LỜI MỞ ĐẦU
Trong giao dịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc
tế, một trong những mối quan tâm của bên bán là làm sao có thể nhận được
tiền nhanh chóng để tiếp tục quay vòng vốn kinh doanh. Ngoài các phương
thức thanh toán truyền thống, được coi là an toàn như thư tín dụng ( Letter
of Credit – L/C) hay nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection – D/C)
với đòi hỏi bên mua (với sự hỗ trợ của ngân hàng phục vụ bên mua) phải sẵn
sàng một khoản tiền để thanh toán, thì có một phương thức khác, mà theo đó,
bên bán sau khi giao hàng có thể chuyển nhượng quyền đòi nợ của mình cho
tổ chức tín dụng gọi là nghiệp vụ bao thanh toán. Lợi ích của hoạt động bao
thanh toán rất đa dạng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp
nhà sản xuất có vốn để tiếp tục hoạt động, duy trì được mức nhân công và
quy mô sản xuất; giúp cho các doanh nghiệp sản xuất hàng thời vụ tiến hành
hoạt động sản xuất quanh năm, tránh hiện tượng sa thải công nhân khi hết
thời vụ; giúp doanh nghiệp phát triển với tốc độ nhanh hơn,… từ đó, thúc đẩy
nền kinh tế quốc gia phát triển.
Từ lâu, bao thanh toán đã là một khái niệm quen thuộc trong giới tài
chính thế giới và là công cụ tài chính hữu hiệu trong hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp. Trên thế giới hiện có hơn 1.768 đơn vị bao thanh toán
đang hoạt động. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, khái niệm này vẫn còn khá mới
mẻ và chưa được phổ biến rộng rãi. Để nghiệp vụ bao thanh toán thực sự
phát triển ở Việt Nam, trước hết, đòi hỏi phải xây dựng một hành lang pháp
lý hoàn thiện, vững chắc, tạo tâm lý yên tâm cho các doanh nghiệp cũng như
các ngân hàng khi thực hiện hoạt động này. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
cũng đã ban hành Quy chế cho hoạt động bao thanh toán cùng các văn bản
hướng dẫn. Song, trong quá trình áp dụng, bộc lộ một số những hạn chế nhất
định cần khắc phục. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề
1
tài: “Phân tích những bất cập của pháp luật về bao thanh toán ở Việt Nam,
việc kết hợp sử dụng bao thanh toán trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
ứng dụng ở Mỹ trong thời gian này đã tạo nên sự chuyên nghiệp hóa và
phát triển đột phá cho nền kinh tế Mỹ. Dần dần, hoạt động bao thanh toán
phát triển và là kết hợp của các dịch vụ như tài trợ vốn, đánh giá rủi ro tín
dụng, quản lý sổ sách, thu hộ, tư vấn,…
Từ khi mới ra đời, doanh số nghiệp vụ bao thanh toán rất ít. Nhưng
qua thời gian, doanh số này đã ngày một tăng lên. Số lượng đơn vị tham gia
thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tăng lên nhanh chóng. Tính từ lúc bắt
4
đầu hình thành với chỉ một vài đơn vị bao thanh toán thì tính đến cuối năm
2005, trên thế giới đã có hơn 1.003 đơn vị bao thanh toán với doanh số đạt
hơn 1.016 tỷ EUR.
Việc gia tăng số lượng đơn vị bao thanh toán và doanh số bao thanh
toán đã nói lên tính ưu việt của nghiệp vụ này. Lịch sử hình thành nghiệp vụ
bao thanh toán đã có từ lâu đời và được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy
nhiên, đối với Việt Nam, nghiệp vụ này vẫn còn khá mới mẽ trong hoạt động
ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
2. Khái niệm và phân loại bao thanh toán
2.1 Khái niệm bao thanh toán
Do nghiệp vụ bao thanh toán có quá trình lịch sử lâu đời nên định
nghĩa nghiệp vụ này cũng hết sức đa dạng.
- Theo Từ điển kinh tế (Dictionary of Economie - Christopher Pass &
Bryan Lones), “Nghiệp vụ bao thanh toán là một sự dàn xếp tài chính, qua đó
một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ - factor firm) mua lại
các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi
nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu được của số nợ đã mua và giá
khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên
cung ứng. Theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức
năng sau: Tài trợ bên cung ứng (gồm cho vay và ứng trước tiền), quản lý sổ
sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm
rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
- Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày
06/09/2004 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, nghiệp vụ bao
thanh toán là “một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán
hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán
hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp
đồng mua, bán hàng”.
Như vậy, định nghĩa về bao thanh toán theo pháp luật Việt Nam khá
hẹp, chỉ nhấn mạnh đến bản chất tín dụng thông qua việc tài trợ cho bên bán
6
từ việc nhượng chuyển nhượng khoản phải thu, còn không chú ý đến các
hoạt động khác cũng được coi là thuộc về nghiệp vụ bao thanh toán như cho
vay, thu hộ, quản lý các khoản phải thu và bảo hiểm rủi ro khi bên trả tiền
không thanh toán. Như vậy, bản chất của bao thanh toán theo pháp luật Việt
Nam là chuyển nhượng quyền đòi nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Dịch
vụ từ bên bán hàng (hoặc bên xuất khẩu) cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín
dụng sẽ có quyền đòi nợ từ bên mua hàng (hoặc nhà nhập khẩu) theo thỏa
thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ.
