BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
__________
HỒ THIÊN NGA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ
TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM.
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2000
MỤC LỤC
1
Trang
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG. ………………………………………………………………. 3
KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: …………………………….
3
CỦA
NGÂN
HÀNG
THƯƠNG
6
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CŨA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
……………………….
8
1.3.1. Các khái niệm:…………………………………………………………………………………………………………………………. 8
1.3.2. Các yếu tố chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
…………………………………….
1.3.2.1. Thò trường hối đoái: ………………………………………………………………………………………………. 9
1.3.2.2. Tỷ giá hối đoái: ………………………………………………………………………………………………………. 9
2
9
16
Một số vấn đề về quản lý rủi ro đối với hoạt động
kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại………………………………………………….. 16
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI
NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM………………………………………………………………………………………….
18
2.1. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
:……………………………………….. 18
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:……………………………………………………………………………………….
18
2.1.2. Cơ cấu tổ chức: ………………………………………………………………………………………………………………………… 21
2.1.3. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu: ……………………………………………………………………….
22
2.3. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TE TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP
KHẨU VIỆT NAM: ……………………………………………………………………………… 23
3
2.3.1. Một số vấn đề về tình hình hoạt động kinh doanh và quản lý
ngoại tệ tại Việt Nam trong thời gian qua:………………………………………………………………………..
2.3.2. Tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank:……………………………………………..
4
52
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, kể từ khi Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa, đã tạo điều
kiện cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới và khu vực,
trong đó đặc biệt là việc gia nhập của Việt Nam vào ASEAN đã mở ra một kỷ
nguyên mới cho Việt Nam trong việc mở rộng quan hệ kinh tế và thương mại với
nước ngoài.
Trong bối cảnh như vậy, để có thể hội nhập cùng với cộng đồng tài chính
tiền tệ khu vực và thế giới, việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại nóí
chung, và kinh doanh ngoại hối nói riêng đối với ngân hàng thương mại của Việt
Nam không chỉ là một tất yếu khách quan, mà còn là lẽ sống của chính ngân hàng.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến
các hoạt động kinh doanh về ngoại hối và ngoại tệ có một ý nghóa hết sức quan
trọng đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Cũng chính vì ý thức được ý nghóa quan trọng đối với những vấn đề có liên
quan đến các hoạt động về ngoại hối và ngoại tệ, cho nên việc nghiên cứu đề tài
“ Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại
Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam ” thiết nghó là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay, góp phần cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản lý ngân
hàng, các nhà nghiên cứu có quan tâm đến lónh vực này.
Với phương pháp luận nghiên cứu là phương pháp duy vật lòch sử, trong đó
có vận dụng những kiến thức của các môn học về tài chính, ngân hàng và những
kinh nghiệm thực tế đang hoạt động trong lónh vực kinh doanh ngoại tệ, hy vọng
rằng đề tài nghiên cứu dưới đây sẽ trình bày những vấn đề có liên quan đến hoạt
động kinh doanh ngoại tệ nói chung. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu có giới
ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam.
Một lần nữa, hy vọng rằng đề tài nghiên cứu này sẽ là một tài liệu tham
khảo có ích cho các ngân hàng, các nhà nghiên cứu có quan tâm đến lónh vực kinh
doanh vẫn còn rất mới mẻ đối với thò trường Việt Nam chúng ta.
Mặc dù vậy. do hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động rất phức tạp và
vẫn còn mới mẽ đối với thò trường Việt Nam, vì vậy trong quá trình nghiên cứu
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm, sai sót và mong rằng nhận được
6
sự lượng thứ và đóng góp ý kiến quý báu từ các nhà nghiên cứu, các cá nhân có
quan tâm.
Nhân đây, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Lại Tiến Dónh, Tiến
só Kinh tế của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, người đã có công rất lớn
trong việc hướng dẫn Tôi để đề tài nghiên cứu sớm được hoàn thành.
7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.1. Đònh nghóa về ngân hàng thương mại:
Thật ra, từ Ngân hàng rất quen thuộc với chúng ta ngày nay, nhưng khi nói
về ngân hàng thương mại, thì ở mỗi quốc gia đều có những đònh nghóa khác nhau,
như:
Ở Mỹ, người ta cho rằng ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh
toán:
Với chức năng là trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại cung cấp cho
xã hội các phương tiện thanh toán hữu hiệu như: ủy nhiệm chi, séc, thẻ ngân hàng…
Từ các phương tiện thanh toán, khách hàng của ngân hàng không phải trả với nhau
khối lượng lớn tiền mặt mà chỉ cần ra lệnh cho ngân hàng thông qua các phương
tiện được nêu trên.
