Nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng cao su tự nhiên xuất khẩu Việt Nam - Pdf 31

Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cao su là là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng,
tính chống chịu với điều kiện bất lợi cao và mang giá trị kinh tế lớn do chất
lỏng chiết ra từ cây hay còn gọi là “mủ cao su” là nguyên liệu công nghiệp
chính sản xuất ra cao su tự nhiên. Việt Nam và các nước thuộc khu vực Đông
Nam Á có được lợi thế vô cùng lớn từ khí hậu thiên nhiên và đất đai thuận lợi
cho sự phát triển của cây cao su. Bởi vậy, cây cao su đã trở thành nguồn lợi
kinh tế lớn đặc biệt là trong hoạt động xuất khẩu.
Nhìn nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của cây cao su, Việt Nam đã chú
trọng trồng trọt, khai thác và chế biến cao su rộng rãi trên cả nước. Các sản
phẩm cao su tự nhiên không chỉ nhằm phục vụ nhu cầu trong nước mà đồng
thời đóng góp một tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước, có mặt
ở hầu hết tất cả các thị trường trên thế giới.
Tuy nhiên sản phẩm cao su xuất khẩu của Việt Nam còn gặp nhiều trở
ngại lớn và năng lực cạnh tranh còn yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh
trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonexia... Trong điều kiện hội nhập
và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất và chế biến
cao su của Việt Nam nếu không nhanh chóng có những giải pháp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh thì sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc chơi của toàn thế giới.
Để giải quyết những vấn đề nan giải như hiện nay, đồng thời cung cấp, hỗ trợ
cho các doanh nghiệp có thêm được nhiều thông tin, giải pháp xác thực, em
đã quyết định chọn đề tài
“ Nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng cao su tự nhiên xuất khẩu Việt
Nam”.
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
1
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở kết hợp giữa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và phân

VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
MẶT HÀNG CAO SU TỰ NHIÊN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG
HOÁ
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng hoá
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh
Từ lâu, vấn đề cạnh tranh kinh tế về mặt lý luận đã được các nhà kinh
tế học trước Các Mác và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin
cũng đã đề cập đến. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát
triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền
với sự tác động của các qui luật thị trường như qui luật giá trị, qui luật cung -
cầu hay nói cách khác cạnh tranh là một trong những qui luật cơ bản của nền
kinh tế thị trường.
Theo C.Mác: “ Phân công xã hội khiến cho những người sản xuất hàng
hoá độc lập trở thành đối lập với nhau, họ không thừa nhận bất kỳ quyền uy
nào khác mà chỉ thừa nhận quyền uy của cạnh tranh, chỉ thừa nhận sự cưỡng
chế của áp lực lợi ích giữa họ với nhau đè nặng lên chính mình”
Thực chất, cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ
thể tham gia thị trường. Đối với người mua, họ luôn muốn mua được hàng
hoá có chất lượng cao với mức giá thấp nhất có thể có để thoả mãn nhu cầu
của mình. Ngược lại, đối với người bán thì bao giờ cũng muốn đạt được lợi
nhuận tối đa bằng cách họ luôn tìm mọi cách để giảm chi phí sản xuất, nâng
cao chất lượng hàng hoá... để tìm cách giành giật khách hàng và mở rộng thị
trường của mình.
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế còn mang nặng tính chất xã
hội nên cạnh tranh để nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn là điều kiện tiên

về vấn đề này. Do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh,
chúng ta chỉ có thể hiểu rằng: Trong quá trình cạnh tranh thì luôn có kẻ mạnh
người yếu, kẻ thắng người thua. Để thắng lợi trong cạnh tranh, nhân tố tiên
quyết chính là năng lực cạnh tranh của chủ thể cạnh tranh. Một cách đơn giản
về năng lực cạnh tranh là khả năng của các chủ thể để có thể giành được
những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất trên thị trường nhằm mang lại
lợi nhuận cao hơn. Theo cách khác, năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế
là thực lực và lợi thế mà nền kinh tế có thể huy động để duy trì và cải thiện vị
trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới nhằm thu
được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình.
Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được
các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: Phương
pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo
cạnh tranh toàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát
triển (IMD) đề xuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương
pháp trên đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey
Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham
gia xây dựng.
1.1.2. Phân loại các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Ngày nay khi thị trường hàng hoá càng phát triển thì năng lực cạnh tranh
diễn ra càng gay gắt và phức tạp. Một chủ thể kinh tế khi tham gia vào thị
trường bao giờ cũng phải chịu sức ép cạnh tranh từ rất nhiều phía khác nhau
của nền kinh tế. Dựa vào những quan sát, các nhà kinh tế học đã phân chia
cấp độ của năng lực cạnh tranh một cách tương đối bao gồm: năng lực cạnh
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
5
Chuyên đề tốt nghiệp
tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành, năng lực
cạnh tranh của sản phẩm trong cùng 1 ngành.
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh quốc gia

