MỘT số vấn đề cơ bản về PHÁT LUẬT bảo vệ RỪNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HUYỀN

Một số vấn đề cơ bản về phát luật bảo vệ rừng ở
Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: TS. Vũ Quang

Hà nội - 2004


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................................. 1

MỞ ĐẦU…… ………………………………………………………………………………………………………………………………….2
CHƯƠNG 1 Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÒ ................................................. 5
CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG ..................................................................... 5
1.1. RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG:........................................... 5
1.2. PHÁP LUẬT - CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG………………..11
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM ..10
2.1. KHÁI LUẬN LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM: ............................10
2.1.1. Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam: ....................................11
2.1.2. Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc: .............................................................11
2.1.3. Pháp luật bảo vệ rừng của Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay. ..................................12
2.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG VIỆT NAM: ...................24
2.2.1. Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng: ....................................................................15
2.2.2. Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng: .................................................................................27

2


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các nước Đông nam á

ADB

Ngân hàng phát triển châu á

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BV&PTR

Bảo vệ và phát triển rừng

CBD

Công ước Đa dạng sinh học 1992

CITES



KH&ĐT

Kế hoạch và đầu tư.

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

RAMSAR

Công ước quốc tế về bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm
quan trọng quốc tế, 1971.

UBND

Uỷ ban nhân dân.

UNDP

Chương trình phát triển Liên hợp quốc.

WB

Ngân hàng thế giới.

WWF

Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới.


và một hệ thống văn bản đồ sộ. Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo vệ và phát triển
rừng đạt được chưa cao, rừng vẫn ngày một bị thu hẹp, cháy rừng thường xuyên đã
trở thành vấn đề thời sự. Hậu quả gây ra trực tiếp từ việc mất rừng và suy thoái
rừng như lũ lụt, hạn hán, lở đất, đặc biệt là những trận lụt lịch sử diễn ra ở vùng
Tây Bắc, vùng ven biển miền Trung và bão lớn ở Nam bộ trong những năm gần
đây.

-3-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Do đó việc nghiên cứu tiến tới nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng ở
Việt Nam có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, có vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ rừng, bảo tồn và phát huy các giá trị quí báu mà rừng
mang lại cho đất nước, cho xã hội và cho mỗi người, góp phần thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà dân tộc ta đang trên
con đường tiến tới.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ các
qui định của pháp luật về bảo vệ rừng. So sánh pháp luật bảo vệ rừng ở nước ta
với pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia khác nhằm tham khảo những kinh
nghiệm quốc tế quý báu. Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam
và đưa ra phương hướng hoàn thiện về mặt xây dựng pháp luật bảo vệ rừng cũng
như cách thức tổ chức thực hiện.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :


việc bảo vệ rừng.
Chƣơng 2 - Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam.
Chƣơng 3 - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo vệ
rừng ở Việt Nam.
Phần kết luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.

-5-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

CHƢƠNG 1
Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG
1.1. RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

Từ xa xưa diện tích rừng tự nhiên đã che phủ phần lớn bề mặt của trái đất,
nhưng do tác động của con người diện tích rừng tự nhiên giảm đi đáng kể. Chỉ
tính riêng giai đoạn 1990- 1995 ở các nước phát triển có hơn 65 triệu ha rừng bị
mất, tính đến năm 1995 diện tích rừng của toàn thế giới kể cả rừng tự nhiên và
rừng trồng chỉ còn 3454 triệu héc ta (số liệu của FAO – 1997), tỷ lệ che phủ chỉ
chiếm khoảng 35%. Hiện nay, mỗi tuần trên thế giới có khoảng 500 000 héc ta
rừng tự nhiên bị mất hoặc bị thoái hoá. Tổng diện tích rừng trên toàn cầu là
3.869 triệu ha, rừng tự nhiên là 3.682 triệu ha và rừng trồng là 187 triệu ha [21].
Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng có khoảng 14,3 triệu héc ta, tỷ lệ
che phủ khoảng 43%, năm 1995 tổng diện tích rừng và đất rừng cả nước khoảng
19,03 triệu héc ta; trong đó chỉ có 8,25 triệu héc ta rừng tự nhiên và 1,05 triệu

