BỘ TƯ PHÁP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
4. Cơ quan quản lý Đề tài: Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
5. Thư ký đề tài: Cn. Bùi Thị Nam
6. Danh sách những người thực hiện chính:
6.1. Ths. Đặng Thanh Sơn, Phó vụ trưởng Vụ Pháp lu
ật Hình sự -
Hành chính, Bộ Tư pháp
6.2. TS. Lê Thị Hà, Phó Cục trưởng Cục phòng chống tệ nạn xã hội,
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
6.3. Ths. Ngô Văn Tân, Phó Trưởng phòng Cục quản lý trại giam, cơ
sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Bộ Công an
6.4. Ths. Đặng Đình Luyến, Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng
Quốc hội
6.5. PGS,TS. Bùi Xuân Đức, Phó Trưởng ban Ban Dân chủ và Pháp
luật, Uỷ ban trung ương Mặt trận tổ Qu
ốc Việt Nam
7. Thời gian thực hiện: từ tháng 6/2008 đến 12/2009
8. Tổng kinh phí thực hiện: 139.350.000 đồng 3
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
pháp
13 Cn. Bùi Thị Nam Phó Trưởng phòng Pháp luật hành chính,
Vụ Pháp luật Hình sự-Hành chính, Bộ TP
4
MỤC LỤC
Cơ cấu Tiêu đề Trang
Thông tin chung về Đề tài khoa học
Danh sách những người thực hiện đề tài 3
Mục lục 4
Bảng chữ viết tắt 6
Phần mở đầu 7
I. Tính cấp thiết của đề tài 7
II. Phương pháp, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của
Đề tài
9
III. Quá trình nghiên cứu của đề tài 10
IV. Mục đích nghiên cứu của Đề tài 14
V. Sản phẩm của Đề tài 14
Chương I Quy định hiện hành về các biện pháp xử lý hành
chính khác trong việc đối chiếu với pháp luật
quốc tế liên quan đến quyền con người
15
Mục 1 Đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
khác
17
Mục 2 Thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp xử lý
Mục 4 Việc tổ chức và thực hiện quyết định áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính khác
67
Mục 5 Giám sát, kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu kiện đối với các quyết định áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính khác
75
Chương III Các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính
khác nhằm tăng cường bảo vệ quyền con người
81
Nghiên cứu, xúc tiến việc thay đổi tổng thể nội
dung về việc áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính khác trong PLXLVPHC
82
Xây dựng chế tài áp dụng biện pháp xử lý hành
chính khác trên cơ sở kế thừa và có cải biến, sửa
đổi, bổ sung theo hướng nâng cao trách nhiệm của
cơ quan tố tụng, tạo điều kiên thuận lợi để luật sư,
người đại diện hợp pháp của đối tượng tham gia vào
quá trình xem xét áp dụng các biện pháp này
88
Tài liệu tham khảo 105
quốc về tư pháp người chưa thành niên
Quy tắc Bắc Kinh 7
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của Đề tài:
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân
loại. Các chuẩn mực, nguyên tắc trong luật quốc tế về quyền con người
được thể hiện rõ nhất trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và trong
các công ước quốc tế về quyền con người. Với tư cách là một thành viên
của Liên Hợp Quốc, Việt Nam tôn trọ
ng và ghi nhận nguyên tắc tự nguyện
thực hiện cam kết quốc tế. Khoản 6 Điều 3 của Luật Ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viên khác
cũ
8
giáo dục; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở chữa bệnh và quản chế
hành chính thì biện pháp quản chế hành chính được áp dụng đối với người
có hành vi phương hại đến an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự đã bị bãi bỏ theo Pháp lệnh số 31/2007/PL-
UBTVQH11 ngày 08/3/2007 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính.
Trong nh
ững năm qua, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
XLVPHC, trong đó bao gồm cả chế định về chế độ áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính khác cơ bản đã bảo đảm tiếp cận với các chuẩn mực quốc
tế về quyền con người. Việc triển khai thi hành các biện pháp xử lý hành
chính khác đối với số đối tượng vi phạm đã góp phần quan trọng vào việc
cảm hoá, giáo d
ục nhiều đối tượng trở thành công dân tốt, biết tôn trọng
pháp luật và phần nào đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, nhưng việc
áp dụng như thế nào để vừa bảo đảm đạt được mục đích của việc áp dụng
các biện pháp này, lại vừa đảm bảo thực thi tốt các cam kết quốc tế trong
việc bảo đảm triệt để quyền con ngườ
i thì cần phải có một nghiên cứu toàn
diện để có thể phát huy được thế mạnh của việc áp dụng các biện pháp này
trong xử lý hành chính và vẫn đảm bảo tốt nhất quyền con người, các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận.
