100g). Kẽm tập trung nhiều trong thịt nạc đỏ (heo, bò), ngũ
cốc thô và các loại đậu (25 - 50mg/kg). Ngũ cốc sơ chế, gạo xay kỹ, thịt mỡ
chứa lượng kẽm vừa phải (10 - 25mg/kg). Các rau củ, rau lá xanh và trái cây
chỉ chứa một hàm lượng kẽm rất khiêm tốn (10mg/kg). Dầu, mỡ, đường và
5
rượu có rất ít kẽm. Trong thức ăn động vật, kẽm hiện diện với nồng độ cao và
tính khả dụng sinh học cao dễ hấp thụ. Hàm lượng kẽm trong thức ăn thực vật
kém hơn và có tính khả dụng sinh học thấp hơn. kẽm trong sữa mẹ hàm lượng
kẽm giảm dần theo thời gian. Sữa mẹ có hàm lượng kẽm là 0,1-0,3mg/100ml
sữa, đặc biệt là sữa non có hàm lượng kẽm khá cao 1mg/100ml sữa. Kẽm
trong sữa mẹ dễ hấp thụ hơn trong sữa bò. Nồng độ kẽm trong sữa mẹ sẽ giảm
dần vào tháng thứ 4, điều này cho thấy trẻ em dễ bị thiếu kẽm trong giai đoạn
này nếu thức ăn dặm không đảm bảo chất lượng và đặc biệt nếu có kèm theo
nhiễm trùng thì tình trạng thiếu kẽm càng trầm trọng hơn [12], [17], [23].
1.2.5. Chuyển hóa kẽm trong cơ thể
1.2.5.1. Sự hấp thụ kẽm
Kẽm ăn vào được hấp thụ chủ yếu ở hỗng tràng. Hàng ngày có khoảng
7,5-14mg kẽm được tiết vào ruột non (từ 1,5-2,0g kẽm/người 70kg), tương
đương với lượng kẽm ngoại sinh. Sự hấp thụ kẽm giảm khi nhập nhiều
Sự thu nhận và luân chuyển của kẽm là 18-20 giờ) kế đến là tụy và thận,
lách và chậm nhất là hệ thần kinh trung ương và xương (nửa đời sống của
kẽm là 300 ngày). Do không có cơ quan dự trữ và nửa đời sống sinh học ngắn,
nên sự thiếu kẽm có thể xảy ra nhanh chóng khi nguồn cung cấp kẽm trong
chế độ ăn bị thiếu hụt [23].
1.2.5.3. Sự bài tiết kẽm
Kẽm được bài tiết chủ yếu theo phân, khoảng 2-3mg/ngày, nước tiểu
khoảng 0,5mg/ngày. Lượng kẽm bài tiết qua mồ hôi, tinh dịch là không đáng
kể. Một số tình trạng bệnh lý như: Tiêu chảy, viêm phổi, viêm nhiễm làm
giảm hấp thụ và mất một lượng kẽm khá lớn qua đường tiêu hóa. Tổng lượng
mất kẽm của một người bình thường ước chừng (2,2-2,8mg/ngày) [2],[8],[9].
1.3. VAI TRÒ CỦA KẼM ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CON NGƢỜI
1.3.1. Vai trò của kẽm đối với các enzym
Trong khi liên kết với protein kẽm dị hóa rất nhiều phản ứng khử hydro
hay khử nước. Sự có mặt của yếu tố kẽm là cần thiết không chỉ là chỗ tác
động mà còn là vai trò ổn định cấu trúc. Các enzym kim loại có chứa kẽm
7
thuộc về lớp enzym chủ yếu như: oxi hóa khử (oxidoreductase) vận chuyển
(transferase) thủy phân (hydrolase) cắt phân (lyase), đồng phân (isonerase),
tổng hợp (ligase). Các enzym này tham gia một cách có hệ thống vào cơ chế
của con đường chuyển hóa chủ yếu liên quan đến protein, gluxit, năng lượng,
axit nucleic và lipit sự tổng hợp hem, sự thay đổi của mô liên kết cũng như
trong biểu hiện gen, tổng hợp mô và sự phát triển của phôi [3],[5].
