TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ X
TRƯỜNG THPT CHUYÊN TUYÊN
QUANG
*
MÔN: LỊCH SỬ
CHUYÊN ĐỀ:
ĐÓNG GÓP CỦA NHÀ YÊU NƯỚC PHAN BỘI CHÂU
TRONG PHONG TRÀO YÊU NƯỚC ĐẦU THẾ KỈ XX
Tác giả: Trần Quỳnh Chi – Nguyễn Thị
Thu Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường THPT Chuyên tỉnh Tuyên
Quang
I- Khái quát một số vấn đề về cuộc đời và hoạt động của nhà yêu
nước Phan Bội Châu trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX:
1. Tiểu sử:
Phan Bội Châu ( 1867- 1940) tên thật là Phan Văn San, biệt hiệu Sào
Nam, sinh năm 1867 tại thôn Sa Nam, xã Đồng Liệt( nay là xã Xuân Hòa,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Ngay từ khi còn nhỏ, PBC nổi tiếng thông
minh học giỏi. Mười ba tuổi, thi đỗ đầu huyện, mười sáu tuổi đỗ đầu tỉnh.
Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, nơi quê hương vốn giàu
truyền thống yêu nước, Phan Bội Châu sớm có nhiệt tình cứu nước. Năm 17
tuổi khi Pháp đánh Bắc kì lần thứ nhất ( 1883), Phan Bội Châu viết hịch “
Bình Tây thu Bắc” để kêu gọi thân hào, nhân dân đứng lên chống Pháp. Năm
1885, kinh đô Huế thất thủ, hưởng ứng chiếu Cần Vương, thân hào xứ Nghệ
nổi lên mạnh mẽ, Phan ( 19 tuổi) đã lập “ Đội Thí sinh quân” gồm hơn 60
người để hưởng ứng.
Tiếp đó, là mười năm Phan Bội Châu dạy học, mở rộng giao du, tìm
nững người đồng tâm, đồng chí. Năm 1900 sau khi đỗ giải nguyên và cụ thân
sinh mất, ông chính thức bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng chiến đấu
cho độc lập, tự do của dân tộc.
a) Duy Tân Hội và Phong trào Đông Du.
Thực hiện chủ trương làm cách mạng bằng “ bạo lực” để cứu nước,
Phan Bội Châu tìm cách liên hệ với các văn thân sĩ phu yêu nước trong các
phong trào đấu tranh chống Pháp, liên kết dư đảng Cần Vương, những tay
tráng kiệt sơn lâm, những người có thế lực trong triều đình… khắp Bắc,
Trung, Nam. Phan Bội Châu muốn thực hiện kế hoạch liên kết cả dân tộc
thành một khối thống nhất, hình thành mặt trận dân tộc thống nhất sơ khai.
Sau một qua trình vận động xây dựng phong trào ở Bắc, Trung, Nam,
Phan Bội Châu nhận thấy cần có một tổ chức cách mạng mới và biện pháp
đấu tranh mới là “ bạo động”, “ xuất dương, cầu viện” và “ chuẩn bị điều
kiện để tiến hành bạo động đại quy mô, khôi phục nước VN, lập ra chính phủ
độc lập”. Năm 1904, Phan Bội Châu cùng hơn 20 đồng chí khác, thành lập tổ
chức Duy Tân Hội, tôn Cường Để làm Hội chủ để “ thu phục nhân tâm”, tập
hợp sĩ phu yêu nước, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của những người
trong nước. Mục đích chính của Hội là đánh Pháp, giành lại độc lập cho dân
tộc. Căn cứ vào việc tôn Cường Để làm Hội chủ, chứng tỏ rằng Duy Tân Hội
2
vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa quân chủ, nhưng đây là quân
chủ lập hiến.
Để thực hiện mục đích trên, Hội đã đề ra 3 nhiệm vụ:
(1) Mở rộng thế lực của Hội về người và tài chính.
(2) Xúc tiến công việc chuẩn bị bạo động.
(3) Trù liệu cử người xuất dương cầu viện.
=> Trong ba nhiệm vụ đó, chủ trương xuất dương cầu viện là quan
trọng nhất.
Ý nghĩa: Sự thành lập Duy Tân Hội đánh dấu một bước tiến quan
trọng về tư tưởng và tổ chức cứu nước của những người yêu nước Việt Nam
trên con đường chống Pháp, phù hợp với quy luật phát triển của nước ta lúc
Nhằm thức tỉnh quốc dân, Phan Bội Châu và các nhà lãnh đạo Duy Tân
Hội đã sáng tác nhiều thơ văn, như: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết
thư, Đề tỉnh quốc dân hồn… vạch rõ kẻ thù chính của dân tộc là thực dân
Pháp xâm lược và tố cáo bọn phong kiến thối nát.
