B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP.HCM
PH M TH CH
LU N V N TH C S KINH T
TP. H Chí Minh – N m 2002
MUCÏ LỤC
Trang
Mở đầu
01
Chương 1: Lý luận chung về vốn lưu động và quản lý các khoản phải
thu trong các doanh nghiệp
04
1.1. Khái niệm về vốn lưu động
05
1.4.2.1. Ý nghóa tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
1.4.2.2. Phương hướng và Biện pháp tăng tốc độ luân chuyển
vốn lưu động
13
14
1.5. Quản lý các khoản phải thu
14
1.5.1. Chính sách tín dụng
14
1.5.1.1. Khái niệm, những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín
dụng
14
1.5.1.2. Đánh giá những thay đổi trong chính sách tín dụng
1.5.2. Theo dõi các khoản phải thu
15
17
1.5.2.1. Mục đích của việc theo dõi các khoản phải thu
17
2.1.2.2. Khó khăn
22
1
2.1.3. Tình hình SXKD, nộp ngân sách năm 1998 – 2000
23
2.1.3.1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
23
2.1.3.2. Tình hình nộp ngân sách
26
2.2. Thực trạng về vốn lưu động của các doanh nghiệp Nhà nước
TP.Hồ Chí Minh
26
2.2.1. Tình hình sử dụng tài sản và vốn
26
2.2.2. Thực trạng vốn lưu động trong thời gian qua
3.1. Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu nhiệm vụ của Đảng về việc tiếp tục
sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà
nước
41
3.1.1. Quan điểm chỉ đạo
41
3.1.2. Mục tiêu 10 năm 2001 - 2010
43
3.1.3. Nhiệm vụ 5 năm 2001 - 2005
43
3.2. Một số giải pháp tạo vốn lưu động và quản lý các khoản phải thu
3.2.1. Một số giải pháp vó mô
3.2.1.1. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp
Nhà nước
3.2.1.2. Tạo môi trường pháp lý ổn đònh
3.2.2. Về giải pháp tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho
doanh nghiệp
44
44
44
45
48
3.2.2.2. Đối với doanh nghiệp
49
a) Đầu tư, đổi mới thiết bò - công nghệ nhằm nâng cao hiệu suất
sử dụng vốn lưu động
49
b) Tăng nhanh vòng quay vốn lưu động
49
c) Khai thác các khoản nợ đònh mức, các khoản phải trả khác
50
d) Xử lý các khoản nợ phải thu khó đòi và vật tư hàng hóa tồn
kho kém phẩm chất
e) Tạo vốn thông qua tài trợ tín dụng vốn lưu độngcủa NHTM
3.2.3. Về giải pháp tạo quản lý các khoản phải thu
50
51
51
3.2.3.1. Đối với Nhà nước
d) Nghệ thuật lôi cuốn khách hàng có mức độ tín nhiệm cao
57
e) Chấp hành nghiêm túc các quy đònh về tài chính trong kiểm
tra, kiểm soát việc bán hàng chòu
f) Nguồn nhân lực
Kết luận
58
59
60
3
MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ
trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp Nhà nước. Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và
nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay gắt, doanh nghiệp Nhà nước đã vượt
qua nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, góp phần
quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất
nước; đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, chuyển sang thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đònh hướng xã hội chủ
nghóa.
Doanh nghiệp Nhà nước đã chi phối được các ngành, lónh vực then
chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế; góp phần chủ yếu để kinh tế
tổng các khoản phải thu chiếm 42,1% tổng số tài sản lưu động và đầu tư
ngắn hạn, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tổng nợ khó đòi chiếm
4,7% trên tổng nợ phải thu. Nhiều doanh nghiệp có các khoản nợ khó đòi
chiếm 100% các khoản nợ phải thu.
Chính vì vậy, việc tìm kiếm giải pháp tạo vốn lưu động và quản lý
các khoản phải thu, giảm thiểu áp lực về vốn lưu động trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức cấp bách.