Với quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thố
ng
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 thể hiện tại
tế, do vậy, cách tiếp cận vấn đề của Đề tài sẽ thực hiện trên hai phương
diện: nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn thi hành các biện pháp thông
qua các tài liệu, tư liệu trong nước và quốc tế, văn bản pháp luật thực định,
các báo cáo
đánh giá và kết quả khảo sát thực tiễn áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính khác.
Về phương pháp nghiên cứu, bên cạnh phương pháp nghiên cứu cơ
bản là phương pháp duy vật biện chứng, so sánh đối chiếu, trong quá trình
nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích tổng hợp,
nghiên cứu tài liệu, quy nạp diễn giải, suy luận lôgíc giúp cho việc nghiên
cứu Đề tài đạt được mục tiêu đặt ra.
2. Phạm vi nghiên cứu của Đề
tài
Một trong những yêu cầu của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam là bảo đảm tính tương thích với luật pháp quốc tế trong
quá trình Việt Nam tham gia và trở thành quốc gia thành viên của các tổ
chức quốc tế chủ yếu và quan trọng trong cộng đồng quốc tế. Do vậy, việc
nghiên cứu Đề tài này nhằm xem xét một cách toàn diện các quy định và
thực trạng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác trong việc
đối
chiếu với các cam kết quốc tế về quyền con người để đưa ra giải pháp hoàn
thiện và lộ trình tư pháp hóa việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
nhằm từng bước thiết lập một cơ chế tối ưu theo thông lệ luật pháp quốc tế
để bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch và công bằng, bảo đảm
quyền con người một cách đầy đủ nhất trong quá trình quyết đị
nh áp dụng
và thi hành các biện pháp xử lý hành chính trên nguyên tắc thực hiện chuẩn
mực quốc tế với đảm bảo tôn trọng thực tiễn khách quan, phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội và văn hoá cụ thể của Việt Nam.
Trên cơ sở xác định rõ mục tiêu nghiên cứu của Đề tài, việc xác định
hội để đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế, theo đó, cơ quan quản lý
hành chính nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý, điều hành vĩ mô, đối
vớ
i các yêu cầu, xem xét đối với các hành vi vi phạm pháp luật thì xử lý
bằng thủ tục tư pháp. Kết quả này phục vụ chính cho hoạt động xây dựng
và áp dụng pháp luật của Chính phủ, Quốc hội mà cụ thể là Bộ Tư pháp,
Bộ Công an, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế…, Uỷ ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan nhà
nước trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở trung ươ
ng như Toà án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
III. Quá trình nghiên cứu của Đề tài
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của Đề tài
Các biện pháp xử lý hành chính khác trong hệ thống pháp luật Việt
Nam được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an
11
ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự và do hệ thống cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện.
Cho đến nay, trong số 5 biện pháp xử lý hành chính khác đã được
quy định tại Pháp lệnh XLVPHC là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị
trấn; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở
chữa bệnh và quản chế
hành chính thì biện pháp quản chế hành chính được
áp dụng đối với người có hành vi phương hại đến an ninh quốc gia nhưng
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đã bị bãi bỏ theo Pháp lệnh số
31/2007/PL-UBTVQH11 ngày 08/3/2007 sửa đổi một số điều của Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
dụ, bài viết “Quyền công dân, quyền con người và chỗ đứng của “các biện
pháp xử lý hành chính khác” trong pháp luật về vi phạm hành chính” của
12
tác giả Trần Thanh Hương đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
11/2005 hoặc chuyên đề “Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác
theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Th.S Lê Ngọc Thạnh (tỉnh Đắc Lăk)
đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 1/2006
2. Quá trình thực hiện Đề tài:
Đề tài nghiên cứu về “Các biện pháp xử lý hành chính khác và việc
bảo đảm quyền con người” được triển khai thực hiện căn cứ
Quyết định số
1054/QĐ-BTP ngày 05/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về Kế hoạch
nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp năm 2008.
Trong quá trình tiến hành đấu thầu để lựa chọn chủ thể thực hiện Đề
tài, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp là đơn vị trúng thầu
thực hiện Đề tài này. Vụ đồng thời cũng là đơn vị được phân công chủ
trì
việc xây dựng Pháp lệnh XLVPHC và nghiên cứu để xây dựng Dự án Luật
XLVPHC. Trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu, Vụ Pháp luật Hình sự - Hành
chính đã chủ động xây dựng Đề cương sơ bộ, Đề cương chi tiết.