Đồng thời với việc dùng văn thơ tuyên truyền nâng cao tinh thần yêu
nước, tinh thần đoàn kết, Phan Bội Châu tích cực các hoạt động mở rộng
giao du và liên kết các nhân sĩ cách mạng trong và ngoài nước. Phan Bội
Châu đã gặp Tôn Trung Sơn, Lương Khải Siêu, qua tiếp xúc ông hiểu thêm
về tư tưởng dân chủ tư sản và biện pháp đấu tranh bằng “bạo động vũ trang”.
Cuối năm 1906, Phan Bội Châu gặp Hoàng Hoa Thám ở Phồn Xương (Yên
Thế). Hoàng Hoa Thám hứa sẽ tham gia vào Duy Tân Hội khi có điều kiện.
Sau đó, Phan Bội Châu còn tiếp xúc với một số nhân sĩ cách mạng ở Bắc kì,
Trung kì bàn về việc mở rộng các cuộc diễn thuyết tuyên truyền việc chuẩn
bị cho “ bạo động vũ trang”. Bên cạnh đó, Phan Bội Châu còn cùng với các
chí sĩ lưu vong Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ hiện sống ở Nhật thành lập
tổ chức Đông Á đồng minh hội ( 1909) để liên hiệp các nước châu Á cùng
giúp đỡ nhau trong công cuộc cứu nước. Phan Bội Châu còn sáng kiến thành
lập Hội Điền- Quế- Việt liên minh nhằm thu hút sự tham gia của các học
sinh người Vân Nam, Quế Châu vả các nhà hoạt động CM Việt Nam với
mục đích giúp đỡ nhau giải phóng đất nước khỏi ách thống trị và ràng buộc
của đế quốc.
Trước ảnh hưởng và uy tín của Phan Bội Châu cũng như phong trào
Đông du ngày càng lớn, thực dân Pháp một mặt tăng cường khủng bố, mặt
khác thỏa hiệp, nhượng cho Nhật một số quyền lợi ở Đông Dương, với điều
kiện phải trục xuất Phan Bội Châu và những người yêu nước Việt Nam khỏi
nước Nhật. Tháng 9- 1908, Nhật trục xuất du học sinh Việt Nam. Tháng 21909 Phan Bội Châu cũng bị trục xuất khỏi nước Nhật. Thất bại của phong
trào Đông du đã thức tỉnh Phan Bội Châu một bài học quý giá: Đã là đế quốc
thì dù da vàng hay da trắng cũng đều là một phường cướp nước như nhau.
Ý nghĩa của Duy Tân Hội và phong trào Đông Du:
+ Duy Tân Hội trong suốt thời kì từ 1904- 1911 thực sự đóng vai trò
khác, sự ra đời của VNQPH đánh dấu một bước tiến mạnh hơn trong tư
tưởng của PBC và những người lãnh đạo CMVN bấy giờ trên con đường dân
chủ tư sản, từ chủ trương Quân chủ Lập hiến của Duy Tân Hội sang chủ
trương Cộng hòa dân quốc của VNQPH.
Hoạt động của Việt Nam quang phục hội chủ yếu trong nước, chủ
trương ám sát những tên trùm thực dân và bọn tay sai đắc lực của chúng, gây
tiếng vang lớn, khôi phục lại phong trào yêu nước trên phạm vi cả nước.
Nhưng chỉ sau vụ giết tuần phủ Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình và giết hại
trung tá Pháp ở Hà Nội, hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang Phục Hội
tạm lắng xuống do Pháp khủng bố, bắt giam hàng trăm người.
Tháng 1- 1914, Phan Bội Châu bị bắt giam ở Quảng Đông. Cuối năm
1917, sau khi thoát khỏi nhà tù, Phan Bội Châu định trở về nước phát động
một cuộc “bạo động vũ trang” nhưng không thành. Từ năm 1920, trước ảnh
hưởng ngày càng vang dội của cách mạng tháng Mười, Phan Bội Châu bắt
đầu có sự chuyển biến tư tưởng, cảm tình với chủ nghĩa xã hội. Cuối năm
1924, trong lần tiếp xúc trao đổi với đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Quảng
Châu, PBC nhận thức được sự hạn chế của mình và đặt nhiều hi vọng vào
Nguyễn Ái Quốc. Tháng 6- 1925 Phan Bội Châu bị mật thám bắt ở Thượng
Hải, sau đó đưa về giam ở Hỏa Lò ( Hà Nội). Trước khí thế đấu tranh mạnh
5
mẽ của quần chúng, tháng 12- 1925, thực dân Pháp phải xóa bỏ án tử hình và
đưa ông về giam lỏng ở Huế cho đến lúc qua đời ( 29- 10- 1940).
4. Ý nghĩa của những hoạt động của Phan Bội Châu.
- Kế tục truyền thống thượng võ của cha ông, tiếp tục truyền thống
khởi nghĩa vũ trang chống Pháp, chống xâm lược của nhân dân ta cuối thế kỉ
XIX.