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Một số giải
pháp tạo vốn lưu động và quản lý các khoản phải thu nhằm nâng cao
hiệu suất sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp Nhà nước Thành
phố Hồ Chí Minh”.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của luận án:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa về mặt lý thuyết vốn lưu động,
phương pháp tạo vốn lưu động và quản lý các khoản phải thu trong doanh
nghiệp.
- Nghiên cứu thực trạng về vốn và quản lý các khoản phải thu của
các doanh nghiệp Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số
giải pháp để quản lý các khoản phải thu, nhằm tăng hiệu suất sử dụng
vốn lưu động và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận án chỉ nghiên cứu tình hình hoạt động, các yếu tố vềø vốn và
công tác quản lý chúng tại các doanh nghiệp Nhà nước Thành phố Hồ
Chí Minh. Đây là một trong những đòa bàn mà hệ thống các doanh
nghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ cao, trong thời gian qua đã đạt được những
thành tựu về kinh tế đáng kể, nhưng cũng không tránh khỏi những vấp
váp, những tồn tại.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê
1.1. KHÁI NIỆM VỀ VỐN LƯU ĐỘNG
Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động, các
doanh nghiệp còn phải có đối tượng lao động và sức lao động. Trong nền
sản xuất hàng hóa tiền tệ, các doanh nghiệp phải dùng tiền để mua sắm
đối tượng lao động và trả lương cho công nhân viên, do đó phải ứng trước
một số vốn cho mục đích này.
Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữ
nguyên hình thái ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao động sẽ
thông qua quá trình chế biến hợp thành thực thể của sản phẩm, bộ phận
khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất; đối tượng lao động chỉ có
thể tham gia một chu kỳ sản xuất, đến chu kỳ sản xuất sau lại phải có
loại đối tượng khác, cũng do những đặc điểm trên, giá trò của đối tượng
lao động được chuyển dòch toàn bộ ngay một lần vào sản phẩm mới và
được bù lại khi giá trò sản phẩm mới được thực hiện.
Trong quá trình sản xuất, Doanh nghiệp phải trả lương cho công
nhân viên. Tiền lương chính là giá trò của sức lao động được kết tinh
trong giá trò sản phẩm mới tạo ra.
Như vậy, vốn lưu động bao gồm số vốn ứng trước về đối tượng lao
động và tiền lương. Nhưng trong quá trình vận động thực tế vốn lưu động
phản ảnh theo hình thái tồn tại như nguyên liệu ở khâu dự trữ sản xuất,
sản phẩm đang chế tạo tiếp tục ở khâu sản xuất, thành phẩm, hàng hóa,
tiền tệ ở khâu lưu thông.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bò cho quá trình sản xuất được liên
tục, nguyên vật liệu nằm dự trữ ở kho của doanh nghiệp; một bộ phận
khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm đang chế
tạo, bán thành phẩm tự chế ). Hai bộ phận này từ hình thái hiện vật của
nó gọi là tài sản lưu động. Tài sản lưu động phục vụ trực tiếp cho quá
động sản xuất đã chuyển dòch vào sản phẩm hoàn thành.
- Giai đoạn thứ ba của vòng tuần hoàn (H’ – T’) là giai đoạn lưu
thông. Trong giai đoạn này giá trò của các tài sản được chuyển về hình
thái tiền tệ ban đầu.
Do sự chuyển hóa không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có
các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong lónh
vực sản xuất và lưu thông như những vật tư dự trữ, nguyên nhiên vật liệu,
vật bao bì, vật rẻ tiền mau hỏng, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ,
thành phẩm trong kho, vốn trong thanh toán, vốn tiền tệ trên tài khoản ở
ngân hàng và tại qũy của doanh nghiệp.
