Bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
––––––

DƯƠNG THỊ BÍCH HẠNH

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Bình

Hà Nội - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

2.1.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH TRƯỚC KHI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH 2012 CÓ HIỆU LỰC............................................................ 30

2.1.1. Thực trạng pháp luật bảo đảm quyền con người trong quá trình áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính ................................................ 30
2.1.2. Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính ...................................................................... 39
2.1.3. Định hướng chung cho việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp
luật về các biện pháp xử lý khác ....................................................... 48


2.2.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH
CHÍNH KỂ TỪ KHI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM
2012 CÓ HIỆU LỰC ........................................................................... 51

2.2.1. Bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý
hành chính bằng phương thức xem xét và quyết định của Tòa án ..... 52
2.2.2. Bảo đảm bằng việc điều chỉnh của pháp luật về trình tự thủ tục xem
xét và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính ..................... 53
2.2.3. Bảo đảm bằng việc quy định về khiếu nại, kiến nghị, giải quyết khiếu
nại, kiến nghị đối với các quyết định của Tòa án, hành vi của người có
thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính......................................................................... 57

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BPXLHC

Biện pháp xử lý hành chính

ICCPR

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966

ICCPR

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966

TAND

Tòa án nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

VPHC

Vi phạm hành chính

XLVPHC

Xử lý vi phạm hành chính




đề liên quan đến các biện pháp hành chính. Tuy nhiên chưa có một công trình
nào tập trung và chuyên sâu nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người
trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Mặt khác thực tiễn
cũng cho thấy nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, đặc biệt là những vướng mắc liên quan đến việc bảo đảm quyền con
người vẫn còn một số vấn đề chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách
đầy đủ và thấu đáo.
Xuất phát từ những vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “ Bảo đảm
quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính” làm
đề tài luận văn thạc sĩ, là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu
Bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong
hoạt động tư pháp nói riêng là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước cùng các nhà
khoa học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhất là trong thời kỳ đổi mới.
Bên cạnh việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con
người trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, hiện nay các công trình khoa học
nghiên cứu liên quan đến đề tài: “ Bảo đảm quyền con người trong quá trình
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính” chưa được công bố nhiều. Có thể
chia các công trình thành hai nhóm chính sau đây:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình đề cập đến vấn đề quyền con người
nói chung có một số công trình khoa học tiêu biểu sau: Trung tâm Nghiên cứu
Quyền con người biên tập hai tập chuyên khảo: “Quyền con người, quyền
công dân” của nhiều tác giả, xuất bản năm 1995; Báo cáo tổng thuật Đề tài
KX.07- 16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền
công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ
biên; "Quyền con người trong thế giới hiện đại" do PGS. Phạm Khiêm Ích và


3


chính khác trong Luật xử lý vi phạm hành chính” do Dự án tăng cường tiếp
cận quyền và bảo vệ công lý tại Việt Nam thực hiện năm 2011…v.v
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã được
đăng trong các tập san, tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí quyền
con người….
Cho dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quyền
con người, nhưng nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu
đề cập đến những vấn đề lý luận chung về quyền con người, từng lĩnh vực
hoạt động cụ thể về quyền con người, về tổ chức và hoạt động của các bộ máy
Nhà nước, về việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền con người nói
chung. Trong đó, chỉ có một vài khía cạnh đề cập cụ thể về quyền con người
trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Vấn đề bảo đảm quyền con
người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chưa được
nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về cả lý luận và thực tiễn. Tuy
vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng đối
với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong quá
trình áp dụng BPXLHC, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định của pháp
luật cũng như thực tiễn áp dụng, làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra
những phương hướng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người
trong quá trình áp dụng BPXLHC.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
-

Mác-LêNin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người.
Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận về quyền con người
nói chung và từ góc độ xử lý hành chính nói riêng.