- Rừng có ảnh hưởng tổng hợp đến các nhân tố khí hậu, thuỷ văn. Vùng
rừng núi, vùng đồng bằng, vùng sa mạc... có chế độ khí hậu hoàn toàn khác
nhau. Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ gió của từng địa phương. Chế độ
gió thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi chế độ nhiệt và độ khô ẩm của không khí.
- Rừng là chướng ngại trên đường di chuyển của gió, làm thay đổi tốc độ
và hướng gió. Rừng làm thay đổi tốc độ gió ở xung quanh rừng trong một phạm
vi nhất định ở mặt đón gió cũng như ở mặt khuất gió. Phạm vi ảnh hưởng của
rừng khiến gió phụ thuộc vào chiều cao của rừng - rừng càng cao thì phạm vi
ảnh hưởng của rừng đến gió càng lớn. Ảnh hưởng của rừng đến gió còn phụ
thuộc vào cấu trúc của rừng, rừng có cấu trúc nhiều tầng thì ảnh hưởng của rừng
đến gió càng nhiều.
- Rừng là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để cân bằng khí CO 2 và O2
trong khí quyển thông qua quá trình quang hợp. Thảm thực vật rừng trên thế
giới giữ vai trò quyết định trong chu trình tuần hoàn các-bon tự nhiên trong khí
quyển. Nếu không có chu trình này thì chỉ trong 30 - 35 năm, toàn bộ CO2 trong
khí quyển sẽ bị tiêu hao hoàn toàn, sự sống sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
- Trong những thập kỷ vừa qua, do đốt phá rừng làm nương rẫy, mở mang
diện tích đất canh tác không hợp lý, do phát triển công nghiệp ồ ạt nên tỷ lệ CO 2
trong khí quyển tăng dần gây ra hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ của trái đất cũng

-8-


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

tăng lên. Điều đó còn chứng tỏ vai trò của rừng trong việc cân bằng nhiệt độ
trong không khí.
Ngược lại, nhiệt độ là một nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong


Nguyễn Thanh Huyền

- Ngược lại, nước cũng là nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong
đời sống của cây rừng. Cùng với nhiệt độ, nước là nhân tố ảnh hưởng đến sự
phân bố rừng trên thế giới. Nước là một trong những điều kiện cần thiết để hạt
giống nảy mầm, xúc tiến quá trình thoát hơi nước và hấp thu chất dinh dưỡng
khoáng... Nước ảnh hưởng đến rừng dưới 3 dạng: mưa, độ ẩm không khí và độ
ẩm đất. Lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm có ảnh hưởng trực tiếp đến
thời kỳ sinh trưởng của cây rừng. Cường độ mưa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
hấp thu nước của thực vật rừng và độ xói mòn đất nhất là trong điều kiện địa hình
đồi núi.
- Ở nước ta, nhìn chung lượng mưa cao lại phân bố không đều, cường độ
mưa lớn nên khả năng gây ra xói mòn đất rất lớn. Sự bào mòn tầng mặt đất màu
mỡ trong lưu vực thượng nguồn là nguyên nhân làm tăng nồng độ phù sa của
những dòng sông. Riêng sông Hồng hàng năm đổ ra biển từ 80-130 triệu tấn phù
sa. Nhiều hồ thuỷ điện ở nước ta bị cạn dần do xói mòn đất xuống lòng hồ. Phá
rừng đốt nương rẫy làm giảm độ che phủ của tán rừng và kết quả là gây ra xói
mòn đất nghiêm trọng và đất đai thoái hóa.
1.1.3. Vai trò tác dụng của rừng đến đất
Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến đất thông qua sự rơi rụng của cành lá
cây rừng, thảm mục rừng tạo ra sự tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng,
thông qua đó rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất.
Vật rơi rụng và thảm mục rừng.
- Vật rơi rụng như cành, lá, hoa quả rụng xuống đất là nguồn cung cấp
chất hữu cơ cho đất rừng. Vi sinh vật phân giải, vật rơi rụng biến thành thảm
mục rừng. Thảm mục là thành phần đặc trưng chỉ có trong hệ sinh thái rừng.
Thảm mục là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng làm tăng độ phì nhiêu của
đất. Thảm mục có tác dụng điều tiết nguồn nước, ngăn cản dòng chảy, hút một
lượng nước lớn làm giảm lưu lượng dòng chảy, tăng lượng nước thấm vào đất,

Rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất:
- Ảnh hưởng của rừng đến quá trình hình thành đất thông qua tác dụng
của vật rơi rụng, thảm mục rừng, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng. Tiểu
khí hậu dưới tán rừng có ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành đất. Động vật
rừng, vi sinh vật trong rừng cải thiện tính chất lý học, hoá học của đất. Rễ cây
rừng chằng chịt dưới đất làm cho đất tơi xốp thoáng khí, có độ hút nước cao.
Mỗi loại rừng khác nhau ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất khác nhau. Đất

- 11 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

rừng lá thưa, đất rừng lá rộng, đất rừng tre nứa... đều có những đặc trưng khác
nhau.
1.1.4. Vai trò, tác dụng của rừng đến việc chống ô nhiễm và làm sạch
không khí.
Rừng có khả năng làm sạch không khí.
- Hô hấp của sinh vật nói chung và con người nói riêng, các chu trình đốt
cháy, công nghiệp hoá luôn thải các chất CO 2 vào khí quyển. Nếu không có quá
trình quang hợp của thực vật, đặc biệt là cây rừng sử dụng CO2 thì cân bằng CO2
và O2 trong khí quyển sẽ bị phá huỷ và loài người không thể tồn tại được. Để
đảm bảo quang hợp bình thường hàng năm mỗi hecta rừng cần 4 tấn Cácbonic
tương đương với hàm lượng CO2 có trong 1.800.000m3 không khí.
- Rừng là một “nhà máy lọc bụi” khổng lồ. Theo tài liệu của Menden
(1956): một hecta rừng cây Vân Sam có khả năng hút 32 tấn bụi trong không
khí; rừng thông: 36,4 tấn, người ta gọi đây là khả năng chống nhiễm bẩn vật lý
môi trường của rừng [9].

Tóm lại, ảnh hưởng của rừng đến môi trường mang tính tổng hợp như đất,
nước, không khí... và rừng là yếu tố cơ bản để duy trì cân bằng sinh thái của môi
trường. Rừng không còn thì sự sống của loài người sẽ bị đe doạ. Số phận của
rừng là số phận của hành tinh chúng ta. Nếu như giá trị kinh tế của rừng (gỗ và
đặc sản) có thể xác định được thì chức năng bảo vệ và cải tạo môi trường sống
của rừng trở nên vô giá đối với sự sống còn của loài người.
Chính vì ý nghiã và vai trò to lớn đó của rừng mà ngày nay hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề phát triển và bảo vệ rừng. Nó
không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà là vấn đề toàn cầu. Thế giới
đã có rất nhiều các hội nghị bàn về môi trường nói chung mà đặc biệt là môi
trường rừng. Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên Hợp
Quốc họp tại Brazin tháng 6 năm 1992 đã chính thức thừa nhận phương châm
“phát triển bền vững” là mục tiêu phát triển lâu dài cần đạt được của mọi quốc
gia. Quan điểm chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp
ứng các nhu cầu của thế hệ hôm nay không tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu
của thế hệ mai sau.
1.2. PHÁP LUẬT- CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG.

Lịch sử thế giới đã ghi nhận những hậu quả nặng nề của nhiều dân tộc do
tình trạng phá rừng mà nhiều quốc gia đất đã bị sa mạc hoá, thiếu đất canh tác,
mùa màng thất bát, nạn đói và thiếu nước đe doạ thường xuyên. Mất rừng sẽ làm
mất luôn khả năng điều tiết và duy trì nguồn nước, làm cho lũ lụt và hạn hán xảy
- 13 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