Vì vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp là vốn ứng trước về đối
tượng lao động và tiền lương tồn tại dưới các hình thái nguyên nhiên vật
liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm, hàng hóa và tiền tệ
hoặc là số vốn ứng trước về tải sản lưu động sản xuất và tài sản lưu
thông ứng ra bằng vốn lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất
của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động
9
luân chuyển giá trò toàn bộ ngay trong một lần và hoàn thành một vòng
tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất.
1.2. VAI TRÒ CỦA VỐN LƯU ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH TÁI
SẢN XUẤT XÃ HỘI
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của vốn lưu động trong
cùng một lúc nó phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại
dưới nhiều hình thức khác nhau. Để tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của các
tài sản ở các doanh nghiệp, để quá trình sản xuất kinh doanh được liên
tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư vào các hình thái khác nhau
được chia thành nhiều khoản vốn cụ thể như sau:
a) Vốn lưu động nằm trong quá trình dự trữ sản xuất
Loại này bao gồm các khoản vốn:
♦ Vốn nguyên vật liệu chính là số tiền biểu hiện giá trò các loại vật
tư dự trữ cho sản xuất, khi tham gia sản xuất hợp thành thực thể chủ yếu
của sản phẩm.
♦ Bán thành phẩm mua ngoài tính chất giống như nguyên vật liệu
chính.
♦ Vốn vật liệu phụ là giá trò những vật tư dự trữ cho sản xuất có tác
dụng giúp cho việc hình thành sản phẩm hoặc làm cho sản phẩm bền và
đẹp hơn nhưng không hình thành thực thể chủ yếu của sản phẩm.
♦ Vốn nhiên liệu là giá trò những loại nhiên liệu dự trữ cho sản
xuất. Nhiên liệu thực chất cũng là một loại vật liệu phụ nhưng do số
lượng tiêu hao trong sản xuất rất lớn nhưng khó bảo quản cho nên tách
riêng thành một khoản nhằm tăng cường quản lý đối với loại vật tư chiến
lược này.
♦ Vốn phụ tùng thay thế bao gồm giá trò những phụ tùng, linh kiện
dự trữ để thay thế mỗi khi sửa chữa tài sản cố đònh.
♦ Vốn vật đóng gói bao gồm giá trò những vật liệu, bao bì dùng để
gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
♦ Vật rẻ tiền mau hỏng thực chất là giá trò những công cụ lao động
nhỏ và dụng cụ nhưng giá trò thấp, thời gian sử dụng lại ngắn.
b) Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất
Loại này bao gồm các khoản vốn:
♦ Vốn sản phẩm đang chế tạo là giá trò những sản phẩm dở dang
đang trong quá trình chế tạo hoặc đang nằm trên các đòa điểm làm việc
đợi chế biến tiếp.
♦ Vốn thành phẩm tự chế là giá trò những sản phẩm dở dang nhưng
khác sản phẩm đang chế tạo ở chỗ nó đã hoàn thành một giai đoạn chế
biến nhất đònh.
1.3.1.2. Dựa theo hình thái biểu hiện: Vốn lưu động có thể chia
thành: vốn vật tư hàng hóa và vốn tiền tệ.
a) Vốn vật tư hàng hóa: Bao gồm vốn nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn chi phí chờ phân bổ, vốn thành
phẩm, vốn hàng hóa mua ngoài. Các khoản vốn này nằm trong lónh vực
sản xuất và nằm cả trong lónh vực lưu thông là những khoản vốn rất cần
cho lónh vực sản xuất và lưu thông, tiêu thụ sản phẩm. Những khoản vốn
này luân chuyển theo quy luật nhất đònh có thể căn cứ vào nhiệm vụ sản
xuất, mức tiêu hao, điều kiện sản xuất cung tiêu của doanh nghiệp để
xác đònh mức dự trữ hợp lý làm cơ sở xác đònh nhu cầu vốn lưu động cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Vốn tiền tệ: Bao gồm tiền mặt tại qũy, tiền gửi ngân hàng, vốn
thanh toán.