nhiều vấn đề đáng lo lắng và một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất hiện
nay là về việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên
trường quốc tế. Để giải quyết được vấn đề về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trong thời kì hội nhập, chúng ta cần phải nắm thật rõ khái niệm năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách đơn giản nhất có thể
hiểu là “ khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận
được “. Vì vậy khi thị phần tăng lên, cho thấy năng lực cạnh tranh cũng đựơc
nâng cao. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn là khả năng hãng đã bán
được hàng nhanh và nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường
cụ thể về một loại hàng hoá cụ thể.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD định nghĩa năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: “ khả năng của doanh nghiệp, các ngành,
tạo ra thu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong
khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế ”.
Theo Hamed và Prahalad (1994), một doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh nếu nó có thể sản xuất các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao và chi
phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Năng lực
cạnh tranh đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận dài hạn và khả năng của nó để
bồi hoàn cho người lao động và tạo ra thu nhập cao cho các chủ sở hữu. Năng
lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn các doanh nghiệp đối thủ về doanh
thu, thị phần, khả năng sinh lợi.... và đạt được thông qua các hành vi chiến
lược. Điều này, các công ty đạt được thông qua việc nâng cao chất lượng sản
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
7
Chuyên đề tốt nghiệp
phẩm và sự sáng tạo sản phẩm. Như vậy, ta có thể phân biệt năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn như sau: năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp trong ngắn hạn được biểu thị bởi mức giá cả, chất
lượng, chức năng của sản phẩm và thị phần, khả năng sinh lợi, lợi tức trên tài

tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử
dụng nó. Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế,
chiếm ưu thế trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại
trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm. Có nghĩa là, những sản phẩm
mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm có
khả năng cạnh tranh cao hơn.
Nhìn chung, để nâng cao được năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp/ ngành thì điều quan trọng nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm
và lấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm làm nền tảng phát triển. Bởi lẽ, sản
phẩm đại diện cho doanh nghiệp trên thị trường, do vậy năng lực cạnh tranh
của sản phẩm chính là một phần tạo tiền đề hình thành nên năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của quốc gia và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành cũng gắn bó rất mật thiết và phụ
thuộc lẫn nhau. Một quốc gia có vị thế cạnh tranh tốt trên trường quốc tế sẽ
giúp các doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào các thị trường quốc tế hơn, từ
đó xây dựng được năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp/ngành được tốt hơn.
Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của quốc gia là một điều kiện đủ để năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành được nâng cao. Ngược lại, khi các
doanh nghiệp/ngành có một năng lực cạnh tranh tốt thì sẽ thu được nhiều lợi
nhuận, đem lại nguồn thu lớn cho kinh tế của quốc gia, tác động tích cực đến
nền kinh tế, từ đó cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia
dưới con mắt của bạn bè năm châu. Qua đó, chúng ta thấy được, mối quan hệ
hết sức mật thiết của 3 cấp độ cạnh tranh trên. Việc phân loại hoàn toàn mang
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
9
Chuyên đề tốt nghiệp
tính chất tương đối.
1.1.3. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một mặt hàng, chúng ta có rất nhiều
tiêu chí xét ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên đặt trong phạm vi bài nghiên

hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác. Đặc biệt là phải liên tục giữ vững và
duy trì được thị phần của mình trong khoảng thời gian dài nhằm hướng đến sự
phát triển bền vững.
Để xác định qui mô thị trường thị phần, chúng ta có công thức tính thị
phần của hàng hóa xuất khẩu trên một thị trường như sau:
MS =
%100x
M
MA

