Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng C.ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam - Pdf 12

Phần mở đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu
- Trong cơ chế thị trờng, năng lực cạnh tranh là yếu tố mang tính quyết định
sự thành bại của một doanh nghiệp.
- ở Việt Nam, chính sách cạnh tranh của Nhà nớc cha đầy đủ và còn hạn
chế. Các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp Nhà nớc lại càng ít quan tâm đến
nội dung, yêu cầu của cạnh tranh, về nâng cao năng lực cạnh tranh...
- Từ trớc đến nay, VNPT là một doanh nghiệp về cơ bản cha thực sự tham
gia cạnh tranh trên thị trờng. Do đó, kinh nghiệm và năng lực cạnh tranh còn hạn
chế. Trong khi đó, quá trình hội nhập đã đến gần, cộng với sự ra đời của các nhà
khai thác mới nhập cuộc, các xu hớng hội tụ của công nghệ và dịch vụ, xu hớng
sát nhập của các tổ chức/Công ty là một thách thức rất lớn đối Tổng Công ty Bu
chính Viễn thông Việt Nam.
Đó chính là lý do đề tài "Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng Công ty Bu chính Viễn thông Việt Nam " đợc lựa chọn để
nghiên cứu.
2. Mục tiêu cần đạt
Trên cơ sở những vấn đề cơ bản về cạnh tranh, về thực tiễn và xu hớng cạnh
tranh trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực dịch vụ bu chính,
viễn thông nói riêng, đề tài nghiên cứu đề xuất một số giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Bu chính Viễn thông Việt
Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cơ bản là mang tính định h-
ớng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Bu chính Viễn
thông Việt Nam, trong đó chủ yếu tập trung vào một số loại hình dịch vụ bu chính
viễn thông đã có cạnh tranh (Internet, điện thoại đờng dài cố định, điện thoại di
động, chuyển phát nhanh, chuyển tiền nhanh).
4. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp các phơng pháp phân tích, tổng hợp và dự báo.
- 1 -

đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và đợc đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ của
doanh nghiệp trên thị trờng.
- 2 -
Đối với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (và sau đó là ngành),
trong nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra song song với những biến đổi của môi tr-
ờng cạnh tranh kinh tế chung. Nhiều nhân tốc nh công nghệ, đào tạo, huấn luyện
và sử dụng nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, liên kết kinh tế, phụ thuộc
vào cả chính sách, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nớc và những nỗ lực của bản thân
doanh nghiệp. Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ
thuộc vào chi phí thấp, giá thành hạ, mà còn cả các yếu tố quyết định năng lực
cạnh tranh về chất nh: việc đánh giá các đối thủ cạnh tranh, sự thâm nhập ngành
của các doanh nghiệp mới; các sản phẩm hay dịch vụ thay thế; vị thế đàm phán
của các nhà cung cấp cũng nh của ngời mua; trình độ đội ngũ nhân viên; kỹ năng
tổ chức, quản lý.
ii. những yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Có một số tiêu chí đánh giá hay phơng pháp khác nhau phân tích năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một là, phơng pháp phân tích theo cấu trúc thị trờng. Theo phơng pháp
này, năng lực cạnh tranh đợc xem xét theo 5 nhân tố nh sau:
1. Sự tham gia của các Công ty mới vào lĩnh vực kinh doanh;
2. Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế;
3. Sức mạnh của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm dịch vụ trên thị trờng;
4. Sức mạnh của ngời mua trong việc lựa chọn ngời cung ứng trên thị trờng
sản phẩm và dịch vụ;
5. Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
Hai là, phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh về
chi phí hay khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm. Các chỉ số chi phí (theo
giá so sánh quốc tế) cho phép xác định đợc mức độ đóng góp của doanh nghiệp
vào nền kinh tế. Các chỉ số đó (Theo giá thị trờng) cho biết năng lực cạnh tranh,

3. Những tiêu chí đặt ra cho chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp, những chính sách, chơng trình và công cụ của Chính phủ để đáp ứng đợc
các tiêu chí đó.
Quá trình điều chỉnh của doanh nghiệp và thay đổi cơ cấu ngành diễn ra
song song với những biến đổi của môi trờng cạnh tranh kinh tế chung. Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do doanh nghiệp tự quyết
định nhng cũng còn phụ thuộc vào những yếu tố do Chính phủ quyết định. Ngoài
ra nó còn phụ thuộc vào những yếu tố mà cả Chính phủ và doanh nghiệp chỉ kiểm
soát đợc trong một mức độ hạn chế hoặc hoàn toàn không quyết định đợc. Các yếu
tố ảnh hởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đợc chia thành 4 nhóm:
- 4 -
- Các yếu tố do doanh nghiệp quyết định bao gồm chiến lợc phát triển, sản
phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu t nghiên cứu công nghệ và
phát triển sản phẩm/dịch vụ, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng.
- Các yếu tố do Chính phủ quyết định tạo ra môi trờng kinh doanh bao gồm
thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học
và phát triển, cho giáo dự và đào tạo nghề, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ
giữa các bên tham gia kinh doanh.
- Các yếu tố chỉ quyết định đợc ở mức độ nhất định thí dụ nh giá nguyên vật
liệu đầu vào cho sản xuất, nhu cầu của ngời tiêu dùng hay môi trờng thơng mại
quốc tế.
- Các yếu tố không quyết định đợc, thí dụ nh môi trờng tự nhiên.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần có sự nỗ lực trớc hết
của bản thân doanh nghiệp và một phần rất quan trọng khác là các chính sách tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh doanh của Nhà nớc.
Nói tóm lại, về các tiêu chí để xác định năng lực cạnh tranh hay các yếu tố
ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có rất nhiều và nhiều cách
phân loại khác nhau. Để xem xét một cách đầy đủ và trình tự nh trên cần mất rất
nhiều công phu. Hơn nữa, tuỳ theo đặc điểm của từng doanh nghiệp hay từng
ngành, tuỳ theo mức độ ảnh hởng của các nhân tố có thể có những cách đánh giá