2.2.
Phân loại bao thanh toán
chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với rủi ro không thu được tiền thanh toán,
với điều kiện không có ữanh chấp giữa người bán và người mua. Đơn vị bao
thanh toán không có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước hay đã thanh toán
cho người bán hàng và phải thanh toán vay đủ 100% giá trị hóa đơn. Nghiệp
vụ bao thanh toán vay đủ và bao thanh toán đến hạn chính là bao thanh toán
miễn truy đòi.
c. Phân loại theo tính chất tài trợ
Theo tính chất tài trợ, bao thanh toán được chia là: bao thanh toán
chiết khấu và bao thanh toán đến khi đáo hạn
Bao thanh toán chiết khấu là hình thức bao thanh toán mà đơn vị bao
-
thanh toán sẽ chiết khấu các khoản phải thu trước ngày đáo hạn.
Bao thanh toán cho đến khỉ đáo hạn là hình thức bao thanh toán mà
đơn vị bao thanh toán trả cho khách hàng của đơn vị bao thanh toán giá mua
các khoản bao thanh toán khi đáo hạn.
d. Phân loại theo phương thức
Phân loại theo phương thức bao thanh toán thì bao thanh toán gồm
bao thanh toán từng lần, bao thanh toán theo hạn mức và đồng bao thanh
toán.
3.
Khung pháp lý điều chỉnh về bao thanh toán ở Việt Nam hiện
nay
3.1
Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động
bao thanh toán tại Việt Nam
1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/9/2004 của Thống đốc NHNN.
Tuy nhiên, ngoài quy chế hoạt động bao thanh toán thì các hệ thống văn
bản khác chỉ quy định phạm vi, đối tượng, cách thức hoạt động chung cho các
tổ chức tín dụng mà không đề cập cụ thể đến một loại hình nghiệp vụ cụ thể
nào cả, đặc biệt là đối với nghiệp vụ bao thanh toán.
3.2
Quy định cụ thể về hoạt động bao thanh toán theo
pháp luật Việt Nam
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN
và Quyết định số
30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về
9
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của
các tổ chức tín dụng số 1096/2004/QĐ- NHNN ngày 6 tháng 9 năm 2004 của
Thống đốc ngân hàng Nhà nước thì:
- Các hình thức bao thanh toán được phép: Bao thanh toán nội địa và
bao thanh toán quốc tế.
- Các loại hình bao thanh toán được phép: Bao thanh toán có truy đòi
và bao thanh toán miễn truy đòi.
- Phương thức bao thanh toán: Bao thanh toán từng lần; Bao thanh
toán theo hạn mức và Đồng bao thanh toán (hai hay nhiều đơn vị bao thanh
Sau một thời gian thực hiện thì nghiệp vụ bao thanh toán đã khiến
không ít các doanh nghiệp chán nản, mất lòng tin. May thay, nhờ xu thế hội
nhập nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính tín dụng nói riêng, đã khơi
ngòi cho nghiệp vụ bao thanh toán phát triển và khung pháp lý cũng được
quan tâm, xây dựng cụ thể hơn, tuy nhiên, vẫn không tránh khỏi tồn tại một
số hạn chế nhất định.
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều ngân hàng thương mại
trong nước được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện cung cấp nghiệp
vụ bao thanh toán, điển hình như các ngân hàng Ngoại Thương (VCB), Á
Châu (ACB), Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Sài Gòn Thương Tín
(Sacombank), Xuất nhập khẩu Việt Nam (EXIM Bank), Phương Đông (OCB),
Nam Á, Việt Á... và Công ty tài chính dầu khí (PVFC). Ngoài ra, các chi nhánh
ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam cũng đã lần lượt được cấp giấy phép
12
thực hiện nghiệp vụ này như như Citi Bank, Deusche Bank, HSBC, ANZ, FENB,
UFJ Bank...
Tuy đã được cấp giấy phép thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, thế
nhưng, đa số các ngân hàng vẫn chưa chính thức triển khai nghiệp vụ này,
hoặc nếu có cũng chỉ là những hoạt động cầm chừng và nặng về hình thức
hơn là chất lượng dịch vụ. Cho đến nay, chỉ có một số tổ chức tín dụng trong
nước tham gia vào mạng lưới bao thanh toán quốc tế. Còn doanh số giao
dịch thì vẫn còn rất khiêm tốn, đối tượng khách hàng thì hạn chế trong phạm
vi một số khách hàng quen thuộc.
Thực trạng này là do còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập đã hạn chế
sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán trên thị trường tài chính Việt
Nam. Trong đó, bất cập về khung pháp lý điều chỉnh là một trong những rào
cản lớn khiến bao thanh toán vẫn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam.
bao thanh toán “phát sinh từ giao dịch thỏa thuận không có tranh chấp”).