Sau khi hoàn thành thủ tục tiếp nhận bước đầu của việc thực hiện Đề
tài, Ban Chủ nhiệm Đề tài đã được thành lập, trong đó Thạc sĩ luậ
t Đặng
Thanh Sơn, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư
pháp làm Chủ nhiệm và Cử nhân luật Bùi Thị Nam, chuyên viên làm Thư
ký của Đề tài. Trên cơ sở thuyết minh được duyệt, Ban Chủ nhiệm Đề tài
đã phối hợp với Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
đồng khoa học Bộ nêu trên và ý kiến tham gia của tất cả các cộng tác viên
của Đề tài trên tinh thầ
n công khai, dân chủ. Ban Chủ nhiệm Đề tài đã
chính thức ký kết hợp đồng khoa học về việc thực hiện Đề tài này với Viện
Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp vào tháng 6/2008.
Ban Chủ nhiệm Đề tài đã tổ chức cuộc họp Cộng tác viên vào ngày
10/6/2008 để phân công nghiên cứu, chuẩn bị đề cương và thực hiện các
chuyên đề nghiên cứu khoa học phục vụ Đề tài.
Trên cơ sở đề cươ
ng nghiên cứu đối với từng chuyên đề của Cộng
tác viên gửi lại, Ban Chủ nhiệm Đề tài đã tiến hành lấy ý kiến của các
chuyên gia có liên quan để góp ý đối với đề cương để đảm bảo mục tiêu
nghiên cứu của Đề tài và tiến hành tổng hợp ý kiến góp ý gửi cộng tác viên
làm định hướng cho việc nghiên cứu chuyên đề theo mục tiêu Đề tài đã đưa
ra…
Ngày 15/9/2008 Ban Chủ nhiệm Đề tài
đã tiến hành họp cộng tác
viên để góp ý đối với từng đề cương nghiên cứu sau đó gửi lại các cộng tác
viên để tự hoàn thiện chuyên đề nghiên cứu. Tiếp đó, Ban Chủ nhiệm và
Thư ký Đề tài đã tổ chức các tọa đàm khoa học theo các chuyên đề nhằm
trực tiếp phục vụ cho việc thảo luận, trao đổi sâu rộng về các vấn đề trong
quá trình các Cộng tác viên nghiên cứu, chu
ẩn bị các chuyên đề của mình.
Trên cơ sở kết quả các tọa đàm khoa học, Ban Chủ nhiệm Đề tài yêu cầu
Cộng tác viên tiếp tục nghiên cứu, chỉnh sửa để hoàn thiện nội dung các
chuyên đề và sau đó tổ chức nghiệm thu chuyên đề.
Báo cáo phúc trình Đề tài đã được Ban Chủ nhiệm Đề tài và Thư ký
chủ động chuẩn bị trong quá trình thực hiện Đề tài. Công việc này được bắt
đầu t
ừ khâu xây dựng Đề cương sơ bộ, Đề cương chi tiết với việc chỉnh lý
vi phạm xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã
hội, lộ trình cải cách tư pháp để bảo
đảm thực hiện các cam kết quốc tế,
theo đó, cơ quan quản lý hành chính nhà nước chỉ thực hiện chức năng
quản lý, điều hành vĩ mô, đối với các yêu cầu, xem xét đối với các hành vi
vi phạm pháp luật thì tiến hành bằng thủ tục tư pháp. Kết quả này phục vụ
chính cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật của Chính phủ, Quốc
hội mà cụ thể là Bộ Tư pháp, B
ộ Công an, Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội, Bộ Y tế…, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và các cơ quan nhà nước trong hệ thống các cơ quan tư pháp ở trung
ương như Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
V. Sản phẩm của Đề tài
Kết quả nghiên cứu của Đề tài sau khi kết thúc được thể hiện qua các
sản phẩm sau:
1. Báo cáo phúc trình Đề tài khoa học cấp Bộ về “Các biện pháp xử
lý hành chính khác và việc đảm bảo quyền con người”;
2. Các chuyên đề nghiên cứu các vấn đề cụ thể thuộc phạm vi Đề tài
về các biện pháp xử lý hành chính khác và việc bảo đảm quyền con người.