1.3.2. Vai trò của kẽm đối với hormon
1.3.2.1. Kẽm và hormon tăng trưởng (Growth Hormon :GH)
Kẽm tập trung rất cao ở vùng dưới đồi và tuyến yên. Ở người và động
vật, thiếu kẽm xảy ra tình trạng chậm tăng trưởng, thiếu kẽm làm chậm phát
quản tái đi tái lại), viêm đường tiêu hóa, viêm da, bỏng chậm lành [2],[3],[12].
1.3.4. Vai trò của kẽm đối với hệ thần kinh và giác quan
1.3.4.1. Vai trò kẽm đối với hệ thần kinh
Thiếu kẽm trong thời kỳ bào thai sẽ dẫn đến sự biến đổi nguyên phát lẫn
thứ phát trong sự phát triển của não, mà sự thay đổi nổi bật nhất là sự khiếm
khuyết của ống thần kinh nguyên phát. Tác động gây quái thai do thiếu kẽm
có thể bị gán cho sự tổng hợp axit nhân và protein, làm thay đổi chu kỳ tế bào
và các phân tử điều hòa hình thái ở trẻ em khi thiếu kẽm gây rối loạn giấc ngủ
(trằn trọc khó ngủ, mất ngủ) thức giấc nhiều lần trong đêm, khóc đêm dài.
Suy nhược thần kinh (đau đầu, thần kinh dễ bị kích thích, giảm trí nhớ) rối
loạn cảm xúc (thờ ơ, lãnh đạm, trầm cảm thay đổi tính tình) suy yếu hoạt
động của não, mơ màng chậm chạp, hoang tưởng, mất điều hòa lời nói, rối
loạn phát triển tâm thần và vận động [2],[13].
1.3.4.2. Vai trò của kẽm đối với các giác quan
-Vị giác: Giảm hoặc mất cảm giác thèm ăn, biểu hiện bằng triệu chứng
chán ăn kết hợp với sự giảm ăn là những dấu hiệu đầu tiên của thiếu kẽm. Sự
giảm mức tiêu thụ thức ăn có lẽ là một đáp ứng nhạy cảm nhất đối với sự giảm
cung cấp kẽm trong khẩu phần. Các nghiên cứu cho thấy mất sự thèm ăn có xu
hướng là một đặc trưng lâm sàng của tình trạng thiếu kẽm ở trẻ em [3], [15].
9
- Thị giác: Mô giác mạc là nơi có nồng độ kẽm cao nhất trong cơ thể.
Khi bị thiếu kẽm có thể gây ra phù giác mạc và có thể dẫn đến mờ và đục giác
mạc. Các vết thương nhỏ ở giác mạc có thể chữa lành hoàn toàn nhưng các
vết thương lớn hơn có thể để lại sẹo giác mạc. Viêm giác mạc khô nhẹ cũng
có thể xảy ra do thiếu kẽm và đưa đến khô nhuyễn giác mạc. Vitamin A
không có hiệu quả điều trị rối loạn này. Sự thiếu kẽm gây tình trạng thiếu
vitamin A trong huyết tương. Tại gan, kẽm là yếu tố liên quan đến tổng hợp
học, biểu hiện thiếu kẽm kín đáo nhưng rất đa dạng, các triệu chứng thường
gặp, giảm vị giác - không biết đói, rõ nhất bệnh chán ăn tâm thần, giảm khứu
giác, chậm lành vết thương, viêm da quanh các lỗ tự nhiên, có sự thay đổi về
lông, tóc, có sự biến dạng của móng, quáng gà. Kẽm hoạt động, thờ ơ lãnh
đạm, mất điều hòa [2].