5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp,
lịch sử, so sánh, thống kê, khảo sát…Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả
đã nghiên cứu hồ sơ, báo cáo cụ thể của các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục, cơ sở chữa bệnh để có cơ sở thực tiễn.
6. Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý
luận và thực tiễn bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính và có những điểm nổi bật như sau:
- Hệ thống các quan điểm, quan niệm lý luận, các tri thức về đảm bảo
quyền con người trong phạm vi áp dụng BPXLHC.
- Lần đầu tiên xây dựng khái niệm bảo đảm quyền con người trong quá
trình áp dụng BPXLHC.
- Tập hợp một cách chung nhất thực tiễn các bảo đảm quyền con người
trong quá trình áp dụng BPXLHC.
- Đặc biêt lần đầu tiên đưa ra được các giải pháp nhằm bảo đảm quyền
con người trong quá trình áp dụng BPXLHC.
7. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học
một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là bảo vệ quyền con
người. Luận văn sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho

con người trên thế giới trải qua các thời kỳ sau:
* Thời cổ đại
Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mặc dù quyền lợi của giai cấp chủ nô
luôn được coi trọng nhưng đã có những văn kiện pháp lý ghi nhận và bảo vệ
quyền con người của nhân dân. Năm 1780 trước Công nguyên, Bộ luật
Hammurabi được ban hành ở xứ Babylon. Ở nhiều khía cạnh, bộ luật đã quan
tâm bảo vệ người dân trước những khó khăn của cuộc sống và sự hà hiếp của
kẻ mạnh, đồng thời thể hiện một số tư tưởng khá tiến bộ trong thời kỳ bấy giờ
và được coi là sự ghi nhận đầu tiên về quyền con người trong lịch sử nhân
loại. Một sự kiện khác, năm 539 trước Công nguyên, vua Cyrus của đế quốc
Ba tư đã cho trạm khắc một tuyên bố nổi tiếng trên một cột trụ (trụ Cyrus)
trong đó ghi nhận các quyền con người cơ bản như: tự do về tôn giáo, bình
đẳng về chủng tộc, thả tự do cho các nô lệ. Tài liệu cổ này được nhiều học giả
coi như là Hiến chương về nhân quyền đầu tiên của thế giới.
* Thời phong kiến
Thời kỳ phong kiến, ở châu Âu, quyền con người bị bóp nghẹt trong sự
cai trị của vương quyền phong kiến và giáo hội. Nhưng sự xuất hiện của

8


phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo tiền đề để tư tưởng về quyền
con người được phát triển. Năm 1215, dưới sức ép của nhân dân, vua Anh,
John, đã phải ký bản Hiến chương Magna Carta. Đây được coi là văn kiện
pháp lý nổi tiếng, tạo bước ngoặt trong lịch sử của nhân quyền và tự do. Hiến
chương đã ghi nhận một số quyền con người như: quyền sở hữu, thừa kế,
quyền tự do buôn bán, quyền không bị đánh thuế quá mức, quyền được xét xử
đúng đắn và bình đẳng trước pháp luật… Ngoài ra, hiến chương còn quy định
về việc kiểm soát quyền lực nhà nước, ngăn chặn không cho các cơ quan nhà
nước xâm phạm quyền hợp pháp của công dân.

cả 17 điều khoản. Trong đó nổi tiếng là Điều 1 - Điều 2 và được trích dẫn
nhiều nhất: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn
luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể
được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung” [31, tr.561]. Và mục đích của mọi tổ
chức chính trị là “việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các
quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an
toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức” [29, tr.562]. Những tư tưởng từ
cuộc cách mạng Hoa Kỳ và Pháp đã châm ngòi cho nhiều cuộc cách mạng tư
sản ở châu Âu, gây ra nhiều biến động to lớn ở khu vực này. Trong vòng 35
năm, từ năm 1795 đến năm 1830, hơn 70 bản Hiến pháp mang dấu ấn của
Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền được ra đời.
Trong thế kỷ XIX, quyền con người trở thành một vấn đề có sức lan tỏa
lớn trên thế giới. Cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ
diễn ra mạnh mẽ. Chiến thắng của Liên bang miền Bắc trong nội chiến Hoa
Kỳ (1861 - 1865) đã xóa bỏ chế độ nô lệ; đồng thời giải phóng hàng triệu nô
lệ trên đất nước này. Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện
lao động cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ
trang trên thế giới cũng phát triển mạnh mẽ. Năm 1919, Hội Quốc Liên và Tổ
chức Lao động thế giới (ILO) được thành lập; hai tổ chức này đã có nhiều
đóng góp nhằm thúc đẩy vấn đề nhân quyền trên thế giới.
10