Các khoản vốn này nằm trong lónh vực lưu thông luôn biến động,
luân chuyển không theo một quy luật nhất đònh nhưng thời gian chiếm
13
dùng nói chung không dài. Các khoản vốn này không trực tiếp tham gia
quá trình sản xuất nên nó càng luân chuyển nhanh càng tốt.
1.3.1.3. Dựa theo nguồn hình thành: Vốn lưu động có thể chia thành:
nguồn vốn chủ sở hữu và đi vay.
a) Nguồn vốn chủ sở hữu: Gồm số vốn lưu động được ngân sách
Nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước như các chênh
lệch giá và các khoản phải nộp nhưng được ngân sách để lại; số vốn lưu
động tăng thêm từ lợi nhuận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết;
số vốn góp được qua phát hành cổ phiếu.
b) Nguồn vốn đi vay: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp luôn phát sinh nhu cầu vốn lưu động. Nguồn vốn vay là
cung ứng khác nhau. Nói chung nếu đơn vò cung ứng nguyên vật liệu
càng gần thì vốn dự trữ càng ít; nếu việc cung ứng càng chính xác so với
kế hoạch về kỳ hạn hàng đến, về số lượng, về quy cách nguyên vật liệu…
thì số vốn dự trữ nguyên vật liệu càng ít.
Điều kiện tiêu thụ sản phẩm cũng có ảnh hưởng nhất đònh đến kết
cấu vốn lưu động. Khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi ngày nhiều hay ít,
khoảng cách giữa đơn vò mua hàng dài hay ngắn đều trực tiếp ảnh hưởng
đến tỷ trọng vốn thành phẩm và vốn hàng xuất ra nhờ thu hộ.
♦ Những nhân tố về mặt thanh toán: Sử dụng thể thức thanh toán
khác nhau thì vốn chiếm dụng trong quá trình thanh toán sẽ khác nhau.
Cho nên việc lựa chọn thể thức thanh toán hợp lý, theo sát và giải quyết
kòp thời những vấn đề về thủ tục thanh toán, đôn đốc việc chấp hành kỷ
luật thanh toán có ảnh hưởng nhất đònh đến việc tăng, giảm bộ phận vốn
lưu động bò chiếm dùng ở khâu này.
1.4. HIỆU SUẤT LUÂN CHUYỂN VỐN LƯU ĐỘNG – PHƯƠNG
HƯỚNG TĂNG TỐC ĐỘ LUÂN CHUYỂN VỐN LƯU ĐỘNG
1.4.1. Hiệu suất luân chuyển vốn lưu động
Doanh nghiệp dùng vốn lưu động để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua
sắm vật tư dự trữ sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh
nghiệp tổ chức tiêu thụ thu về một số vốn dưới hình thức tiền tệ ban đầu.
Mỗi lần vận động như vậy gọi là vốn lưu động tuần hoàn. Tùy theo tình
hình sản xuất kinh doanh liên tục của doanh nghiệp, vốn lưu động tuần
hoàn và luân chuyển không ngừng. Thời gian luân chuyển của vốn lưu
động dài hay ngắn gọi là tốc độ luân chuyển của vốn lưu động.
Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn lưu động được biểu thò bằng
chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động được gọi là hiệu
suất luân chuyển vốn lưu động.
Hiệu suất luân chuyển vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu
K =
N
L
hay
L =
Vbq x N
M
Trong đó: K là số ngày luân chuyển hay còn gọi là kỳ luân chuyển
bình quân trong thời kỳ đó
N là số ngày trong kỳ
Trong công thức tính tổng hiệu suất luân chuyển vốn lưu động, tổng
mức luân chuyển tức là tổng số khối lượng công tác vốn lưu động phải
luân chuyển để phục vụ.
Tổng mức luân chuyển dùng để tính tổng hiệu suất luân chuyển vốn
lưu động được tính theo số doanh thu bán hàng trừ thuế trong kỳ.