15
CHƯƠNG I
QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH KHÁC TRONG VIỆC ĐỐI CHIẾU VỚI
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN CON NGƯỜI
vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thay thế Pháp
lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 1989, đây là lần đầu tiên trong lịch sử
lập pháp của nước ta các biện pháp xử lý hành chính khác mới được chính
thức quy định trên cơ sở một văn bản pháp lý có hiệu lực cao và công bố
công khai trước công chúng và được thực hiện như một biện pháp cưỡng
chế hành chính đối với những đối tượng nhất định và cho đến nay
PLXLVPHC năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung nă
m 2008) thì các biện
16
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào
cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh vẫn tiếp tục được duy trì và sửa
đổi, bổ sung theo hướng ngày càng tiến bộ hơn trong mối tương quan với
việc tăng cường bảo đảm quyền con người ngoài biện pháp quản chế hành
chính đã bị bãi bỏ theo Pháp lệnh sửa đổ
i một số điều của PLXLVPHC số
31/2007/PL-UBTVQH11.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam việc xử lý đối với các vi phạm
pháp luật do cá nhân thực hiện được thực hiện thông qua hai hình thức xử
lý chính thức, đó là XLVPHC (bao gồm cả xử phạt vi phạm hành chính và
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, trong đó có biện pháp giáo
dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, biện
pháp đưa vào cơ
sở giáo dục và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh) và xử
lý hình sự áp dụng đối với đối tượng có đủ yếu tố để cấu thành tội phạm
2
.
tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
17
phạm các quyền, cho nên cần phải tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng và bảo
đảm các quyền con người của họ trong quá trình áp dụng các biện pháp xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật của họ, trong đó có các quy định về chế
độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Tuyên ngôn thế giới về
nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền được bảo
vệ bằng các toà án quốc gia có thẩm quyề
n với phương tiện pháp lý có hiệu
lực chống lại các hành vi vi phạm các quyền căn bản của họ đã được Hiến
pháp hay pháp luật công nhận”, “Không ai bị bắt bớ, giam cầm, đầy ải một
cách vô cớ”, “được xét xử công khai và công bằng trước toà án”, “được coi
là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội, được bảo vệ không bị
buộc tội về một hành vi mà lúc xảy ra không bị luậ
t pháp coi là tội ác”,
“Không ai phải chịu sự can thiệp vô cớ đến đời tư, gia đình, nhà cửa hoặc
thư tín, cũng như sự xúc phạm đến danh dự hoặc uy tín cá nhân. Mọi người
đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm
như vậy”
3
. Các quy định này tiếp tục được tái khẳng định trong Công ước
Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, Công ước quốc tế về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá và các văn kiện khác của Liên hiệp quốc có liên
quan như Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Quy tắc chuẩn tối thiểu của
Liên hợp quốc về quản lý tư pháp người chưa thành niên, Quy tắc của Liên
hiệ
vào trường giáo dưỡng áp dụng đối với NCTN vi phạm gồm 3 loại đối
tượng là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu
của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại
Bộ luật hình s
ự; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có
dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng mà
trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc
chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổ
i nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa
đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp
này nhưng không có nơi cư trú nhất định (Điều 24 PLXLVPHC, Nghị định
số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp
d
ụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định số
66/2009/NĐ-CP ngày 01/8/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 142/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/11/2003 của Chính phủ
quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo
dưỡng). Ba là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục gồm
đối tượng là người từ đủ 18 tu
ổi trở lên đến 55 tuổi (đối với nữ) và đến 60
tuổi (đối với nam) có hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức (trong nước và
nước ngoài), tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm (của công dân hoặc
người nước ngoài), vi phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất thường
xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị tr
ấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp
này nhưng không có nơi cư trú nhất định (Điều 25 PLXLVPHC, Nghị định
số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp
học pháp lý về cấu thành trách nhiệm pháp lý có thể nhận thấy rằng các
quy định về đối tượng áp dụng mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của
vi phạm pháp luật: đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành
động của con người vi phạm các quy định của pháp luật về trật tự quản lý
hành chính nhà nước do Nhà nước ban hành; hành vi đó thể hiện ý chí c
ủa
chủ thể đều thực hiện một cách cố ý và nó xâm hại đến an ninh, trật tự, an
toàn xã hội và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước.