- Tư tưởng của Phan Bội Châu khác tư tưởng bạo động của các sĩ phu
Cần vương ở chỗ tách khỏi tư tưởng trung quân, đoạn tuyệt với phong kiến,
Bối cảnh trong nước:
- Phong trào Cần Vương thất bại, con đường cứu nước theo hệ tư tưởng
phong kiến bị phá sản, chấm dứt vai trò lịch sử của nó.
- Thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa I (chính trị,
kinh tế, văn hóa – ngắn gọn)
- Chuyển biến trong kinh tế, xã hội.
+ Sự nảy sinh các giai cấp tầng lớp mới
+ Giai cấp cũ bị phân hóa sâu sắc
+ Tầng lớp sĩ phu nho học mới xuất hiện trong quá trình phân hóa của
tầng lớp sĩ phu cũ, trừ một số đi vào con đường yếm thế, đa số vẫn ôm mộng
cứu nước cứ dân.
Bối cảnh thế giới có những sự kiện ảnh hưởng:
+ Nhật Bản được coi là cứu tinh của các dân tộc da vàng…
+ Cải cách của Trung Quốc, nơi được coi là cái nôi của văn hóa Nho
giáo, vạn lí trường thành vững chắc, biểu trưng của chế độ pk cũng bị lung
lay…
+ Làn sóng duy tân, đổi mới ở nhiều nước Đông Nam Á như Thái Lan,
Xingapo, Philippin…
+ Châu Âu: Pháp…
-> Đó là những nước có chế độ chính trị gần như tương đồng với nước
ta, chỉ ra cho những người yêu nước Việt Nam một con đường cứu nước
mới. Đó là muốn cứu nước, phải đi theo con đường TBCN, phải đoạn tuyệt
với phong kiến hoặc ít nhất là cải tiến chế độ.
->Từ những luồng tư tưởng trên, các nguồn tài liệu tân thư tân văn xuất
hiện như Văn minh tân học sách ( Sách dạy làm văn minh), những từ dân
ước, dân nguyện, dân chủ, dân sinh lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn sách
này.
* Vì sao PBC chủ trương bạo động?
Theo PBC, độc lập không thể đi xin được “nợ máu phải trả bằng máu”.
Theo PBC trong hoàn cảnh một nước thuộc địa mà bất kì một sự phản kháng
+ Phong trào truyền bá một số tư tưởng đúng đắn của PBC như: xác
định đúng kẻ thù chính của dân tộc Việt Nam là thực dân Pháp; đề ra con
đường mới: đó là con đường cách mạng vũ trang giành độc lập dân tộc.
Đề 3: Phân tích ý nghĩa của những hoạt động yêu nước của Phan
Bội Châu?
Gợi ý trả lời:
+ Kế tục truyền thống thượng võ của cha ông, tiếp tục truyền thống
khởi nghĩa vũ trang chống Pháp, chống xâm lược của nhân dân ta cuối thế kỉ
XIX.
+ Tư tưởng của PBC khác tư tưởng bạo động của các sĩ phu Cần vương
ở chỗ tách khỏi tư tưởng trung quân, đoạn tuyệt với phong kiến, chuyển yêu
nước sang lập trường DCTS.
Tiếp thu ngày càng sâu sắc tư tưởng dân chủ và hướng cuộc đấu tranh
của nhân dân vào con đường cách mạng mới.
8
+ Xu hướng bạo động cuối cùng thất bại, nhưng để lại nhiều bài học
kinh nghiệm cho đời sau. Riêng PBC được đánh giá “ vị anh hùng…”
+ Thơ văn yêu nước của PBC góp phần thức tỉnh quốc dân đồng bào…
III- Một số đánh giá, nhận định của các nhà nghiên cứu về cuộc đời
và sự nghiệp của Phan Bội Châu:
Đương thời, nhà chí sĩ Phan Châu Trinh đã viết về Phan Bội Châu như
sau: “Phan Bội Châu nhận hẳn rằng người Pháp quyết không có thiệt lòng
khai hóa cho người Nam, nên nói việc khai hóa, trước phải tìm cách đánh đổ
chính phủ Pháp, mà muốn đánh đổ chính phủ Pháp, không nhờ cậy thế lực
một nước mạnh ngoài, thì tự người Nam không làm gì được. Hiện nay nước
mạnh duy có Nhật Bản là nước đồng văn đồng chủng nên cầu viện với Nhật
Bản...”
(Phan Châu Trinh, Cuộc nói chuyện với quan Thống soái Sài Gòn trên đảo
Đinh Xuân Lâm (chủ biên) - Nguyễn Văn Khánh - Nguyễn Đình
Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 2). Nhà xuất bản Giáo dục, 2006.
Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Sự, Lịch sử Việt
Nam (1897-1914). Nhà xuất bản Xây dựng.
10
4.
5.
6.
Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông. NXB Văn hóa –
Thông tin, H, 1997
Đinh Xuân Lâm (cb), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2006.
Sách giáo khoa lịch sử 11 Nâng cao, NXB Giáo Dục, HN năm 2013
11