* Sau chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh thế giới thứ hai là cú hích quyết định đối với sự ra đời của
luật nhân quyền quốc tế. Sự tàn khốc của chiến tranh đã khiến nhân dân thế
giới nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế nhằm bảo
đảm cho nhân dân thế giới không phải chịu những thảm họa về nhân quyền
mà phát xít đã gây ra. Tổ chức này phải có những cơ chế pháp lý mạnh mẽ để
thực hiện một cách hiệu quả sự bảo vệ quốc tế với các quyền con người. Ngày

đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948. Trong lời nói
đầu, tuyên ngôn đã thực sự đề cao tầm quan trọng của nhân quyền đối với sự
sống còn của loài người: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền
bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình
nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới” [42, tr.48].
Tuyên ngôn bao gồm 30 điều, lần đầu tiên liệt kê một cách toàn diện những
quyền của con người trong tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế,
xã hội và văn hóa. Văn bản được trình bày với ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để
mọi người trên thế giới đều có thể đọc và hiểu.Tuyên ngôn thực chất không
phải là một điều ước quốc tế có hiệu lực, nhưng nó có một sức mạnh “luân
lý” to lớn đối với các quốc gia trên thế giới. Tập hợp các quyền con người
trong tuyên ngôn trở thành một tiêu chuẩn chung được hầu hết các quốc gia
quy định vào luật pháp của đất nước mình. Tuyên ngôn nhân quyền có tác
động to lớn đối với thế giới và được đánh giá là một trong những văn kiện có
tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử. Nó đã thôi thúc sự phát triển nhân
quyền ở rất nhiều quốc gia, các địa phương và các vùng lãnh thổ.
(2) Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966 (ICCPR)
ICCPR là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976,
nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người. ICESCR
là một phần của hệ thống bộ luật nhân quyền quốc tế. Một trong những quyền

12


quan trọng khác được công ước long trọng ghi nhận ở Chương I là quyền dân
tộc tự quyết. Công ước khẳng định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất
phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và
tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá“ [42, tr.78] . Sau đó, các quyền dân
sự, chính trị được trình bày một cách có hệ thống trong công ước. Các điều

- Công ước về quyền trẻ em, 1989;
- Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di
trú và các thành viên trong gia đình họ, 1990;
- Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức mất tích, 2006;
- Công ước về quyền của người khuyết tật, 2007;
Và rất nhiều tuyên bố, nghị định thư và các Điều ước Quốc tế khác.
1.1.1.2. Lịch sử phát triển quyền con người ở Việt Nam
* Thời phong kiến
Yêu thương con người, khoan dung, nhân đạo là giá trị văn hóa tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam. Từ cổ xưa, người Việt với nền văn hóa nông nghiệp
lúa nước, sống hòa mình với thiên nhiên nên bản tính hiền hòa, nhân hậu, chất
phác. Rồi trải qua hàng ngàn năm chống chọi với thiên tai, bão lụt và những
tai ách ngoại xâm khiến cho con người phải gắn bó chặt chẽ, cố kết với nhau
hơn. Vì vậy, trong truyền thống văn hóa của con người Việt, lối sống trọng
tình nghĩa và nếp nghĩ coi trọng con người, khoan dung, độ lượng đã trở
thành một điều cốt lõi. Từ lâu, dân gian vẫn lưu truyền những câu ca dao, tục
ngữ: “thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn”…
Tinh thần nhân đạo của dân tộc Việt còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tư
tưởng của Phật giáo. Với tinh thần từ, bi, hỷ, xả, đạo Phật hướng tới mục đích
cứu vớt chúng sinh, cứu khổ, cứu nạn; ở đâu có đạo Phật, ở đó có sự đề cao con
người và yêu thương con người. Mặt khác, theo giáo lý đạo Phật, không có tiểu
nhân, không có quân tử, không có sự phân chia giai cấp, tất cả mọi người đều bình
đẳng và đều có thể được giải thoát. Trải qua hàng trăm năm phát triển, đạo đức

14


Phật giáo đã thực sự ăn sâu vào truyền thống văn hóa của dân tộc, ảnh hưởng sâu
sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của con người.