Trong đó:
MS là thị phần của hàng hóa.
MA là số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M là tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường.
Việc xác định chỉ tiêu này sẽ phản ánh một cách đúng nhất thị phần của
một loại hàng hóa trên thị trường so với các loại hàng hóa cùng loại. Chỉ tiêu
đánh giá ở trên càng lớn tương ứng với việc thị phần của hàng hóa đó chiếm
lĩnh càng lớn thì năng lực cạnh tranh của hàng hóa càng lớn, và nguợc lại
hàng hóa sẽ có năng lực cạnh tranh yếu kém nếu thị phần của nó chỉ chiếm
một phần nhỏ không đáng kể trên thị trường.
1.1.3.3.Chi phí sản xuất và giá hàng dệt may xuất khẩu
Cạnh tranh bằng chi phí có thể được coi là một xuất phát điểm, một
nguyên nhân chính dẫn đến quá trình cạnh tranh trên thị trường. Chi phí được
tính ở hầu như tất cả các khâu từ sản xuất, phân phối,….Tuy nhiên chi phí chỉ
là điều kiện cần, điều kiện ban đầu để đem lại tiền đề vững chắc nhằm nâng
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
11
Chuyên đề tốt nghiệp
cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm.
Trên thị trường hàng hóa, giá cả của hàng hóa có thể được sử dụng như

Chất lượng sản phẩm, hàng hóa không những là thước đo quan trọng
quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực trong các quan
hệ kinh tế, thương mại và sức cạnh tranh trên thị trường.Chất lượng sản
phẩm, hàng hóa càng trở nên quan trọng hơn khi sản phẩm, hàng hóa đó
hướng nhiều đến xuất khẩu. Khi đó, sản phẩm đó không chỉ đại diện cho
doanh nghiệp sản xuất ra nó mà còn là uy tín, là danh dự quốc gia.
Tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa được qui định theo ISO9000. Nhằm
đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng, tránh tình trạng bị sử dụng những hàng
hóa kém chất lượng. Đây là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được coi là không bắt
buộc, tuy nhiên các sản phẩm khi được có bằng ISO 9000 sẽ nâng cao được
năng lực cạnh tranh hơn rất nhiều so với các sản phẩm khác. Bởi lẽ, điều đó
thể hiện sự ổn định về chất lượng của sản phẩm, sự minh bạch trong sản xuất
của doanh nghiệp và tạo được lòng tin với người tiêu dùng.
Bên cạnh hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, mỗi quốc gia đều có
những hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm riêng. Vì vậy, những sản phẩm
ngoài việc có bằng ISO 9000 còn có thể thực hiện việc công nhận các tiêu
chuẩn chất lượng của nước nhập khẩu để từ đó tạo được uy tín lớn hơn từ phía
thị trường nhập khẩu.
1.1.3.5. Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của hàng
xuất khẩu
Hiện nay nhà nước và các tổ chức quốc tế đã đưa ra các qui định nhằm
đánh giá và đảm bảo an toàn cho người sử dụng hàng hóa, bảo vệ môi trường
sinh thái và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế.
Các qui định này thường được cụ thể hóa qua các tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái: Được qui định trong tiêu
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
13
Chuyên đề tốt nghiệp
chuẩn ISO14000. Trong đó qui định đối với các cơ sở sản xuất ngoài việc
đảm bảo chất lượng sản phẩm còn phải có tránh nhiệm và các biện pháp giải