Theo điều khoản quy định này thì điều hiển nhiên là tổ chức bao thanh toán
sẽ không chấp nhận thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán cho những khoản
phải thu đang bị tranh chấp. Nhưng quy định lại không nêu rõ trường hợp:
Nếu khoản phải thu này sau khi đã được ngân hàng tài trợ lại phát sinh
tranh chấp khi đó ai sẽ là người chịu trách nhiệm rủi ro này. Đây là một trong
những vấn đề gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi đưa nghiệp vụ bao
thanh toán vào áp dụng.
+ Thêm vào đó, điều quan trọng nhất khi thực hiện sản phẩm bao thanh
toán là phải xác định được “giá mua khoản phải thu”. Tuy nhiên, quy chế bao
thanh toán hiện tại lại không đề cập vấn đề này. Khi không có văn bản hướng
dẫn cụ thể thì các tổ chức tín dụng thực hiện bao thanh toán sẽ định giá mua
các khoản phải thu hoàn toàn dựa trên tình hình thực tế và mức độ chấp
nhận rủi ro của hệ thống. Nghĩa là các đơn vị bao thanh toán khác nhau sẽ
định “giá mua các khoản phải thu” khác nhau trong cùng một giao dịch. Điều
này sẽ hạn chế khả năng cung cấp vốn cho bên bán hoạt động đồng thời cũng
14
tạo nên sự không nhất quán trong tiến trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh
toán.
+ Cuối cùng là, về vấn đề hoạch toán kế toán cho nghiệp vụ này, các đơn
vị bao thanh toán sẽ phải hạch toán kế toán cho nghiệp vụ này như thế nào
khi chưa có văn bản hướng dẫn những chuẩn mực hạch toán kế toán chung
cho nghiệp vụ bao thanh toán, làm cho các tổ chức tín dụng lúng túng trong
cách thức thực hiện. Điều này dẫn đến kết quả là tuy cùng một bản chất sự
việc nhưng cách phản ánh của các đơn vị trên sổ sách kế toán lại khác nhau.
Từ đó, gây khó khăn cho các cơ quan ban ngành hữu quan trong việc kiểm
soát nghiệp vụ bao thanh toán.
chứng từ liên quan đến chuyển giao quyền đòi nợ.
Một điều mà các cơ quan Ngân hàng Nhà Nước cần làm là thành lập
những bộ phận chuyên trách nghiên cứu về nghiệp vụ tài chính mới này, trên
cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước đã áp dụng thành công nghiệp vụ
bao thanh toán trên thế giới, đồng thời nghiên cứu kỹ những quy định quốc
tế về nghiệp vụ bao thanh toán, như Công ước UNIDROIT về bao thanh toán
quốc tế, Công ước liên hiệp quốc UNCITRAL về việc chuyển nhượng các khoản
phải thu trong thương mại quốc tế, và luật các Hiệp hội như các quy tắc
chung về bao thanh toán quốc tế GRIF của FCI và các quy tắc chung về bao
thanh toán quốc tế GRIF của IFG. Từ đó, soạn thảo những quy định, hướng
dẫn phù hợp áp dụng vào thực tiễn nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam.
16
Bên cạnh đó, cần thiết phải quy định về quản lý rủi ro trong nghiệp vụ
bao thanh toán. Rủi ro chủ yếu trong nghiệp vụ bao thanh toán thường xuất
phát từ phía người mua (nhà nhập khẩu), nghĩa là khi người mua không có
khả năng hoàn trả cho một khoản nợ thương mại mà ngân hàng đã tài trợ
cho người bán. Vì thế, cần có những quy định để hạn chế rủi ro. Một trong
những nghiệp vụ mà ngân hàng có thể sử dụng để hạn chế rủi ro chính là việc
sử dụng các công cụ bảo hiểm. Có thể nói, công ty bảo hiểm là công cụ tốt
nhất cho nghiệp vụ bao thanh toán trong việc phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên,
hiện nay thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn yếu so với thị trường bảo
hiểm thế giới, và sản phẩm bảo hiểm cho các khoản tài trợ ngân hàng chưa
đa dạng, các công ty bảo hiểm vẫn chưa thực hiện bảo hiểm cho nghiệp vụ
bao thanh toán.
Vì thế, nhằm làm giảm rủi ro cho tổ chức bao thanh toán khi thực hiện
nghiệp vụ, chính phủ cần ban hành các quy định về việc sử dụng các công cụ
bảo hiểm rủi ro ữong bao thanh toán, cho phép các công ty bảo hiểm thực
hiện các nghiệp vụ bảo hiểm bao thanh toán. Có thể thực hiện các hình thức
học kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn, Luận văn đã đề ra các giải phát
nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán, tạo cơ sở để nghiệp
vụ này trở thành một nghiệp vụ tài chính chủ lực của các ngân hàng thương
mại Việt Nam trong một tương lai gần.
19