ra thường xuyên hơn. Mất rừng do tình trạng chặt rừng, đốt rừng làm nương rẫy



Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

chim thú rừng. Đến thời kỳ gần đây, Pháp lệnh về bảo vệ rừng ngày 11/9/1972 ,
Luật bảo vệ môi trường 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng1991, Luật đất đai
1993 (được sửa bổ sung năm 1997, 1998, 2000, 2001), Luật phòng cháy chữa
cháy 2001 ...
Có thể đánh giá pháp luật bảo vệ rừng có một bề dày lịch sử trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Điều đó thể hiện nhận thức cực kỳ đúng đắn của Nhà
nước tới công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như coi trọng việc quản lý, bảo
vệ rừng.
- Để thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ rừng, Nhà nước với tính cách
là chủ thể đặc biệt quản lý xã hội, có thể thực hiện nhiều phương thức, biện pháp
khác nhau để giữ gìn và phát triển vốn rừng hiện có. Tuy nhiên, công cụ hữu
hiệu nhất để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc quản lý rừng
chính là pháp luật. Chỉ có thể thông qua pháp luật và bằng pháp luật, Nhà nước
mới có thể điều chỉnh hành vi của các chủ thể tới rừng phát triển đúng hướng.
Sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc bảo vệ rừng thể hiện ở chỗ một mặt
Nhà nước xây dựng một hệ thống các qui phạm đầy đủ và đồng bộ qui định chặt
chẽ các nguyên tắc và phương thức khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển
rừng, các tài nguyên và hệ sinh thái rừng. Mặt khác, bảo đảm thực hiện các qui
phạm đó bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước. Trong những giai đoạn phát
triển cụ thể của xã hội, chức năng quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước sẽ được
thực hiện thông qua công cụ pháp luật với các giá trị khác nhau: chiến lược,
chính sách, qui hoạch, kế hoạch, phương thức quản lý và sử dụng các tài nguyên
và bảo vệ rừng. Có thể nói, sự hiện diện của pháp luật là một đòi hỏi tất yếu
khách quan đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng (nguồn tài nguyên quí

CHƢƠNG 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG
Ở VIỆT NAM
2.1. KHÁI LUẬN VỀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM

2.1.1. Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam:
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, rừng là một loại tài nguyên
thuộc sở hữu các vương triều (nhà vua) nhưng trong thực tế người dân vẫn tự do
vào rừng khai thác, hái lượm, kết hợp với săn bắt thú rừng. Cùng với sự phát
triển của lịch sử, các triều đại phong kiến ở nước ta cũng có quy định luật lệ
thành văn về lâm nghiệp, trước hết là các thể lệ về thu thuế các sản vật của rừng.
Như sách “ Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú đã ghi vào tháng
3/1013 vua Lý Thái Tổ đã định ra lệ thu thuế sản vật rừng, có 6 loại thuế khác
nhau, trong đó có các loại thuế liên quan đến sản vật khai thác ở rừng như : thuế
sản vật núi rừng, thuế sừng tê giác, ngà voi, thuế thu vào các loại hương liệu
- 16 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

khai thác của dân Mạn Lào (dân tộc ít người), thuế thu vào gỗ, và các loại hoa
quả ở đầu nguồn [30].
Trong Quốc triều hình luật của triều đại nhà Lê (năm 1428-1788) cũng đã
có điều luật quy định về lĩnh vực bảo vệ rừng - điều 22 trong chương Tạp luận
quy định : Người chiếm cứ những hoa lợi ở núi, rừng, hồ, đập thì xử phạt 60
trượng [35, tr 201].
Nội dung chủ yếu của các qui định trên nhằm bảo vệ chế độ sở hữu của
vua chúa đối với tài nguyên rừng. Ngoài ra, các triều đại phong kiến cũng đã có

phong kiến chứ chưa đặt ra ý thức về vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo
vệ rừng và phát triển bền vững cho các đời sau. Mặc dù vậy những qui định đó
cũng thể hiện hành động cụ thể trong việc bảo vệ rừng và tài nguyên rừng.
2.1.2. Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc
Người Pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm 1858. Ngay khi vào Việt
Nam, chúng đã tiến hành mọi chương trình khai thác, vơ vét tài nguyên một
cách triệt để, trong đó có tài nguyên rừng. Năm 1875, người Pháp ban hành quy
chế cấp giấy phép khai thác, thủ tục trình báo khi khai thác, vận chuyển gỗ, và
quy định đường kính tối thiểu được phép khai thác đối với 43 loại gỗ, phân
thành 4 nhóm. Hầu hết cấp đường kính tối thiểu được phép khai thác là 45cm
[30]. Theo quy tắc này, gỗ được khai thác rất tự do để kiếm lời. Chính vì vậy,
trong những thập kỷ đầu xâm lược và đô hộ nước ta, rừng ở các tỉnh Nam Kỳ bị
phá hoại rất nhanh chóng, làm cho nhà cầm quyền có những lo lắng và bắt đầu
đề ra những biện pháp chặt chẽ hơn để quản lý và bảo vệ rừng.
Vì vậy, ngay từ năm 1891 và sau đó 1894 Pháp đã ban hành Nghị định
liên tiếp về việc thiết lập các khu rừng cấm (Reseive Forestiere). Đó là những
khu mà ở đó cấm hẳn các hành động khai thác tự do. Thời Pháp thuộc cũng như
thời phong kiến, song có nhiều điểm tiến bộ, đã có những chính sách quan tâm
tới vấn đề bảo vệ rừng cho dù vì mục đích thương mại, ví dụ: Người khai thác
phải khai thác theo một quy tắc nhất định để đảm bảo tái sinh các khu rừng này
trong một chu kỳ từ 15 đến 20 năm. Ở các khu rừng cấm, người khai thác phải
áp dụng kỹ thuật đánh dấu các cây được chặt và phải giữ lại những cây non của
các cây có giá trị để làm cho các khu rừng ngày càng có nhiều loại gỗ quí có giá
trị thương mại cao hơn. Ba khu rừng cấm đầu tiên được thiết lập ở Thủ Dầu
Một. Việc thiết lập các khu rừng cấm và những quy định về những quy tắc khai
thác gỗ ở những khu rừng đó theo các Nghị định ban hành năm 1891 được xem
là “hòn đá tảng” về quy tắc quản lý rừng trong những năm sau đó.

