THỰC HÀNH VỀ THÀNH NGỮ, ĐIỂN CỐ
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
1/ Kiến thức
– Củng cố và nâng cao những kiến thức về thành ngữ, điển cố.
– Bước đầu biết lĩnh hội và sử dụng thành ngữ, điển cố.
2/ Kĩ năng :
– Nhận diện thành ngữ và điển cố trong lời nói.
– Cảm nhận, phân tích giá trị biểu hiện và giá trị nghệ thuật của thành ngữ, điển cố trong lời nói, câu
văn.
– Biết sử dụng thành ngữ, điển cố thông dụng khi cần thiết sao cho phù hợp với ngữ cảnh và đạt được
hiệu quả giao tiếp.
– Sửa lỗi dùng thành ngữ, điển cố
3/ Thái độ
Có ý thức sử dụng thàn ngữ, điển cố một cách phù hợp và hiệu quả.
II. NỘI DUNG CẦN ĐẠT
1/ Thành ngữ:
a) Khái niệm: Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó
không diễn đạt một ý trọn vẹn. (Vũ Ngọc Phan)
b) Phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ
Tục ngữ
Thành ngữ
– Diễn đạt một ý trọn vẹn.
– Không diễn đạt một ý trọn
vẹn.
– Đúc kết kinh nghiệm.
– Có sẵn, quen dùng
– Tương đương với một câu.
– Dụng điển:
+ Dụng 用 : dùng
+ Điển 典 : là các tình tiết đã được chép trong sử sách, kinh truyện của các tác phẩm nổi tiếng thời
trước.Vd như bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến tác giả đã sử dụng những điển cố
như Giường kia, đàn kia …
VD: “Khen rằng: “bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan Đình nào thua…”
(Truyện Kiều)
->Thiếp Lan Đình là điển cố đề cập đến nhà thư pháp lỗi lạc Vương Hi Chi (307 – 365), ở Trung Quốc.
– Lấy chữ: Là mượn lại một vài chữ trong các áng thơ văn cổ để đưa vào câu văn của mình.
VD: –“Khoé thu ba gợn sóng khuynh thành.”
(Cung oán ngâm khúc)
– “Một hai nghiêng nước nghiêng thành.”
(Truyện Kiều)
-> Hai trường hợp trên đều lấy 2 chữ “khuynh thành” của Lí Diên Niêm: “Nhất cố khuynh nhân thành,
tái cố khuynh nhân quốc” (Ngoảnh lại 1 lần làm nghiêng thành, ngoảnh lại lần nữa làm nghiên nước).
3.THỰC HÀNH
Bài tập 1
– Đoạn thơ sử dụng 2 thành ngữ: “Một duyên hai nợ”, “Năm nắng mười mưa”.
– Các thành ngữ này khác với từ ngữ thông thường ở chỗ thành ngữ ngắn gọn, cô đọng, cấu tạo ổn định,
có tính biểu cảm.
Bài tập 2:
– “ Đầu trâu mặt ngựa”: (vật hoá) biểu hiện tính chất hung bạo, thú vật, vô tổ chức của bọn quan quân
đến nhà Thuý Kiều khi gia đình nàng bị vu oan.
– “ Cá chậu chim lồng”: cảnh sống tù túng, chật hẹp, mất tự do.
– “ Đội trời đạp đất”: lối sống và hành động tự do, ngang tàng, không chịu sự bó buộc, không chịu khuất
phục trước bất cứ quyền uy nào. Nó nói lên khí phách hảo hán, ngang tàng của Từ Hải.
->Các thành ngữ trên đều thể hiện thái độ của tác giả.
• Ma cũ bắt nạt ma mới = người cũ bắt nạt người mới.
• Chân ướt chân ráo = vừa mới đến, còn lạ lẫm.
– Cưỡi ngựa xem hoa = qua loa.
Bài 6:
– Chị ấy mẹ tròn con vuông là chúng tôi vui mừng lắm rồi.
– Mày chỉ trứng khôn hơn vịt.
– Anh ấy ngày đêm nấu sử sôi kinh.
– Bọn chúng nó lòng lang dạ thú.
– Anh thật là phú quý sinh lễ nghĩa, bày đặt nhiều quá.
– Nói với nó như nước đổ đầu vịt, chẳng ăn thua gì.
– Tớ đi guốc trong bụng cậu rồi.
Bài 7:
•
•
•
•
Tớ biết rõ gót chân A sin của cậu rồi.
Gia đình nhà ấy nợ như chúa Chổm.
Cậu đùng có làm theo kiểu đẽo cày gữa đường như thế.
Bây giờ thiếu gì những gã Sở Khanh.
Chúng ta hãy tỏ rõ sức trai Phù Đổng vươn mình đứng dậy.