nhiều quy định để bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân, hạn
chế sự nhũng nhiễu, áp bức bóc lột của quan lại, quý tộc. Những người quyền
quý ức hiếp, nhũng nhiễu nhân dân đều bị trừng trị nghiêm khắc. Điểm nổi
bật nhất của bộ luật là quy định về bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi của người
phụ nữ. Người phụ nữ được bênh vực và hưởng nhiều quyền lợi, trong nhiều
trường hợp, họ còn có sự bình đẳng với nam giới. Ngoài ra, Bộ luật Hồng
Đức có nhiều quy định bảo vệ và đối xử nhân đạo đối với những đối tượng
yếu thế trong xã hội và những bị can, bị cáo, người có tội. Đến thời nhà
Nguyễn, triều đình ban hành bộ “Hoàng Việt luật lệ”. Mặc dù bị đánh giá là
khắc nghiệt và mang nặng tính giai cấp, bộ luật cũng chứa nhiều quy định
mang tính nhân đạo cao như các quy định về tha tội và ân xá, quy định trừng
phạt quan lại vô cớ bắt, tra khảo dân, quy định về bảo vệ người phụ nữ…
* Thời Pháp thuộc
Thời kỳ này, các quyền con người ở Việt Nam bị chà đạp dưới sự áp bức
bóc lột của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến. Tuy nhiên, đây cũng là
thời kỳ mà các tư tưởng dân chủ, tự do ở phương Tây, tư tưởng “tam dân”
của Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào
Việt Nam.
Hoạt động đấu tranh về quyền con người được các nhân sĩ và trí thức yêu
nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… thúc đẩy từ khá sớm. Nhiều
cuộc đấu tranh đã nổ ra nhằm mục tiêu đánh đổ ách áp bức, bóc lột, giành lại
tự do cho dân tộc.
Tuy nhiên, nổi bật nhất trong thời kỳ này là sự đấu tranh của Nguyễn Ái
Quốc vì quyền con người. Người viết tác phẩm Đường công lý của chủ nghĩa
thực dân Pháp ở Đông Dương để vạch trần bộ mặt thật của những kẻ xâm
lược: “chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta bị vi

16




cầu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm càng tốt để nhân dân được thực
hiện quyền dân chủ. Về việc ban hành Hiến pháp, Người cho rằng: “Nước ta
đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên
chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự
do dân chủ. Chúng ta phải có hiến pháp dân chủ” [29, tr.356]. Bản Hiến pháp
năm 1946 mặc dù được soạn thảo trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn
nhưng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề quyền con người, trong 70
Điều, có 18 Điều quy định tập trung về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân.
Ngày 18/12/1959, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp mới Hiến pháp năm 1959. Bản Hiến pháp này có 21 Điều quy định về quyền và
nghĩa vụ của công dân. Lúc bấy giờ, miền Bắc đã giành được độc lập, cơ sở
kinh tế của chế độ mới đang bắt đầu hình thành, cuộc kháng chiến ở miền
Nam đang bắt đầu. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội cho phép Hiến pháp năm 1959
quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân một cách đầy đủ hơn, bổ sung
thêm các quyền về kinh tế, văn hóa.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) tại Điều 50 quy định: “Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân
và được quy định trong Hiến pháp và luật” [34, tr.18]. Thì Điều 14 Hiến pháp
năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung:
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến
pháp và pháp luật.Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị
hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do
quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khỏe của cộng đồng [40, tr.6].

18




Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung
của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện
chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới bình diện đạo đức, quyền
con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người
như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do...;dưới bình diện pháp lý, để trở thành
quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật
quốc tế và pháp luật quốc gia. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì
quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ
những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người.
1.1.2. Đặc trưng của quyền con người
Theo nhận thức chung của cộng đồng thế giới, quyền con người có
những đặc trưng cơ bản sau đây:
* Tính phổ biến
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được
áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính,
tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Con người, dù ở trong những chế độ xã
hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận
là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản.
* Tính đặc thù
Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức
độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng
người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang
sống. Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang
những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
ở khu vực đó. Ví dụ: ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên
con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác. Ngược
lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status