16
Số vốn lưu động bình quân trong kỳ được xác đònh theo nhu cầu bình
quân của vốn lưu động của cả kỳ kế hoạch. Số ngày trong kỳ tính theo số
ngày quy ước: một qúy có 90 ngày, một năm có 360 ngày.
Hai hình thức biểu hiện tổng hiệu suất luân chuyển vốn lưu động
trên có ý nghóa kinh tế như nhau. Tuy nhiên trong thực tế dùng chỉ tiêu số
ngày luân chuyển có thể xác đònh độ dài của từng khoản vốn lưu động,
vụ nộp các khoản phải nộp cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu
phát triển xã hội trong nước.
1.4.2.2. Phương hướng và biện pháp tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu
động
Muốn tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động cần phải thực hiện các
phương hướng và biện pháp sau đây:
♦ Tăng tốc độ luân chuyển vốn trong khâu dự trữ sản xuất bằng
cách: chọn điểm cung cấp hợp lý để rút ngắn số ngày hàng đi trên đường,
số ngày cung cấp cách nhau; căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động đã xác
đònh và tình hình cung cấp vật tư tổ chức hợp lý việc mua sắm, dự trữ vật
liệu nhằm rút bớt số lượng dự trữ luân chuyển thường ngày, kòp thời phát
hiện và giải quyết những vật tư ứ đọng để giảm vốn ở khâu này.
♦ Tăng tốc độ luân chuyển trong khâu sản xuất bằng cách áp dụng
công nghệ hiện đại để rút ngắn chu kỳ sản xuất, để giảm vốn lưu động.
♦ Tăng tốc độ trong khâu lưu thông bằng cách nâng cao chất lượng
sản phẩm sản xuất, làm tốt công tác tiếp thò để rút ngắn số ngày dự trữ
thành phẩm ở kho, thực hiện được kế hoạch tiêu thụ. Đồng thời theo dõi
tình hình thanh toán nhằm rút ngắn số ngày xuất vận và thanh toán tiền
hàng kòp thời, tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở khâu này.
1.5. QUẢN LÝ CÁC KHOẢN PHẢI THU
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài việc
bán hàng thu tiền ngay còn sử dụng phương thức giao hàng trước và thu
tiền sau. Nợ phải thu là kết quả của việc tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dòch vụ và các hoạt động khác nhưng chưa thu tiền. Để quyết đònh
lượng hàng hóa, dòch vụ cung cấp cho người mua, chính sách tín dụng
thường được các doanh nghiệp cung cấp sử dụng.
1.5.1. Chính sách tín dụng
1.5.1.1. Khái niệm, những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng
dụng không quá cao và cũng không quá thấp để tránh tình trạng loại bỏ
quá nhiều khách hàng tiềm năng, làm giảm lợi nhuận khi các tiêu chuẩn
tín dụng đề ra quá cao hoặc tránh tình trạng làm tăng các khoản nợ khó
đòi khi những tiêu chuẩn đề ra quá thấp. Các thông tin về tư cách tín
dụng của khách hàng có thể được thu thập thông qua việc phân tích các
báo cáo tài chính của khách hàng, phỏng vấn trực tiếp… Trên cơ sở thu
thập đầy đủ thông tin về khách hàng, doanh nghiệp có thể sử dụng hai
phương pháp sau đây để đưa ra quyết đònh là:
- Phương pháp phỏng đoán: phương pháp này thường được áp dụng
cho khách hàng là các doanh nghiệp và phương pháp này được tiến hành
dựa trên:
19
+ Tư cách tín dụng: là tính cách riêng hay thái độ tự nguyện đối với
các nghóa vụ trả nợ và được đánh giá trên cơ sở dữ liệu về những lần
mua chòu trước đó.
+ Năng lực trả nợ: là khả năng thanh toán nhanh các món nợ và
được đánh giá trên cơ sở khả năng thanh toán hiện tại và dòng lưu kim
dự kiến liên quan đến tổng nợ cũng như thời điểm phải trả.
+ Vốn: là sự đo lường về sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng
được đánh giá bằng việc phân tích tình hình tài chính của khách hàng.