lượng sản phẩm như thay đổi kiểu dáng, mẫu mã cho bắt mắt của người tiêu
dùng, điều chỉnh lại công thức chế biến …. Tuy nhiên, sẽ không quá ngạc
nhiên nếu một sản phẩm khác lại có khả năng cạnh tranh mạnh hơn hẳn và
đánh bật các đối thủ chỉ nhờ vào công cụ định giá sản phẩm thấp hơn giá thị
trường và bằng với giá kì vọng của khách hàng. Vậy đâu là công cụ sẽ đem lại
hiệu quả nhất? Thực chất, để nâng cao được năng lực cạnh tranh của hàng
hóa, chúng ta cần biết cách sử dụng linh hoạt đồng thời các công cụ khác
nhau. Sau đây là 3 công cụ chính:
1.1.4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh
quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường. Trong điều kiện hiện nay,
mức sống của người dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có khả
năng thanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã
và sẽ có xu hướng thay vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều
kiện nhất định về kinh tế kỹ thuật thể hiện ở nhiều mặt khác. Do vậy để nâng
cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững
và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm như đáp ứng được đầy đủ tiêu
chuẩn về chất lượng của nhà nước, các tổ chức, các thị trường qui định.
Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm còn phải đem lại lợi ích tiêu dùng tối
đa và đạt được kì vọng tối đa cho khách hàng. Khi đó người tiêu dùng sẽ tăng
khối lượng hàng hóa tiêu thụ, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanh nghiệp
muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh đi đầu về chất lượng. Khi chất
lượng không còn được đảm bảo, không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì
ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp và kết quả này sẽ thể hiện rõ
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
15
Chuyên đề tốt nghiệp
ràng nhất sự tụt giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa, và doanh nghiệp đó..

Thứ năm là chính sách giá phân biệt. Với cùng một loại sản phẩm nhưng
doanh nghiệp định ra nhiều mức giá khác nhau
Thứ sáu là chính sách bán phá giá. Đây là chính sách định mức giá bán
thấp hơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản xuất. Mục tiêu của
bán giá là tối thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống của
người dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh
quan trọng nhất của doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ
giá với các công cụ khác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn.
1.1.4.3. Cạnh tranh bằng các hoạt động hỗ trợ và tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt
chưa đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải
biết tổ chức mạng lưới bán hàng, đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng
hoá từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng sản phẩm ấy. Thông thường kênh tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp được chia thành: A là kênh trực tiếp ngắn, từ
doanh nghiệp đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, B là kênh trực tiếp dài
( từ DN tới người bán lẻ, sau đó đến tay người tiêu dùng), C là kênh gián tiếp
ngắn ( từ DN tới các đại lý, tiếp đó phân tới các người bán lẻ và sau cùng đến
tay người tiêu dùng).
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng. doanh nghiệp có thể tiến
hành một loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán
hàng, tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế....
Cho đến nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đang dần trở thành một chính
sách tốt và chiếm ưu thế, thậm trí quyết định đến sự sống còn của doanh
nghiệp trên thị trường. Trước nhất là làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá
thông qua việc thu hút sự quan tâm của khách hàng tới sản phẩm của doanh
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
17
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp. Tiếp theo là cải thiện vị trí hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường

Nếu doanh nghiệp đầu tư trọng điểm vào việc phát triển nguồn cung cấp các
yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh sẽ đem lại sự duy trì bền
vững trong sản xuất của doanh nghiệp, và giảm phần nào chi phí sản xuất đầu
vào trong quá trình sản xuất
1.1.5. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của hàng cao su tự nhiên xuất khẩu
Phụ lục: Khái quát chung về đặc điểm của cây công nghiệp cao su và
hoạt động khai thác mủ
* Về khí hậu và đất đai
Cao su là cây nhiệt đới điển hình nên nhiệt độ thích hợp trong khoảng 20
- 30oC, và nhiệt độ là 24 - 28oC. Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới
gió mùa nên phần lớn diện tích canh tác có thể thỏa mãn điều kiện này. Nhiệt
độ thấp và cao đều ảnh hưởng không tốt cho sinh trưởng phát triển của cây và
sự chảy mủ trong khai thác. Vùng trồng cao su yêu cầu lượng mưa đạt 1800 -
2500mm/năm và ẩm độ từ 75% trở lên.Ngoài ra sự phân bố mưa, cường độ
mưa và tính chất cơn mưa cũng là những yêu cầu rất quan trọng. Vì thông
thường việc khai thác mủ thường tiến hành vào buổi sáng nên nếu số ngày
mưa vào buổi sáng nhiều thì số lần khai thác mủ giảm. Khi đó, năng suất mủ
sẽ bị hạn chế. Tùy thuộc cường độ cơn mưa, đồng thời căn cứ địa hình của
vùng mà chúng ta cần có biện pháp canh tác, trồng mới hợp lý. Một số biện
pháp như làm ruộng bậc thang, trồng cây theo đường đồng mức, trồng xen với
các cây cải tạo đất và chống xói mòn để hạn chế hiện tượng rửa trôi, xói mòn
ở những khu vực này.
Cây cao su có thể sống trên hầu hết các loại đất khác nhau ở vùng nhiệt
đới ẩm ướt, nhưng thành tích và hiệu quả kinh tế của cây là một vấn đề cần
chú ý trong khi nhân trồng trên quy mô lớn. Do vậy, việc chọn lựa các vùng
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
19
Chuyên đề tốt nghiệp
đất thích hợp cho cây cao su là một vấn đề cơ bản cần đặt ra. Cây cao su thích