- 18 -


chính. Ngày 16/11/1947 Bộ Canh Nông đã ban hành Nghị định số 300B ấn định
cách tính giá bán lâm sản và trong những năm kháng chiến, Bộ Canh Nông đã
nhiều lần sửa đổi chế độ thu tiền bán lâm sản như : quy định các cơ quan nhà
nước khi được khai thác lâm sản đều phải trả tiền bán lâm sản, để lại cho ngân
sách xã có rừng một số tiền trong tổng số tiền bán khoán lâm sản thu được.
- 19 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

Ngày 21/8/1954 Bộ Canh nông và Bộ Tài Chính đã ban hành Nghị định liên bộ
số 8CN/TN/ND quy định cách tính tiền bán lâm sản phải trả cho nhà nước. Văn
bản này còn được áp dụng trong suốt giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc. Ngày 12/3/1954 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số
366/TTg về việc trồng cây gây rừng. Thông tư này đã xác định chính sách sử
dụng đất đai công thế vào mục đích trồng rừng (quyền sở hữu đất đai vẫn là của
quốc gia) và chính sách hưởng lợi “ai gây rừng thì đƣợc quyền hƣởng hoa
lợi về cây cối đã trồng”, “chính quyền phải cử cán bộ chuyên môn để
giúp dân và có thể ƣơm cây con (nhƣ cây phi lao) để bán lại cho nhân
dân” [41]. Có thể nói, đây là chính sách hết sức tiến bộ trong thời kì này mặc dù
quy định đất đai thuộc sở hữu của nhà nước nhưng người gây rừng thì lại được
toàn quyền hưởng hoa lợi về cây cối đã trồng. Chính sách này thúc đẩy nhân dân
gây trồng và bảo vệ rừng.
Về thể chế bảo vệ rừng, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu lâm sản được
chính phủ rất quan tâm. Ngày 5/11/1945 Uỷ ban nhân dân Bắc Bộ đã ban hành
Thông tư số 828 gửi Chủ tịch UBND các tỉnh Bắc bộ về việc bảo vệ và duy trì
rừng, ra mệnh lệnh “cấm chỉ nhân dân không ai đƣợc tự tiện khai khẩn hoặc
đốt phá rừng núi” [42].

trương định canh ở miền núi, quy hoạch sử dụng đất đai; lập quy hoạch kinh
doanh rừng cho mỗi cấp tỉnh, xã, xí nghiệp.
- Chấn chỉnh công tác quản lý, chú trọng vấn đề: phân cấp quản lý rừng
cho các cấp hành chính, đăc biệt cho các xã, giao rừng và tổ chức việc kinh
doanh về lâm nghiệp cho các đơn vị sản xuất như nông trường, xí nghiệp, hợp tác xã
...
- Xây dựng chính sách chế độ bảo vệ rừng và thú rừng, trồng cây gây
rừng, khai thác, sử dụng gỗ, chính sách giá cả chế độ sử dụng tiền bán lâm sản
vào việc tu bổ, cải tạo rừng và kiến thiết đường trong rừng.
Tóm lại, ở thời kì này nhà nước quản lý bảo vệ rừng ở những mặt thiết
yếu nhất và ban hành văn bản pháp quy về vấn đề này chủ yếu bằng chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của các bộ, ngành; Nghị định của các
bộ...chưa ban hành văn bản ở cấp cao hơn. Mặc dù vậy, những nội dung quy
định về bảo vệ rừng đã tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh và kịp thời
2.1.3.b. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam
năm 1960 đường lối phát triển lâm nghiệp được xác định cụ thể hơn. Ngày
10/3/1961 Trung ương Đảng có Chỉ thị số 15CT/CTTW xác định rõ “rừng là tài
- 21 -


Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Thanh Huyền

sản của toàn dân, phải do nhà nƣớc thống nhất quản lý”. Trong thời kì này
Tổng cục Lâm nghiệp đã chú ý tăng cường công tác xây dựng chính sách và thể
chế lâm nghiệp, đề xuất với Chính phủ ban hành nhiều chính sách, thể lệ, văn
bản pháp quy về lâm nghiệp. Ngày 29/12/1961 Hội đồng Chính phủ ban hành
Nghị định số 221/CP/HĐCP về một số thể lệ về phòng cháy và chữa cháy rừng;


Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 155CP ngày 3/10/1973 về việc thi
hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và Nghị định số 101CP ngày
21/5/1973 quy định hệ thống tổ chức và quyền hạn của lực lượng kiểm lâm
nhân dân.
Việc ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và các văn bản về thi
hành pháp lệnh này ngay trong những năm còn chiến tranh đã biểu hiện sự quan
tâm của nhà nước về công tác bảo vệ rừng và tạo điều kiện pháp lý để ngành lâm
nghiệp tổ chức việc bảo vệ rừng có hiệu quả hơn.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, Chính phủ ban hành Quyết định
số 61CP ngày 7/3/1975 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý thống nhất giống
cây trồng rừng.
- Chỉ thị số 257/TTg ngày 6/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy
mạnh trồng rừng và giao đất, giao rừng cho hợp tác xã kinh doanh.
- Ngày 24/1/1977 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/TTg
về quy định các khu rừng cấm (quy định 10 khu rừng cấm đầu tiên trong cả nước)
và xác định những nguyên tắc quản lý bảo vệ rừng, xây dựng các khu rừng cấm.
- Quyết định số 360/TTg ngày 7/7/1978 của Thủ tướng Chính phủ về
việc thành lập khu rừng cấm Nam bãi Cát Tiên thuộc huyện Tân Phú - Đồng
Nai; Quyết định số 79/CT ngày 31/3/1986 của chủ tịch HĐBT về việc thành lập
vườn quốc gia Cát Bà. Quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của chủ tịch
HĐBT về việc quy định về các khu rừng cấm tiếp tục công nhận 73 khu rừng cấm ở
Việt Nam.
- Thông tư số 32/TT/LB ngày 21/10/1986 của Liên Bộ Viện kiểm sát
nhân dân tối cao- Bộ Lâm nghiệp về mối quan hệ phối hợp giữa hai ngành Kiểm
sát và Lâm nghiệp trong việc phòng, chống các vi phạm, tội phạm về quản lý bảo vệ
rừng.
Về cơ chế tổ chức quản lý việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ rừng, ở trung ương có Tổng cục Lâm nghiệp (từ năm 1976 là Bộ Lâm
nghiệp) là cơ quan chuyên ngành của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện việc

phủ về mục tiêu, chính sách, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5
triệu hecta rừng.
Nhà nước đã xây dựng và ban hành hệ thống các quy phạm về quản lý
rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, khai thác chế biến xuất khẩu lâm sản và
bảo vệ động thực vật rừng quý hiếm. Chỉ thị số 130/TTg ngày 27/1/1993 của
Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và bảo vệ động vật và thực vật quý hiếm,
Nghị định 22/CP ngày 9/3/1995 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa
cháy rừng, Luật phòng cháy chữa cháy 2001, Chỉ thị số 359/TTg ngày

- 24 -


Trích đoạn Chính sách pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia trên thế giới: Kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ rừng: HIỆN TRẠNG RỪNG Ở VIỆT NAM MỘT SỐ NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM Về chính sách phát triển rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng chúng ta còn gặp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status