Xây dựng khung pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở việt nam - Pdf 31

Ket-noi.com
XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LUẬT NHẰM PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT


LÊ HÀ VŨ

XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LUẬT NHẰM PHÁT
TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: Ts. Ngô Đức Mạnh

HÀ NỘI - 2006


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu về đề tài .............................................................. 5
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 7
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 7

CA: Tổ chức chứng thực
CKĐT: Chữ ký điện tử
CNTT: Công nghệ thông tin
EU: Liên minh Châu Âu
GDĐT: Giao dịch điện tử
OECD: Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế
RAM: Bộ nhớ máy tính tạm thời
SWIFT: Hệ thống viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu
TRIPs: Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ
TMĐT: Thương mại điện tử
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UNCITRAL: Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại Quốc tế
WTO: Tổ chức thương mại thế giới

1


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Máy tính được sử dụng phổ biến trong
xã hội, trở thành một công cụ không thể thiếu tại các cơ quan, doanh nghiệp,
trường học và cả nhà riêng. Không chỉ là một công cụ văn phòng đắc lực,
máy tính còn là một công cụ sáng tạo, phương tiện sản xuất tại các doanh
nghiệp, một công cụ ưu việt cho học tập và nâng cao kiến thức, một thiết bị
giải trí đa năng. Sự lan truyền và phổ biến của Internet từ giữa thập kỷ 90 của
thế kỷ trước đã có tác động sâu sắc tới đời sống xã hội nước ta. Chúng ta có
thể trao đổi thông tin dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, tìm hiểu được nhiều
thông tin hơn từ kho tàng tri thức phong phú của nhân loại. Tính đến cuối
tháng 7 năm 2006, Việt Nam có trên 3,688 triệu thuê bao internet. Số người

Với tốc độ ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thương mại và
những giá trị to lớn mà thương mại điện tử mang lại, đặc biệt là trong điều
kiện hội nhập mạnh mẽ kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta hiện nay,
Đảng và Nhà nước đã chủ trương xây dựng chiến lược quốc gia, kế hoạch
tổng thể cho thương mại điện tử trong đó có việc xây dựng một khung pháp
lý hiện đại và phù hợp với tình hình phát triển cụ thể của Việt Nam.
Thực hiện chủ trương đó, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành một
số văn bản pháp luật về xây dựng mạng tin học diện rộng, về sử dụng các dữ
liệu thông tin trên vật mang tin để làm các chứng từ kế toán và thanh toán của
ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Gần đây nhất là ban hành Luật giao dịch
điện tử, Luật công nghệ thông tin, Nghị định của Chính phủ về thương mại
điện tử v.v. Tuy nhiên, Luật giao dịch điện tử là luật khung và các văn bản
hướng dẫn chậm được ban hành. Các văn bản pháp luật của Chính phủ chỉ là
những giải pháp tình thế để giải quyết những yêu cầu trước mắt, hiệu lực
pháp lý của các văn bản không cao. Nhìn chung, các quy định pháp luật về
thương mại điện tử ở Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống, nhiều chồng
chéo, bất cập, thiếu tính đồng bộ và tạo ra sự manh mún.

2

Xem chi tiết tại: />
3

Xem chi tiết tại: />
4


Thương mại điện tử mang lại cho chúng ta nhiều thuận lợi và thời cơ
nhưng đồng thời, việc phát triển của thương mại điện tử cũng có nhiều thách
thức4 và đòi hỏi về hạ tầng công nghệ thông tin, về mức độ tham gia của các