1.5.2. Thiếu kẽm nặng
Các trẻ thiếu kẽm nặng có tình trạng chậm tăng trưởng rõ, viêm da với
sang thương thường xuất hiện ở mặt duỗi các chi trên và chi dưới, viêm quanh
lỗ tự nhiên - chứng lùn, chậm trưởng thành giới tính, thiểu năng sinh dục, bất
lực, vô sinh, mất kinh, suy giảm miễn dịch; tổn thương các biểu mô khác
viêm lưỡi, loạn dưỡng móng, rụng lông tóc chậm lành vết thương, vết bỏng
vết loét do nằm lâu, tổn thương mắt như sợ ánh sáng, mất thích ứng với bóng
tối, có thể gây quái thai, rối loạn cảm xúc [4], [10], [19].
1.6. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
1.6.1. Trên thế giới
Müller O, Garenne M. và cộng sự tại Burkina Faso, Tây phi bổ sung
12,5 mg / ngày kẽm sulphate hàng ngày trong vòng 6 tháng cho 685 trẻ từ 631 tháng cho thấy không có sự khác biệt về tăng trưởng ở nhóm bổ sung kẽm
so với nhóm chứng [30]. Brown KH, Peerson JM, Rivera J và Allen LH. đã
tổng phân tích các nghiên cứu về bổ sung kẽm cho trẻ lứa tuổi tiền học đường
cho thấy việc bổ sung kẽm đã có hiệu quả tích cực đến các chỉ số nhân trắc
[28]. Nghiên cứu mù đôi có đối chứng tại Ấn Độ về bổ sung kẽm và đồng cho
trẻ bị tiêu chảy cấp từ 6-59 tháng cho thấy việc bổ sung này đã làm giảm mức
11
độ trầm trọng và thời gian bị tiêu chảy [32]. Theo báo cáo của Lukacik M. và
cộng sự dựa trên nhiều nghiên cứu cũng cho thấy bổ sung kẽm đã có hiệu quả
đến thời gian và mức độ nặng của tiêu chảy cấp và tiêu chảy kéo dài [28].
Một nghiên cứu đa Quốc gia về bổ sung kẽm cho trẻ < 5 tuổi tại các
hàm lượng kẽm huyết thanh với đặc điểm lâm sàng và phản ứng Mantoux ở
trẻ mắc các bệnh nhiễm trùng tái diễn thường gặp, nghiên cứu đưa lại kết quả
hàm lượng kẽm huyết thanh càng giảm, tình trạng viêm phổi tái diễn nhiều
lần, có biểu hiện viêm phổi nặng lên. Hàm lượng kẽm huyết thanh giảm số
ngày và số lần tiêu chảy tăng lên [23].
13
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƢỢNG
Trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng sống tại địa bàn xã Hương Hồ, huyện
Hương Trà, Thành phố Huế trong thời gian nghiên cứu.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn trẻ vào nghiên cứu
- Trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Đánh giá và phân loại suy dinh
dưỡng theo phân loại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới với quần thể tham chiếu
NCHS (Nationd center of Heath statistics) [12].
- Trẻ không mắc bệnh bẩm sinh hoặc mãn tính như: tim bẩm sinh, thiếu
máu huyết tán, bại não, hội chứng thận hư, hen…
- Đối tượng hoàn toàn tự nguyện tham gia chương trình và tuân thủ theo
phác đồ nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, Tỉnh
Thừa Thiên Huế, từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 5 năm 2009.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng có đối chứng.
2.2.2. Chọn cỡ mẫu: chúng tôi chọn tất cả trẻ bị suy dinh dưỡng tham gia tại
+ Nhóm can thiệp kẽm: Ngoài 1 tuần 2 buổi đến ăn tại các điểm
GDPHDD mỗi trẻ được bổ sung viên kẽm 10mg kẽm nguyên tố/ngày trong
thời gian 5 tháng. Loại kẽm được sử dụng: kẽm gluconat (FARZINCOL) do
công ty cổ phần dược phẩm dược liệu PHARMEDIC sản xuất.