1.1.2.5.
Chức năng tạo ra tiền “bút tệ” theo cấp số nhân.
Có thể nói việc tạo ra tiền bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lòch sử hoạt
động ngân hàng. Nhờ tiền ký thác của khách hàng, ngân hàng thương mại có khả
năng cho vay. Nhưng khi cho vay, ngân hàng lại tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là
tiền “bút tệ” và khi đó ngân hàng thương mại trở thành người cung ứng tiền tệ
quan trọng trong nền kinh tế.
9
1.1.2.6. Chức năng làm dòch vụ tài chính và các dòch vụ khác:
Chức năng làm dòch vụ tài chính và các dòch vụ khác là bao gồm như: tư
vấn, cung cấp các thông tin cần thiết cho các công ty để giao dòch trên thò trường
chứng khoán, kinh doanh hối đoái, cho thuê két sắt…..
1.1.3. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
Qua các chức năng được trình bày trên, ta thấy ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp đặc biệt có rất nhiều chức năng kinh doanh về tiền tệ, tín dụng.
Những chức năng đó được thể hiện qua các hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại như: thu hút tiền gửi của công chúng; cho vay ; và thực hiện các hoạt
động về môi giới trung gian; kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán….
Tùy theo sự phát triển kinh tế của mỗi nước, các hoạt động kinh doanh của
từng ngân hàng thương mại có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ, nhưng nói
cơ sở so sánh chỉ tiêu đầu ra và đầu vào của ngân hàng thương mại. Nó phản ánh
trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước
giao, từ đó khẳng đònh vai trò chủ đạo của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
quốc dân.
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại phải được xem xét một cách
toàn diện cả về hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội, cả về mặt thời gian và không
gian, cả trong mối quan hệ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Khi bàn về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại, không thể phủ
nhận sự cần thiết của hiệu quả xã hội, nhưng không thể đánh đồng với hiệu quả
kinh tế. Chỉ khi nào đảm bảo hiệu quả kinh tế thì mới có thể tạo ra hiệu quả xã
hội. Hiệu quả kinh tế quyết đònh, là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội. Nếu hiệu
11
quả kinh tế của ngân hàng thương mại giảm, làm cho ngân hàng thương mại mất
sức cạnh tranh, thiếu sức sống, trở thành gánh nặng cho Nhà nước, lúc này ngân
hàng thương mại không thể đạt được mục tiêu xã hội của mìnhù.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhằm tăng năng lực cạnh tranh của ngân
hàng thương mại trên thò trường thế giới và thò trường trong nước. Năng lực cạnh
tranh của ngân hàng được tạo ra bởi tài sản cạnh tranh và quá trình cạnh tranh. Tài
sản cạnh tranh bao gồm tài chính, công nghệ, cơ sở hạ tầng, con người, v…v… Quá
trình cạnh tranh thể hiện ở chất lượng sản phẩm, giá cả, chất lượng phục vụ, mức
độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, ……
Hiệu quả kinh doanh nâng cao thì chi phí cho một sản phẩm thấp, nhưng lại
đáp ứng tốt những yêu cầu của khách hàng như chất lượng sản phẩm cao, phương
pháp phân phối, cung cách phục vụ tốt, giá cả thấp, v.v… sẽ tạo cho ngân hàng
thương mại bán được nhiều sản phẩm, dòch vụ ngân hàng hơn, tăng thò phần, tăng
lợi nhuận và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên chức, tức là tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là cơ sở để cho cạnh tranh lâu
dài và bền vững.
- Ngoại tệ tiền mặt: là tiền giấy, tiền kim loại, séc du lòch và công cụ thanh toán
tương tự khác bằng ngoại tệ theo quy đònh của pháp luật.
- Hoạt động kinh doanh ngoại hối: Theo nghóa rộng, được hiểu là bao gồm các
hoạt động đầu tư, vay, cho vay, bảo lãnh, mua, bán và các giao dòch khác về ngoại
hối. Theo nghóa hẹp, người ta hiểu hoạt động kinh doanh ngoại hối chỉ đơn thuần
là việc mua và bán số dư có trên tài khoản bằng ngoại tệ nên thường được gọi là
hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thực hiện các chức năng cơ bản sau:
• Đảm bảo cho việc thực hiện thanh toán giữa các doanh nghiệp của các
ngân hàng trên thế giới.
13
• Hỗ trợ các doanh nghiệp tránh các rủi ro khi thay đổi tỷ giá trong thanh
toán bằng ngoại tệ.
• Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài bằng bản tệ tại ngân
hàng trong nước….