5


ngành luật, kinh tế như: bài viết của TS Mai Hồng Quỳ về “Một số vấn đề
pháp lý về thương mại điện tử và việc áp dụng ở Việt Nam” trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật; bài viết của Ths Nguyễn Minh Hằng về “giao kết hợp
đồng điện tử và giao kết hợp đồng truyền thống – những vấn đề khác biệt”
trên tạp chí Kinh tế đối ngoại; bài viết của Ths Lê Thị Thu Hương về
“Thương mại điện tử trong mối quan hệ với WTO và giải pháp đột phá đối
với Việt Nam” … Nhiều bài phát biểu về các khía cạnh của thương mại điện
tử đã được các chuyên gia trình bày tại các Hội thảo, hội nghị khoa học trong
nước ...
Ở nước ngoài, theo tìm hiểu của chúng tôi, rất nhiều quốc gia như Đức,
Trung Quốc, Mỹ … đều có các công trình nghiên cứu về thương mại điện tử.
Hoa Kỳ có Tạp chí Nghiên cứu về thương mại điện tử của trường đại học
California với Hội đồng biên tập là các giáo sư danh tiếng của nhiều nước.
Nhưng tiêu biểu nhất là cuốn “Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của
Marc Bacchetta, Patrick Low, Aa ditya Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu
Wager và Madelon Wehrens.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào
ba hướng nghiên cứu chính. Một là, tập trung vào bản chất, đặc trưng, ý
nghĩa của thương mại điện tử và những vấn đề hạ tầng kỹ thuật – công nghệ.
Hai là, có sự kết hợp giữa nghiên cứu bản chất của thương mại điện tử, những
đòi hỏi về hạ tầng công nghệ và hạ tầng pháp lý. Ba là, tập trung đi sâu
nghiên cứu một số khía cạnh pháp lý cụ thể của thương mại điện tử.
Khác với những nghiên cứu trên, trong đề tài này, chúng tôi tập trung
nghiên cứu về hệ thống pháp luật của Việt Nam về thương mại điện tử ở giác
độ khái quát, tổng thể, mà không nặng về các yếu tố kỹ thuật của thương mại
điện tử cũng như không tập trung quá sâu vào một hoặc một số vấn đề pháp

- Thống kê – phân loại;
- Phương pháp lô gic.
5. Nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

7


1. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thương mại điện tử như khái
niệm, đặc điểm, những lợi ích và những đòi hỏi của việc ứng dụng thương
mại điện tử trên các mặt khác nhau như cơ sở pháp lý, thanh toán điện tử và
thuế quan .vv.. ;
2. Phân tích và chứng minh việc ứng dụng và phát triển thương mại
điện tử ở Việt Nam như là một đòi hỏi tất yếu khách quan;
3. Đi sâu nghiên cứu những yêu cầu, đòi hỏi về khung pháp lý khi
chúng ta ứng dụng và phát triển thương mại điện tử;
4. Phân tích thực trạng pháp luật hiện hành của nước ta trước những
yêu cầu pháp lý của việc phát triển thương mại điện tử;
5. Trình bày kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng khung
pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử;
6. Và từ đó, xây dựng phương hướng và các giải pháp xây dựng và
hoàn thiện khung pháp lý cho việc ứng dụng và phát triển thương mại điện tử
ở nước ta trong thời gian tới.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
có cấu trúc gồm ba chương:
Chương 1: Thương mại điện tử và sự cần thiết của việc phát triển
thương mại điện tử ở nước ta;
Chương 2: Những yêu cầu pháp lý đối với thương mại điện tử và thực
trạng của pháp luật nước ta về thương mại điện tử;

Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua
các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới

5

Điều 1, 2 Luật mẫu của UNCITRAL về Thương mại điện tử.

9


dạng text, âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi
trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ qua phương tiện điện tử,
giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán
cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài
nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và
các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả
thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên
dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ
pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo
dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo).
Như vậy, tuy mỗi tổ chức trên định nghĩa về thương mại điện tử theo
những cách khác nhau song điểm chung giữa hai định nghĩa này là thương
mại điện tử được hiểu theo nghĩa rộng. Nó được hiểu là các giao dịch tài
chính và thương mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử;
chuyển tiền điện tử và các hoạt động gửi rút tiền bằng thẻ tín dụng ...
Bên cạnh cách hiểu thương mại điện tử theo nghĩa rộng, một số tổ chức
lại hiểu thương mại điện tử theo nghĩa hẹp, bao gồm các hoạt động thương
mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Các tổ chức như: Tổ chức
thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) đưa
ra các khái niệm về thương mại điện tử theo hướng này. Thương mại điện tử

thương mại không cần đến giấy tờ tại bất kỳ công đoạn nào của quá trình
giao dịch (còn gọi là thương mại không giấy tờ).

6

Xem “Thương mại điện tử và vai trò của WTO” của Marc Bacchetta, Patrick Low, Aa ditya
Mattoo, Ludger Schuknecht, Hannu Wager và Madelon Wehrens, Tr. 1
7

Xem: TS Mai Hồng Quỳ - Một số vấn đề pháp lý của thương mai điện tử và việc áp dụng ở Việt
Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2 năm 2000.