Tại các điểm GDPHDD, các bà mẹ của 2 nhóm đều được tư vấn về chế
độ dinh dưỡng cho trẻ tại nhà.
15
2.2.4.3. Thu thập số liệu
- Theo dõi về cân nặng và chiều cao hàng tháng: Trẻ của 2 nhóm đều
được theo dõi cân nặng và chiều cao mỗi tháng 1 lần tại các điểm GDPHDD.
Và được đánh giá tình trạng dinh dưỡng sau 3 tháng và sau 5 tháng can thiệp
+ Kỹ thụật đo cân nặng: Dụng cụ: chọn cân Nhơn Hoà có sai số 100g
có gắn rổ nhựa hoặc nôi để cho trẻ nằm hoặc ngồi.
* Phòng cân: thoáng mát về mùa hè, ấm và kín gió về mùa đông và đảm
bảo đủ sáng để xác định cân chính xác.
* Vị trí đặt cân: đặt cân nơi bằng phẳng, chắc chắn.
* Thao tác:
Chỉnh cân về vị trí “0”.
Cân trẻ vào buổi chiều trước khi ăn bữa ăn PHDD. Trẻ mặc bộ quần áo
mỏng. Đặt trẻ nằm ở trung tâm của cân, tránh nằm lệch qua một bên làm trẻ
dễ ngã và làm kết quả cân không chính xác. Ngay khi cân ổn định, đọc và ghi
kết quả với đơn vị là kilogam và một số lẻ, ví dụ: 7,3 kg.
+ Kỹ thụật xác định chiều cao:
* Dụng cụ: Dùng thước gỗ đóng sẵn để đo chiều dài nằm cho trẻ dưới 2
tuổi và thước đo theo chiều thẳng đứng vuông góc với mặt đất nằm ngang để
đo cho trẻ > 2 tuổi.
* Vị trí đặt thước đo chiều dài: phải đặt thước ở mặt phẳng tốt, vững chắc,
trạng bệnh.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán tiêu chảy:
Theo hướng dẫn phân loại của chương trình xứ trí lồng ghép bệnh trẻ
em [26]. Tiêu chảy được định nghĩa là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước ≥ 3
lần trong 24 giờ. Phân lỏng là phân không thành khuôn. Trừ những trẻ bú mẹ,
thường đi mỗi ngày một vài lần phân nhão, đối với những trẻ này xác định
tiêu chảy thực tế là phải dựa vào tăng số lần hoặc tăng mức độ lỏng của phân
mà các bà mẹ cho là bất thường.
17
Căn cứ vào thời gian tiêu chảy và tính chất của phân, tiêu chảy được
chia thành 3 loại như sau:
Tiêu chảy phân lỏng cấp tính: Bệnh tiêu chảy khởi đầu cấp, kéo dài
không quá 14 ngày (thường dưới 7 ngày), phân lỏng hoặc tóe nước, không
thấy máu.
Hội chứng lỵ: Đây là bệnh tiêu chảy thấy có máu trong phân.
Tiêu chảy kéo dài: Là những đợt tiêu chảy mà khởi đầu do nhiễm
khuẩn và thời gian bị bệnh kéo dài trên 2 tuần.
+ Chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính:
Định nghĩa NKHHCT bao gồm các nhiễm khuẩn ở bất kỳ vị trí nào trên
đường hô hấp, bao gồm mũi, tai, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu
phế quản, phổi. NKHHCT có thể có nhiều dấu hiệu và triệu chứng khác nhau
bao gồm: Ho, khó thở, đau họng, chảy mũi nước, đau tai, chảy mủ tai và sốt.
Sốt là triệu chứng phổ biến trong NKHHCT. Do không thể theo dõi sát ngay
khi trẻ có biểu hiện bệnh để đánh giá mức độ nặng của NKHH nên chúng tôi
chỉ ghi nhận những đợt bị NKHH cấp (sốt, ho và/ hoặc chảy mũi nước) và tần
suất bị bệnh.