1.3.3. Các yếu tố chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ :
1.3.2.1. Thò trường hối đoái:
Trong hoạt động ngoại thương giữa các nước, thanh toán là khâu kết thúc các
khoản giao dòch. Việc thanh toán đó có liên quan đến hai đồng tiền, một của bên bán và
một của bên mua với tên gọi khác nhau và đơn vò tiền tệ khác nhau. Thò trường hối đoái
chính là nơi diễn ra các quan hệ mua - bán, trao đổi các đồng tiền khác nhau đó.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu thò trường hối đoái là nơi thực hiện việc trao
đổi mua bán các loại ngoại tệ và phương tiện chi trả có giá trò bằng ngoại tệ, trong
đó giá cả ngoại tệ được xác đònh trên cơ sở cung cấu ngoại tệ.
Nguyên nhân tồn tại của thò trường này là do các quốc gia muốn giữ chủ
quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền riêng của mình, bởi vì nếu như
mọi quốc gia trên thế giới đều sử dụng một đồng tiền thống nhất thì có thể không
chế thò trường, nhưng có sự tác động của Chính phủ. Thật ra, Chính phủ có
thể sử dụng công cụ tỷ giá để điều tiết các hoạt động kinh tế nhằm phục vụ
các mục tiêu phát triển kinh tế phù hợp theo thông lệ quốc tế.
15
1.3.2.3. Hàng hóa” của thò trường hối đoái:
Hàng hóa được mua – bán và trao đổi trên thò trường hối đoái chính là ngoại
hối. Và, nếu căn cứ theo thông tư số 01/1998/TT-NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước
về việc hướng dẫn thi hành Nghò đònh số 63//1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 do
Chính phủ ban hành, chúng ta có thể hiểu ngoại hối là bao gồm:
-
Các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới
các hình thức tiền giấy, tiền kim loại;
-
Các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán,
hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi bưu điện, và
các công cụ thanh toán khác;
-
Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như: trái phíếu Chính phủ,
trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
-
Cung cấp các dòch vụ mua bán ngoại tệ một cách tốt nhất cho khách hàng
để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
-
Quản lý và duy trì trạng thái ngoại hối ở vò thế chủ động nhằm đảm bảo
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
-
Thu lợi nhuận cho chính mình.
Bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động
thanh toán, hầu hết các ngân hàng thương mại lớn còn thực hiện các hoạt động
ngoại hối theo hình thức liên ngân hàng, có nghóa là các ngân hàng trực tiếp mua
bán với nhau, không liên quan đến khách hàng.
1.3.3.2. Các Ngân hàng Trung ương:
Các Ngân hàng Trung ương không chỉ chòu trách nhiệm phát hành tiền của
nước mình và quản lý và điều tiết sự vận động của tiền tệ, mà còn phải gánh vác
nhiệm vụ giữ ổn đònh tỷ giá giữa đồng bản tệ với các đồng tiền khác. Điều này
hoàn toàn phù hợp với hệ thống “tỷ giá hối đoái cố đònh”, nhưng ngay cả trong hệ
thống tỷ giá thả nổi, ngân hàng trung ương cũng thường xuyên buộc phải can thiệp
vào thò trường hối đoái nhằm duy trì trật tự của thò trường.
Các ngân hàng Trung ương tham gia vào thò trường hối đoái nhằm hai mục
đích là: một là điều chỉnh tỷ giá để đạt được mục tiêu kinh tế vó mô tổng thể của
17
một Quốc gia (trong trường hợp một Quốc gia duy trì chế độ tỷ giá cố đònh hoặc tỷ
giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nước); hai là để duy trì trật tự của thò trường.
hối đoái và thực tế đã cho thấy nghiệp vụ này chiếm đến hơn 80 % giao dòch mua
bán trên thò trường hối đoái.
-
1.3.4.2. Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD):
Là nghiệp vụ, trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng
ngoại tệ theo một tỷ giá xác đònh, và việc thanh toán sẽ được được thực hiện trong
tương lai.
Đối với các doanh nghiệp, việc tham gia vào nghiệp vụ này là nhằm tránh
những rủi ro do sự biến động của tỷ giá trong tương lai.
Đối với các ngân hàng thương mại, nghiệp vụ này được sử dụng để cân
bằng trạng thái ngoại hối mỗi khi có một giao dòch phát sinh.
Tỷ giá có kỳ hạn sẽ được xác đònh trên cơ sở tỷ giá giao ngay, thời hạn giao
dòch và lãi suất của hai đồng tiền đó. Cụ thể là:
Tk = Ts x 1 + KLb
1 + KLa
Trong đó:
. Tk: là tỷ giá có kỳ hạn của đồng tiền A so với đồng tiền B (A/B).