11


Còn theo TS Mai Anh thì “thương mại điện tử bao gồm mọi giao dịch
được thực hiện nhờ công nghệ số, nhất là việc dùng Internet, dùng các mạng
riêng để trao đổi thông tin (EDI) và thẻ tín dụng”.
Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 9/6/2006
về thương mại điện tử không đưa ra định nghĩa cụ thể về thương mại điện tử.
Tuy nhiên, tại dự thảo Nghị định về thương mại điện tử (tài liệu kèm theo dự
án Luật giao dịch điện tử trình Quốc hội xem xét, thông qua) thì khái niệm
thương mại điện tử được hiểu là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt
động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu.
Như vậy, thương mại điện tử là một khái niệm phức tạp mà mỗi tổ
chức và cá nhân hiểu và định nghĩa nó theo những cách khác nhau. Trên thế
giới hiện nay cũng chưa có một cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này.
Theo quan niệm của chúng tôi, khái niệm thương mại điện tử có thể
được hiểu bao gồm một số đặc trưng cơ bản sau:
Một là, thương mại điện tử là hình thái sử dụng các phương tiện và

dùng và mua bán của con người mà trong đó, người bán và người mua hàng
có thể giao dịch với đối tác ở bất cứ đâu trên thế giới. Thương mại điện tử
cho phép mọi người cùng tham gia, từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu
vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ
hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu.
Nếu như trong thương mại truyền thống, biên giới quốc gia có một ý
nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa thì trong thương mại điện tử khái niệm biên giới quốc gia không còn ý
nghĩa quá lớn. Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh
tranh toàn cầu và máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng
ra thị trường trên khắp thế giới. Không chỉ các công ty hàng đầu thế giới mới
có thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay cả một công ty vừa mới khởi
sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới thông qua
website của mình.

13


Thứ ba, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch thương mại
truyền thống, trong giao dịch thương mại điện tử xuất hiện thêm một bên thứ
ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực ... Đây là
những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử được thực
hiện. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển
đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử,
đồng thời họ cũng xác nhận tính xác thực của các thông tin trong giao dịch
thương mại điện tử.
Thứ tư, đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là
phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới
thông tin chính là thị trường. Các trang Web nổi tiếng như Yahoo! America
Online, Google hay Alta Vista... đóng vai trò như các Website gốc đưa khách

giúp chúng ta tiến hành ký kết và thực hiện các giao dịch một cách thuận lợi
hơn, đồng thời xây dựng được chiến lược sản xuất và kinh doanh phù hợp với
xu hướng pháp triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế.
Hai là, thương mại điện tử giúp cho doanh nghiệp giảm được các chi
phí sản xuất kinh doanh:
- Về chi phí sản xuất: Theo số liệu của hãng General Electricity ở Mỹ,
khi sử dụng các phương tiện điện tử vào các hoạt động thương mại, doanh
nghiệp có thể tiết kiệm tới 30% chi phí văn phòng bởi các văn phòng không
giấy tờ thường chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm, chuyển
giao tài liệu giảm nhiều lần9.
- Về chi phí bán hàng và tiếp thị: Bằng phương tiện Internet/Web,
nhân viên bán hàng có thể giao dịch với rất nhiều khách hàng thông qua
catalo điện tử trên Web mà không cần phải đi lại nhiều, đỡ mất thời gian và
chi phí (ví dụ như tiền gọi điện thoại để hẹn gặp – theo số liệu của hãng máy
bay Boeing ở Mỹ mỗi ngày giảm được 600 cú điện thoại, tiền đi lại...). Bên

8

Truy cập bằng đường ADSL ngày 10/11/2006.

15


cạnh đó các catalo điện tử trên trang Web luôn luôn có thể thay đổi được vì
vậy nó phong phú hơn nhiều và thường xuyên cập nhật so với catalo in ấn
- Về chi phí giao dịch: chi phí giao dịch ở đây được hiểu là chi phí từ
quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán. Một
điều tra khá thuyết phục được Trung tâm Thông tin thương mại – Bộ thương
mại dẫn chứng về khả năng tiết kiệm chi phí trong giao dịch TMĐT cho thấy:
Trong lĩnh vực ngân hàng, nếu giao dịch thủ công mất 1,75 USD, giao dịch

cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung
cấp hàng hoá và dịch vụ trên mạng máy tính.
Năm là, tạo điều kiện sớm tiếp cận kinh tế số hoá. Chúng ta đều biết
rằng, việc sớm chuyển sang kinh tế số hoá có thể giúp một nước đang phát
triển tạo ra một bước nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong thời gian
ngắn. Tuy nhiên, để làm được việc đó đòi hỏi phải có hệ thống thương mại
điện tử phát triển. Khi thương mại điện tử phát triển sẽ kéo theo sự phát triển
của ngành công nghệ. Đây là ngành có lợi nhuận cao nhất, đóng vai trò ngày
càng lớn trong nền kinh tế và tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền
kinh tế số hoá.
1.1.4. Những yêu cầu của việc ứng dụng TMĐT
Thứ nhất, là xây dựng một cơ sở hạ tầng về công nghệ đáp ứng các yêu
cầu đặt ra của thương mại điện tử. Một hạ tầng cơ sở công nghệ được coi là
đủ năng lực phải đáp ứng được hai tính năng cơ bản là tính toán (computing)
và truyền thông (communications). Hai tính năng này ngoài công nghệ về
thiết bị máy móc còn cần phải có một nền công nghiệp điện lực thực sự vững
mạnh làm nền tảng. Hạ tầng cơ sở công nghệ vừa phải tiên tiến, hiện đại về
công nghệ và thiết bị lại vừa phải đảm bảo tính phổ cập về kinh tế, có mức
chi phí thích hợp để đông đảo mọi người có thể tiếp cận được.
Hạ tầng công nghệ bao gồm: công nghệ thông tin; công nghệ viễn
thông; công nghệ Internet; công nghệ điện tử; công nghệ điện lực; tiêu chuẩn
công nghệ quốc gia. Trong đó, hạ tầng công nghệ thông tin là điều kiện tiên
quyết đảm bảo thông tin, bao gồm công cụ (phần cứng và phần mềm) và các
dịch vụ thích hợp để áp dụng và phát triển thương mại điện tử nhằm mang lại
hiệu quả kinh tế. Cùng với hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng cơ sở công
nghệ viễn thông là điều kiện thiết yếu để áp dụng và phát triển thương mại
điện tử. Yêu cầu đặt ra là phải có một hạ tầng cơ sở công nghệ viễn thông tốt
và được phép hình thành hệ thống các mạng viễn thông quốc gia, kết nối trực

17


18


Thứ ba, là các đòi hỏi về hệ thống tài chính và thanh toán điện tử. Đối
với việc phát triển thương mại điện tử cần có một hệ thống thuế quan công
bằng và hoạt động có hiệu quả khi xử lý các dữ liệu và các giao dịch qua
mạng máy tính. Việc tính và thu thuế đối với thương mại điện tử chỉ có thể
thực hiện được trên thực tế và có hiệu quả khi đã có một môi trường kinh tế
đã tiêu chuẩn hoá ở mức độ cao.
Hoạt động thanh toán điện tử được thực hiện dưới các hình thức như:
bằng máy tính cá nhân thông qua mạng Internet; Mobile Phone; ATM; Điểm
chấp nhận các loại thẻ thanh toán tại các trung tâm thương mại và nhà cung
ứng dịch vụ; Telephone Banking; thanh toán qua các mạng “giá trị gia tăng”
ví dụ như: hệ thống SWIFT (Society for wold wide Interbank and Finance
Telecommunication - Mạng Viễn thông Liên Ngân hàng toàn cầu); Trung tâm
thanh toán bù trừ liên ngân hàng. Các hình thức thanh toán nêu trên được
thực hiện bằng các phương tiện như: Thẻ tín dụng quốc tế; Thẻ ghi nợ; Ví
tiền điện tử; Séc điện tử; các chứng từ điện tử; giấy nghi nợ điện tử .v.v.
Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện được khi thực tế đã tồn tại một hệ
thống thanh toán tài chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động
hay còn gọi là thanh toán điện tử. Nếu chưa có hệ thống này thì thương mại
điện tử chỉ ứng dụng được phần trao đổi thông tin, còn khâu thanh toán vẫn
phải thực hiện bằng các phương tiện thanh toán truyền thống.
Thứ tư, là vấn đề bảo mật thông tin. Rủi ro tiềm ẩn đối với thông tin
trong hệ thống mạng phục vụ hoạt động thương mại điện tử là rất lớn. Các
chuyên gia cho rằng, nguy cơ tiềm tàng nguy hiểm nhất đối với mạng máy
tính mở là tin tặc chuyên đột nhập vào các máy chủ để đánh cắp hoặc phá hủy
dữ liệu. Đây là những đối tượng có chuyên môn cao và sử dụng kỹ thuật tinh
vi; hoạt động của chúng là có chủ đích và trên phạm vi rộng; những tác hại