2.2.5. Xử lý số liệu
n
%
Nam
34
52,3
28
43,8
> 0,05
Nữ
31
47,7
36
56,3
> 0,05
Tổng
10
0
Nhóm can thiệp
Nhóm chứng
Biểu đồ 3.1. Phân bố về giới giữa 2 nhóm
Nhận xét: Cho thấy không có sự khác biệt về giới giữa 2 nhóm nghiên cứu.
Bảng 3.2. Phân bố về tuổi trung bình và cân nặng trung bình của 2
nhóm trƣớc can thiệp
Tuổi trung bình
Cân nặng trung bình
Nhóm chứng
(x±SD)
n=64
33,9±10,5
11,3±1,6
Nhóm can thiệp
(x±SD)
n=65
32,3±12,8
11,1±3,8
p
> 0,05
>0,05
30
46,9
21
32,3
> 0,05
Buôn bán
16
25,0
14
21,5
> 0,05
Cán bộ
2
3,1
5
45
40
35
46.9
nhóm can thiệp
Nhóm chứng
32.3
30
25
25
21.5
20
18.5
20
15.6
15
3.1
5
Trình độ
Nhóm chứng
Nhóm can thiệp
văn hóa
n=64
n=65
p
n
%
n
%
Tiểu học
14
21,9
32
2
3,1
0
0,0
tổng
64
100
65
100
Tỷ lệ
80
%
71.9
70
60
49.2
50
Nhóm can thiệp
Biểu đồ 3.3. Phân bố về trình độ văn hóa của mẹ giữa 2 nhóm
Nhận xét:
Trình độ văn hóa của các bà mẹ hầu hết tập trung ở THCS, không có sự
khác biệt về trình độ văn hóa và PTTH và Đại học (p>0,05).
21
3.2. TÁC ĐỘNG CỦA BỔ SUNG KẼM ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG
Bảng 3.5. Phân loại mức độ suy dinh dƣỡng của 2 nhóm trƣớc can
thiệp kẽm
Nhóm chứng
Nhóm can thiệp
p
Mức độ
n=64
n=65
SDD
n
%
n
%
>0,05
SDD độ 1
38
59,4
36
55,4
>0,05
SDD độ 2
8
12,5
10
15,4
>0,05
SDD độ 1
38
59,4
35
53,8
>0,05
SDD độ 2
18
28,1
20
30,8
>0,05
SDD độ 3
0
0
0
0
Tỷ lệ
%
59.4
60
Nhóm chứng
Nhận xét:
Sau can thiệp 3 tháng nhóm bổ sung kẽm có 15,4% trẻ hết suy dinh
dưỡng, nhóm không can thiệp kẽm có 12,5% trẻ hết SDD. Sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.7. Phân loại mức độ suy dinh dƣỡng của 2 nhóm sau can
thiệp 5 tháng
Nhóm chứng
Nhóm can thiệp
n
%
n
%
Không SDD
13
20,3
23
35,4
>0,05
0
0
Mức độ SDD
Tỷ lệ
%
70
Nhóm chứng
60.9
60
p
Nhóm can thiệp
49.2
50
35.4
40
30
20.3
0.9
(kg)
0.9
0.8
0.8
0.7
p>0,05
0.6
0.5
Nhóm chứng
0.4
Nhóm CT
0.3
0.3
0.3
0.2
0.1
Thời
gian
nhóm chứng
1
0
3
5
tháng tháng
Thời
gian
(tháng
Biểu đồ 3.7. Đánh giá sự tăng chiều cao tích lũy sau 5 tháng can thiệp
Nhận xét:
- Sau 5 tháng can thiệp, trẻ ở cả 2 nhóm đều có sự tăng cân. Không có
sự khác biệt về sự tăng cân tích lũy giữa 2 nhóm.
- Có sự khác biệt về tăng chiều cao tích lũy giữa 2 nhóm. Nhóm bổ
sung kẽm có sự tăng chiều cao nhiều hơn so với nhóm chứng sau 5 tháng can
thiệp kẽm (p