Như vậy, có thể thấy các quy định về đối tượng áp dụng đối với từng loại
biện pháp xử lý hành chính khác được quy định khá cụ thể, là căn cứ pháp
lý để người có thẩm quyền tiến hành xem xét ra quyết định áp dụng bi
ện
pháp hạn chế quyền tự do đối với đối tượng vi phạm. Tuy nhiên, qua đối
chiếu với chuẩn mực quốc tế liên quan đến quyền con người, có thể thấy
các quy định về đối tượng áp dụng, đặc biệt là đối tượng áp dụng của
những biện pháp bị hạn chế/tước quyền tự do là chưa thật sự đảm bảo được
quyền t
ự do, an ninh cá nhân của đối tượng bị áp dụng được quy định tại
Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cụ thể:
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính, pháp luật XLVPHC quy
định độ tuổi tối thiểu bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác là
người từ đủ 12 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất
nghiêm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng hoặc một tội phạm ít nghiêm trọng
quy định tại Bộ luật hình sự, (thuộc đối tượng giáo dục tại xã, phường, thị
trấn và đưa vào trường giáo dưỡng); người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần
có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công
cộng (thuộc đối tượng giáo dục tạ
i xã, phường, thị trấn). Có thể nói đây là
những đối tượng thực hiện hành vi không nguy hiểm nhiều cho xã hội hoặc
Hiệp quốc thường không đồng tình với các quốc gia đặt ra các ngưỡng độ
tuổi tối thiểu khác nhau dựa trên tính chất và mức độ nghiêm trọng của
hành vi vi phạm. Nếu một trẻ em chưa đủ trưởng thành để phải chịu trách
nhiệm về hành vi cướp tài sản thì em
đó cũng chưa đủ trưởng thành để phải
chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm nhẹ hơn như trộm cắp tài sản. Bên
cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng những trẻ em có
hành vi vi phạm pháp luật từ khi còn nhỏ tuổi thường là dấu hiệu cho thấy
môi trường gia đình hoặc xã hội mà các em đang sống có vấn đề. Do đó,
biện pháp tốt nh
ất là hướng tới giải quyết những vấn đề đó thay vì trừng
phạt bản thân đứa trẻ. Theo quy định của luật pháp quốc tế, những NCTN
được miễn trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
cần được hưởng các biện pháp bảo vệ đặc biệt chứ không phải bị xử lý
trong một hệ thống hoặc quy trình xử lý khác. NCTN dưới độ tu
ổi chịu
trách nhiệm hình sự được coi là những người chưa đủ trưởng thành để phải
chịu trách nhiệm về hành vi của mình (cả hình sự và hành chính), do đó,
không bị áp dụng bất cứ hình thức xử phạt nào bất kể hậu quả do hành vi
của họ gây ra nghiêm trọng đến đâu. Chính vì thế, việc xác định độ tuổi
chịu trách nhiệm hành chính là từ đủ 12 tuổi trở lên là độ tuổi quá nh
ỏ vì độ
tuổi này đối tượng chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi vi phạm
của mình gây ra cho xã hội.
21
Bên cạnh đó, hiện nay, trong bốn biện pháp xử lý hành chính khác
(giáo dục tại xã, phường, thị trấn; biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
Theo quy định này thì người chưa thành niên mại dâm dưới bất kỳ hình
thức nào, kể trường hợp đối tượng cố ý thực hiện hoạt động bán dâm cũng
không xem là vi phạm pháp luật và không bị áp dụng các chế tài xử
lý theo
pháp luật quốc gia. Như vậy, quy định người bán dâm có tính chất thường
xuyên từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi đối với biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn và từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi
cư trú nhất định thuộc đối tượ
ng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa
bệnh là chưa bảo đảm tương thích với các cam kết quốc tế về quyền con
người.
22
Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc đối tượng bị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào cơ
sở chữa bệnh (trong trường hợp đối tượng đã bị áp dụng biện pháp giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không
có nơi cư trú nhất định). Vi
ệc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với
đối tượng nêu trên hiện nay được xác định trên cơ sở “tình trạng nghiện”
mà không phải trên cơ sở hành vi trái pháp luật xâm phạm an ninh, trật tự
an toàn xã hội mà Nhà nước bảo vệ. Điều này chưa thật sự phù hợp với Các
công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý
5
năm 1961, 1971, 1988, theo đó,
công ước khuyến nghị các quốc gia thành viên cần thiết phải tiến hành áp
dụng các biện pháp để đảm bảo việc trồng trọt, sản xuất, điều chế, vận
5
Các công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý năm 1961, 1971, 1988
23
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 23 Pháp lệnh
XLVPHC) và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 23 Pháp lệnh
XLVPHC) – đây là những đối tượng bị hạn chế/tước quyền tự do cá nhân
đối với những hành vi chưa gây hậu quả cho xã hội theo như Pháp lệnh quy
định. Có thể nói, việc xem xét áp dụng các biện pháp đối với đối tượng nêu
trên được thự
c hiện trên cơ sở yếu tố “nhân thân – vi phạm nhiều lần” của
đối tượng mà không dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi
phạm. Điều này chưa đảm bảo xây dựng trên cơ sở của Quy tắc Bắc Kinh,
theo đó, Bộ quy tắc quy định không được tước bỏ tự do cá nhân vì những
hành vi không mang tính chất nghiêm trọng
6
, Quy tắc chỉ đặt ra việc tước
bỏ tự do cá nhân đối với NCTN vi phạm chỉ được thực hiện khi người đó
thực hiện một hành vi nghiêm trọng có dùng bạo lực chống lại người khác
hay ngoan cố gây ra những tội nghiêm trọng khác và khi không có cách
giải quyết thích hợp nào khác nếu bị xét xử theo quy định.