đề cập ở trên, thương mại điện tử là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực, nhiều ngành, nhiều loại chủ thể và mức độ rủi ro cao. Bởi thế, làm rõ
mức độ tham gia và vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước trong thương
mại điện tử là vấn đề rất quan trọng. Trước hết, cần xác định quản lý nhà
nước về thương mại điện tử không đơn thuần là một bộ phận của quản lý nhà
nước về kinh tế hay về văn hoá, xã hội hoặc an ninh quốc gia mà nó là một
kiểu quản lý nhà nước có tính phức hợp. Đối tượng của quản lý nhà nước về

20


thương mại điện tử là toàn bộ các hoạt động thương mại điện tử của tất cả các
chủ thể ở mọi hình thức, mọi cấp độ và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội. Nói đến quản lý nhà nước về thương mại điện tử là nói đến
hai nội dung: một là, quản lý bằng chiến lược, chính sách, pháp luật và cơ
chế; hai là, vai trò mở đường thúc đẩy, tổ chức, tham gia của nhà nước bằng
những hình thức, phương tiện và công cụ cụ thể.
Thứ tám, về xây dựng khung pháp luật cho thương mại điện tử (sẽ
được trình bày rõ hơn ở Chương II). Đây là một trong những ưu tiên cần phải
được quan tâm trong kế hoạch phát triển thương mại điện tử ở nước ta.
Khung pháp luật đầy đủ và thống nhất về thương mại điện tử là điều kiện
không thể thiếu. Khung pháp luật thương mại cần có tính thống nhất để có
thể điều chỉnh cả các hoạt động thương mại nói chung và các giao dịch
thương mại điện tử nói riêng, không phân biệt mục đích tiêu dùng hay kinh
doanh, không phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng cho giao dịch. Mặt
khác, tính thống nhất của khung pháp luật về thương mại điện tử còn phải
được thể hiện sự thống nhất cả ở trong nước lẫn phạm vi toàn cầu, tạo thuận
lợi và giúp thực hiện các giao dịch điện tử toàn cầu để khuyến khích thương
mại điện tử phát triển.
Thương mại điện tử là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh

đạt được và những vấn đề tiếp tục thảo luận tại các Hội nghị Bộ trưởng tiếp
theo (gần đây nhất là Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 6 diễn ra vào tháng
12/2005 tại Hồng Kông).
Những thỏa thuận đạt được chủ yếu của các nước thành viên WTO về
thương mại điện tử là: những nguyên tắc cơ bản cũng như các Hiệp định đa
biên của WTO đều có thể áp dụng cho thương mại điện tử. Đối với một hàng
hóa hay lĩnh vực nhất định, các quy tắc đó cần được quy định cụ thể hơn theo
hướng tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử. Tạm thời, sẽ
không áp thuế quan đối với hàng hóa được chuyển tải thông qua phương tiện
điện tử.
Bên cạnh đó, ngày 24/11/2000, Việt Nam đã tham gia vào Hiệp định
khung về e-ASEAN (“Hiệp định e-ASEAN”) với các thành viên ASEAN,
theo đó các quốc gia thành viên trên cơ sở nhận thức được những lợi ích, cơ

22


hội mà thương mại điện tử mang lại, tạo thuận lợi cho sự phát triển của
thương mại điện tử. Cụ thể là:
(a) Nhanh chóng đưa vào luật và các chính sách quốc gia các vấn đề
quan đến các giao dịch điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế;
(b) Tạo điều kiện thuận lợi cho sự công nhận lẫn nhau về khuôn khổ
chữ ký điện tử (Digital signature frameworks);
(c) Tạo thuận lợi đảm bảo an toàn cho các thanh toán và chuyển tiền
điện tử thông qua các cơ chế cụ thể như Cổng thanh toán điện tử;
(d) Áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ
thương mại điện tử. Các nước thành viên cần xem xét việc chấp thuận các
Hiệp ước của Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ (còn gọi là tổ chức
WIPO), chủ yếu là “Hiệp ước bản quyền WIPO 1996”.
(e) Thực hiện các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật riêng tư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status