. K: là thời gian, thời hạn thỏa thuận (ngày, tháng, năm).
. La: là lãi suất của đồng tiền A (ngày, tháng, năm).
. Lb: là lãi suất của đồng tiền B (ngày, tháng, năm).
19
. Ts: là tỷ giá giao ngay.
1.3.4.3. Nghiệp vụ hối đoái hoán đổi (SWAP):
Là nghiệp vụ, trong đó bao gồm đồng thời cả hai giao dòch : giao dòch
mua và giao dòch bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác
(chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dòch), trong đó kỳ hạn thanh toán
Ngày nay, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại có
xu hướng ngày một tăng. Các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế luôn cho rằng hoạt
động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động kinh doanh có tính chất rủi ro rất cao, và các
tổ chức này đã đề nghò Chính phủ của các quốc gia tuỳ theo điều kiện, đặc điểm
hoạt động đối ngoại của mình, phải đề ra các quy chế, quy đònh thận trọng nhằm
bảo đảm an toàn, ổn đònh của hệ thống tài chính, ngân hàng của từng quốc gia.
Công cụ để quản lý giới hạn trạng thái ngoại tệ là một công cụ rất tiện ích, không
chỉ đơn thuần giúp cho các ngân hàng, các tổ chức tín dụng giảm thiểu rủi ro hối
đoái, kiểm soát các hoạt động đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, bảo đảm cung cầu ngoại
tệ được phản ánh chính xác, bình ổn tỷ giá và góp phần làm lành mạnh hóa thò
trường hối đoái.
Tuy nhiên, để quản lý và giảm bớt rủi ro hay tối đa hóa giá trò tài sản của
từng loại ngoại tệ và tổng thể các loại ngoại tệ, các ngân hàng thương mại thường
sử dụng cả hai phương thức – trạng thái ngoại tệ của từng loại ngoại tệ và tổng
trạng thái ngoại tệ.
21
Quản lý ngoại tệ theo phương thức trạng thái ngoại tệ của từng ngoại tệ,
ngân hàng đo lường qua hai chỉ tiêu:
-
Trạng thái ngoại tệ hiện tại ròng: Đó là sự chênh lệch giữa tổng tài sản
Có và tổng tài sản Nợ .
-
Trạng thái ngoại tệ tương lai ròng: Là sự chênh lệch giữa tổng các giao
dòch ngoại tệ kỳ hạn mua vào và tổng các giao dòch kỳ hạn bán ra.
Tổng trạng thái ngoại tệ ròng: là sự chênh lệch của tất cả trạng thái
ngoại tệ dư thiếu và tất cả trạng thái ngoại tệ dư thừa.
-
Trạng thái ngoại tệ nhanh: là trung bình cộng của tổng trạng thái ngoại tệ
gộp và tổng trạng thái ngoại tệ ròng.
Ba chỉ tiêu trên có mối quan hệ như sau: tổng trạng thái ngoại tệ gộp lớn hơn
tổng trạng thái ngoại tệ nhanh; tổng trạng thái ngoại tệ ròng là nhỏ nhất.
Việc lựa chọn cách nào trong ba cách trên để quản lý rủi ro ngoại tệ phụ
thuộc vào sự tương quan giữa các ngoại tệ hay tương quan thay đổi tỷ giá giữa các
đồng tiền trong bảng trạng thái ngoại tệ của ngân hàng đó.
23
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI
NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM.
2.1. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
(Eximbank):
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Để thực hiện đường lối đổi mới do Đảng và Nhà nước đề ra, ngành ngân
hàng Việt Nam đã tiến hành một bước đổi mới cơ bản, chuyển sang mô hình ngân
hàng hai cấp. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà
nước về tiền tệ và tín dụng, là ngân hàng phát hành, đồng thời là ngân hàng của
các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam. Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín
dụng hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng theo cơ chế thò trường
thương trường trong và ngoài nước.
Hiện tại, ngoài Hội sở chính được được tọa lạc tại số 07 Lê Thò Hồng Gấùm,
Eximbank đã phát triển mạng lưới chi nhánh sang các tỉnh, thành như: Hà nội, Cần
thơ, Đà nẵng….
Kể từ khi được thành lập đến nay, cho thấy Eximbank có dược một vò thế
quan trọng trên thương trường, và đã trở thành một trong những ngân hàng cổ phần
lớn mạnh nhất của cả nước.
Với những thành tựu to lớn đã đạt được trong những năm qua, Eximbank đã
thật sự có uy tín trên thương trường trong và ngoài nước, và kết quả là:
25