khai thác mủ cao su, tạo các vết rạch vuông góc với mạch nhựa mủ, với độ
sâu vừa phải sao cho có thể làm nhựa mủ chảy ra mà không gây tổn hại cho
sự phát triển của cây, và nhựa mủ được thu thập trong các thùng nhỏ. Quá
trình này gọi là cạo mủ cao su. Việc cạo mủ rất quan trọng và ảnh hưởng tới
thời gian và lượng mủ mà cây có thể cung cấp. Bình thường bắt đầu cạo mủ
khi chu vi thân cây khoảng 50 cm. Cạo mủ từ trái sang phải, ngược với mạch
mủ cao su. Độ dốc của vết cạo từ 20 đến 350, vết cạo không sâu quá 1,5 cm
và không được chạm vào tầng sinh gỗ làm vỏ cây không thể tái sinh. Khi cạo
lần sau phải bóc thật sạch mủ đã đông lại ở vết cạo trước
* Hoá chất và phân bón
Đạm là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng, đóng vai trò tạo năng suất và
chất lượng. Lân có vai trò quan trọng với cây cao su, tuy nhiên khả năng hút
lân ở giai đoạn cây non yếu, được cải thiện khi cây trưởng thành. Kali có vai
trò quan trọng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất mủ của cao su.
Ngoài các chất dinh dưỡng đa lượng, cây cao su hút nhiều chất trung lượng
như Canxi, magiê, lưu huỳnh và các chất vi lượng như Mangan, sắt, bo,
molypđen, kẽm, đồng.
1.1.5.1. Đặc điểm của mặt hàng cao su tự nhiên xuất khẩu
Mặt hàng cao su tự nhiên xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu
đầu vào khai thác từ thiên nhiên. Do cao su tự nhiên được sản xuất với thành
phần chính từ mủ cao su là chất lỏng chiết ra từ cây cao su thiên nhiên. Chính
bởi lẽ vậy, mặt hàng cao su tự nhiên mang những đặc trưng riêng của cây
công nghiệp cao su như là khí hậu đất đai, thời gian khai thác mủ, kỹ thuật
khai thác, hoá chất phân bón và diện tích trồng.
Hoạt động sản xuất cao su tự nhiên xuất khẩu cần lượng vốn đầu tư rất lớn
nhưng thời gian thu hồi vốn lại rất chậm. Vốn đầu tư không chỉ vào qui trình sản
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
21
Chuyên đề tốt nghiệp
xuất chế biến mà ngay từ giai đoạn đầu tiên trồng trọt và khai thác mủ cao su