+ Thế chấp: là bất cứ tài sản nào mà khách hàng có thể sử dụng để
đảm bảo cho các khoản nợ.
+ Điều kiện kinh tế: là điều kiện đề cập đến xu thế phát triển của
ngành kinh doanh hoặc tiềm năng của nền kinh tế.
Phương pháp này chủ yếu dựa vào sự phán đoán, do đó cần khắc
phục tính chủ quan khi thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê: phương pháp này thường áp dụng đối với
thay đổi, doanh nghiệp nhận được ít hơn trên mỗi đồng doanh số bán.
Các chi phí thu tiền, nợ khó đòi giảm khi tỷ lệ chiết khấu mới đưa ra có
tác dụng tích cực.
- Chính sách thu tiền
Là những biện pháp áp dụng để thu hồi những khoản nợ mua hàng
quá hạn như gởi thư, gọi điện thoại… Đánh giá về chính sách thu tiền
được áp dụng tương tự các yếu tố trên.
1.5.2. Theo dõi các khoản phải thu
1.5.2.1. Mục đích của việc theo dõi các khoản phải thu
♦ Nhằm xác đònh đúng thực trạng của các khoản phải thu.
♦ Đánh giá tính hữu hiệu của các chính sách thu tiền của doanh
nghiệp.
1.5.2.2. Một số công cụ được dùng để theo dõi các khoản phải thu
♦ Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền
bình quân
=
Các khoản phải thu
Doanh thu bán chòu bình quân 1 ngày trong kỳ
♦ Phân tích “tuổi” của các khoản phải thu
Phương pháp phân tích này dựa trên thời gian biểu về “tuổi” của các
khoản thu. Phương pháp này rất hữu hiệu đối với các khoản phải thu có
sự biến động về mặt thời gian nhưng nó chòu tác động rất mạnh khi
doanh số bán có tính chất mùa vụ.
1.5.2.3. Quyết đònh tín dụng
Chúng ta đã biết mục đích của việc bán hàng bằng tín dụng là để
gia tăng doanh số và nhờ đó gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Như
Sau khi doanh nghiệp thu thập được đầy đủ những thông tin cần
thiết liên quan đến một đơn xin cấp tín dụng, bước kế tiếp là tiến hành
phân tích nguồn thông tin và các số liệu. Để phân tích, doanh nghiệp có
thể sử dụng phương pháp phân tích tuyến tính yếu tố phân biệt trong việc
tính điểm tín dụng. Mục tiêu của phương pháp này là triển khai một hàm
số phân biệt theo loại sau:
Z = a1x1 + a2x2 + … + anxn
Với: Z là số điểm tín dụng của khách hàng
a1… an là các hệ số cho các biến số độc lập khác nhau
22
x1… xn là biến số độc lập, các biến số này tùy thuộc vào khách hàng
xin cấp tín dụng là một doanh nghiệp hay một cá nhân.
- Nếu khách hàng là một doanh nghiệp thì x1… xn có thể là các chỉ số
tài chính quan trọng về khả năng tín dụng cũng như chỉ số khả năng
thanh toán hiện hành, chỉ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số nợ,…
- Nếu khách hàng là một cá nhân thì x1… xn có thể là các khoản thu
nhập của khách hàng trong thời gian qua, những tài sản mà khách hàng
có được.
Tóm lại:
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá
trình sản xuất kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp. Vì vậy, doanh
nghiệp cần phải đảm bảo đủ vốn lưu động để hoạt động nếu muốn đạt
được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao. Với đặc điểm của vốn lưu động là
phân bổ trên khắp các giai đoạn sản xuất, nên công tác quản lý vốn lưu
động nói chung, nợ phải thu nói riêng là vấn một mặt rất quan trọng của
quản lý tài chính nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng vốn lưu động.
Doanh nghiệp nhà nước muốn đạt hiệu quả hoạt động cao, ngoài sự