soạn bài thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ - Pdf 31

Soạn bài thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ
Gợi ý trả lời câu hỏi
I. Ẩn dụ :
Câu 1. Trong câu ca dao :

“Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Thì “thuyền”, “bến” không phải là để chỉ thuyền và bến, mà nó là hình ảnh để nhân vật trữ tình gửi gắm tình
cảm, mượn hình ảnh thuyền và bến để nói chuyện đôi lứa. Ở đây có sự so sánh ngầm giữa các đối tựng có
tính tương đồng, “thuyền” là nhân vật nam (thuyền: thường di chuyển, chỉ người con trai), “bến” là nhân vật
nữ (cố định, chỉ người con gái ở lại đợi chờ). Thay vì nói:
Chàng ơi có nhớ thiếp chăng
Thiếp thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Thì cách nói trên ý nhị hơn, kín đáo hơn.
a. Khác với câu ca dao ở trên, câu:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ, con đò khác đưa.
Hình ảnh “cây đa bến cũ” và “con đò” trong câu ca dao thứ hai lại có ý nghĩa khác, không phải là chỉ nhân
vật trữ tình, mặc dù bề ngoài thể hiện lại giống như câu ca dao ở câu thứ nhất. Nội dung mà câu này gửi
gắm là tình yêu không thành. “Cây đa bến cũ” là nói đến tình yêu chung thủy của người con trai, anh vẫn
một lòng hướng về người con gái mình yêu (cây đa bến cũ: bến vẫn ở chỗ cũ, ý nói sự chung thủy, không
thay đổi), thế nhưng, người con gái anh yêu đã đi theo người khác (con đò khác: chỉ một người con trai
khác).
Do đó để hiểu một câu ca dao có sử dụng phép ẩn dụ hay hoán dụ, chúng ta cần đặt câu ca dao đó vào một
khung cảnh giao tiếp nhất định để có thể hiểu đúng điều mà ca dao gửi gắm.
Câu 2. Gợi ý:
(1) Hình ảnh ẩn dụ: lửa lựu (hoa lựa đỏ như lửa nên gọi là lửa lựu). Cách nói ấn dụ này đã miêu tả được
cảnh sắc rực rỡ của cây lựu, đồng thời nói lên sức sống mãnh liệt của cảnh vật ngày hè.
(2) Biện pháp ẩn dụ được dùng là: thứ văn nghệ ngòn ngọt, sự phè phỡn thỏa thuê, cay đắng chất độc của
bệnh tật, tình cảm gầy gò, cá nhân co rúm. Ý nói đến thứ văn nghệ mơ mộng, trốn tránh thực tế, hoặc
không phản ánh đúng bản chất hiện thực (… thứ văn nghệ ngòn ngọt bày ra sự phè phỡn thỏa thuê hay cay

quan hệ giữa trầu và cau, đều là mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời và khi kết hợp lại thì rất thắm
thiết. Cách nói lấp lửng trầu không thôn nào thực chất là ám chỉ người ở thôn Đông. Nó tạo cho câu thơ nét
duyên dáng, ý nhị.
b. Câu Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông là dùng phép hoán dụ, lấy địa danh thôn Đoài, thôn Đông để thay thế
cho người thôn Đoài và người thôn Đông khác với Thuyền ơi có nhớ bến chăn… là phép ẩn dụ, dùng thuyền
và bến chỉ hai nhân vật trữ tình yêu nhau.
Câu 3. Mẫu

“Áo dài” của lớp tôi vừa học giỏi vừa dịu dàng. Làm toán, làm lý, các nàng không bao giờ chịu thua cánh con
trai chúng tôi. Mỗi khi tranh luận về một bài tập nào đó, các nàng luôn bảo vệ ý kiến mình. Lời lẽ nhỏ nhẹ
nhưng lại chặt chẽ vô cùng. Vậy nhưng trong quan hệ với bạn bè, các nàng lại rất dễ thương. Các nàng cỗ vũ
chúng tôi đá banh, mang cho chúng tôi những ly nước chanh mát lạnh, chăm sóc vết thương cho các “chân
sút” trong lớp. Bọn con trai chúng tôi vừa nể vừa quý các nàng. Còn tụi con trai các lớp khác luôn bảo: “Con
gái A5 là nhất!”.


Áo dài: Đồng phục của nữ sinh. Lấy tên trang phục của nữ sinh để chỉ nữ sinh (biện pháp hoán dụ).
Chân sút: Chân đá banh, chỉ các cầu thủ của lớp. Lấy bộ phận của người để chỉ người (biện pháp hoán dụ).




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status