cao và thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì sự tác động sẽ trở nên
rất mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trường. Và đây
chính là sự lựa chọn phát triển theo chiều sâu của doanh nghiệp và là một lựa
chọn thông minh và đúng đắn. Đặc biệt khi đưa sản phẩm vượt biên giới đến
với tay của những người tiêu dùng của các nước khác như sản phẩm cao su tự
nhiên Việt Nam
* Số lượng sản phẩm
Số lượng sản phẩm sản xuất ra là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng
lực cạnh tranh. Khi số lượng sản phẩm cao su của Việt Nam trên tất cả các thị
trường trên thế giới lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì đồng nghĩa với
sự chiếm lĩnh thị trường của ta đang diễn ra mạnh mẽ và năng lực cạnh tranh
của sản phẩm đang lớn dần. Doanh số sản xuất ra gắn liền với năng suất lao
động trong hai giai đoạn khai thác mủ cao su và chế biến cao su tự nhiên của
Việt Nam. Khi năng suất của hai khu vực này cao tương đối so với các đối thủ
cạnh tranh thì năng lực cạnh tranh của Việt Nam đang dần được khẳng định.
* Cơ cấu chủng loại sản phẩm
Từ nguồn nguyên liệu đầu vào, thông qua công nghiệp chế biến, sản
phẩm cao su tự nhiên xuất khẩu trên thị trường có nhiều chủng loại khác
nhau. Chiến lược xác định cơ cấu chủng loại sản phẩm sản xuất ra xuất khẩu
ra thị trường thế giới góp phần tác động lớn đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm. Khi ta đáp ứng được cơ cấu chủng loại mà thế giới cần thì các sản
phẩm ta sản xuất ra đều được tiêu thụ đúng mục tiêu. Ngược lại, khi đưa ra
chiến lược sản xuất không phù hợp thì chủng loại sản phẩm ta sản xuất nhiều
lại không đạt được sức muc như mong muốn. Do vậy, năng lực cạnh tranh đã
trở nên yếu kém. Một cách đơn giản, ta cần phải tìm hiểu kỹ xu hướng tiêu
dùng để cung cấp và đáp ứng đúng hướng. Theo tìm hiểu, cơ cấu chủng loại
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
23
Chuyên đề tốt nghiệp
cao su tự nhiên của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới chưa hợp lý và

1.1.6.1 Hiệp định hợp tác giữa Thái Lan, Inđonexia, Malayxia ( Hội
đồng cao su IRTC )
Ba nước Thái Lan, indonexia, Malaysia là những nước sản xuất và xuất
khẩu cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, đã có những thỏa thuận hợp tác và
kiên kết chặt chẽ về quản lý sản xuất, phát triển thị trường và xuất khẩu cao
su thiên nhiên. Giải pháp liên kết, hợp tác quản lý sản xuất và xuất khẩu cao
su thiên nhiên giữa 3 nước đã có tác dụng điều tiết được thị trường xuất khẩu
cao su thế giới, hạn chế được sự suy giảm giá cao su, tăng cường vị thế của họ
trong việc cung ứng cao su thiên nhiên trên thế giới.
Hiệp định hợp tác giữa Thái Lan, Indonexia, Malayxia có hiệu lực từ
năm 2002 đã thể hiện cụ thể sự hợp tác quốc tế giữa 3 nước trong việc phát
triển thị trường xuất khẩu cao su thiên nhiên. Một trong những kế hoạch hành
động quan trọng là 3 nước thực hiện giảm 4% sản lượng và 10% xuất khẩu
cao su thiên nhiên bắt đầu tư năm 2002. Để thực thi kế hoạch hành động theo
thỏa thuận của Hiệp Định hợp tác, ba nước đã thành lập hội đồng cao su được
gọi là ITRC gồm đại diện của chính phủ và doanh nghiệp thuộc ngành cao su
của ba nước nhằm kiểm soát việc dự trữ và quyết định thời gian, mức xuất
khẩu cao su nhằm đảm bảo quyền lợi chung.
Việc ký kết hiệp định hợp tác quốc tế, đề ra chương trình hành động cụ
thể giữa 3 nước hàng đầu thế giới về quản lý sản xuất, phát triển thị trường
xuất khẩu cao su thiên nhiên là một giải pháp hữu hiệu trong việc điều tiết thị
trường và bình ổn giá cả xuất khẩu cao su trên thế giới, nhất là tình hình giá
cao su suy giảm thấp như hiện nay.
1.1.6.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan hiện là nước sản xuất và xuất khẩu cao su thiên nhiên lớn nhất
thế giới. Từ năm 2002 – 2008 sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên của
Nguyễn Bích Ngọc Lớp: KTQT 47
25

Trích đoạn Giá caosu tự nhiên xuất khẩu Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của caosu tự nhiên xuất khẩu Những kết quả đạt được Những tồn tại và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status