Đối với đối tượng là NCTN thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp
giáo dục, lao độ
ng, chữa bệnh tập trung như biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh, pháp luật quốc tế xem đây là nhóm đối
tượng bị “tổn thương kép”
8
Lời nói đầu, Điều 3 của Công ước của Liên hệp quốc về quyền trẻ em.
24
chức trách có thẩm quyền chịu sự xem xét của Tòa án quyết định…”. Như
vậy, việc cách ly khỏi xã hội đối với NCTN trong pháp luật hành chính
hiện nay là không có quyết định của cơ quan Toà án, thủ tục xét duyệt hồ
sơ và quyết định áp dụng biện pháp đều do các cơ quan hành chính thực
hiện, điều này không khỏi có những vi phạm quyền dân chủ của công dân,
bởi vì đã nói đến hành chính là nói đế
n quan hệ chỉ huy, phục tùng, có sự
độc đoán, mà những điều này hiện nay là không phù hợp với yêu cầu quản
lý trong xã hội văn minh, xã hội của Nhà nước pháp quyền, ở đó mọi sự
tước tự do, cách ly khỏi xã hội đều được quyết định bởi Toà án có thẩm
quyền và theo đúng các trình tự, thủ tục dân chủ, có sự biện hộ của luật sư,
có tranh tụng
Có thể
thấy, dưới góc độ pháp lý thì các quy định về đối tượng bị áp
dụng biện pháp hạn chế quyền tự do, quyền con người là minh bạch, đảm
bảo nguyên tắc đối tượng “bị tước quyền tự do trong trường hợp có lý do
và theo đúng thủ tục mà pháp luật đã quy định” quy định trong Công ước
quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, xét dưới góc độ quyền con người
theo chuẩn mực quố
c tế thì một số quy định nêu trên chưa thật sự đảm bảo
tương thích, đặc biệt là những quy định về nhóm đối tượng bị “tổn thương
kép” là người bán dâm, NCTN, người nghiện ma túy.
Mục 2
Thẩm quyền xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác
25
còn có chủ thể là người gián tiếp tham gia trong quá trình xem xét ra quyết
định áp dụng như các các cơ quan hành chính Nhà nước như Công an, Tư
pháp, Lao động – Thương binh và Xã hội…), tổ chức (Uỷ ban Mặt trận tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên như Đoàn thanh niên, Phụ nữ…)
và nhà trường, tổ dân phố - đây là những chủ thể tham gia đề nghị, xác
minh, lập hồ sơ, tư vấn giúp Chủ tịch UBND các cấp ra quy
ết định áp dụng
biện pháp đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm theo quy định của
pháp luật XLVPHC. Như vậy có thể thấy chủ thể tham gia vào quá trình
xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định là khá
rộng, việc tham gia của các chủ thể khác nhau vào quá trình xem xét và thi
hành biện pháp trên cơ sở đối tượng thực hiện hành vi vi phạm.
Pháp luật XLVPHC hiện hành quy định chủ thể có thẩm quyền ra
quyết định làm hạn ch
ế/tước quyền tự do của đối tượng thực hiện hành vi
vi phạm là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cụ
thể là Chủ tịch UBND các cấp, theo đó, Chủ tịch UBND xã, phường, thị
trấn (Chủ tịch UBND cấp xã) xem xét ra quyết định áp dụng đối với đối
tượng thuộc diện bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấ
n;
Chủ tịch UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Chủ tịch UBND
cấp huyện) xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp đối với đối tượng bị
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Đối với biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì do Chủ tịch UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (Chủ tịch UBND cấp t
ỉnh) xem xét ra