mức độ cũng nh hình thức còn rất hạn chế). Cùng với sự phát triển của kinh tế thị
trờng ở Việt Nam thì yếu tố cạnh tranh cũng ngày càng phát triển.
Với chính sách thừa nhận và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh phát triển dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Trớc những năm đổi mới, kinh tế Nhà nớc chiếm tỷ trọng và vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế Việt Nam. Năm 1978 kinh tế Nhà nớc đóng góp 81,8% giá trị tổng sản
lợng toàn quốc, phần còn lại chủ yếu là kinh tế tập thể và một bộ phận nhỏ kinh tế
cá thể (kinh doanh thơng mại). Nhng đến năm 1995 khối kinh tế Nhà nớc chỉ còn
chiếm 50,24% trong tổng GDP, khối kinh tế t nhân và khối kinh tế và khối kinh tế
có vốn đầu t nớc ngoài đã đóng góp 49,76% GDP và đến năm 1998 khối kinh tế
Nhà nớc chỉ còn chiếm 49,12% trong tổng GDP (trong đó các doanh nghiệp Nhà
nớc chỉ chiếm 40,17%). Nh vậy, có thể thấy từ sau khi có chính sách đổi mới, các
thành phần kinh tế thay đổi đáng kể, bộ phận kinh tế t nhân, khối doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài, khối kinh tế hỗn hợp tăng đáng kể. Các thành phần kinh tế
càng đa dạng, phong phú thì sự cạnh tranh càng gay gắt, càng phát triển. Cạnh
tranh đã diễn ra mạnh mẽ hơn giữa các thành phần kinh tế trong nớc với nhau và
giữa các thành phần kinh tế trong nớc với các thành phần kinh tế nớc ngoài.
Bên cạnh đó, với chính sách hội nhập khu vực và thế giới, Việt Nam đã chủ
động tham gia các tổ chức kinh tế khu vực cũng nh một số tổ chức quốc tế. Cùng
với chính sách đối ngoại mở cửa, nền kinh tế Việt Nam cũng từng bớc hội nhập
với nền kinh tế khu vực và thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại thơng
với hơn 140 nớc, hàng hoá Việt Nam ngày càng có mặt trên nhiều thị trờng và thị
- 6 -
trờng Việt Nam cũng có hàng hoá đa dạng phong phú hơn rất nhiều. Nền kinh tế
Việt Nam phải đối mặt với một môi trờng cạnh tranh khu vực và quốc tế. Những
thành công ban đầu do phát huy đợc những lợi thế của mình đã góp phần không
nhỏ vào những thành tựu nổi bật của nền kinh tế thời gian qua.
Trong những năm qua cùng với một môi trờng cạnh tranh trong và ngoài n-
ớc đang hình thành, nền kinh tế Việt Nam cũng có những bớc phát triển mới, có ý
nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận và đánh giá tình hình cạnh tranh ở Việt

Công ty Dệt may, Tổng Công ty thuốc lá... đã có ảnh hởng không nhỏ đến tình
hình cạnh tranh ở mảng thị trờng hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân. Trên
mảng thị trờng này cũng đã có một số hình thức cạnh tranh không lành mạnh,
nhiều ngành hàng còn mang tính độc quyền cạnh tranh. Nh các doanh nghiệp Nhà
nớc có lợi thế về quy mô, về vốn, về uy tín (có đợc do lòng tin của dân chúng vào
Nhà nớc) lại đợc hởng các u đãi không chính thức trong vay vốn ngân hàng và
thậm chí cả hạn ngạch xuất, nhập khẩu (nh với Tổng Công ty Dệt may, Tổng Công
ty Cà phê...). Trớc năm 1999, các doanh nghiệp t nhân không đợc phép xuất khẩu
hầu hết các mặt hàng, điều đó cũng là một trong những quy định hạn chế tính cạnh
tranh của các doanh nghiệp này. Một số doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn nớc ngoài đôi khi đợc hỗ trợ bởi Công ty mẹ có ngân sách tiếp thị lớn
đã gây ra những hình thức cạnh tranh không lành mạnh nh bán phá giá... trên một
số thị trờng hàng hoá và dịch vụ.
Thị trờng một số mặt hàng chiến lợc nh xi măng, hoá chất, thép, than, hàng
không... thì tập trung thị phần lớn ở các doanh nghiệp Nhà nớc, mà chủ yếu là
Tổng Công ty Nhà nớc nh Tổng Công ty Xi măng chiếm 75-805 thị trờng, Tổng
Công ty Xăng dầu chiếm 60% thị trờng, Tổng Công ty Hoá chất 70% thị trờng, 4
ngân hàng thơng mại quốc doanh chiếm tới 81% tổng số vốn của các ngân hàng
thơng mại... Các Tổng Công ty Nhà nớc có ảnh hởng lớn đến thị trờng, số các đơn
vị thành viên của nó đã chiếm khoảng 1/3 tổng số doanh nghiệp Nhà nớc và có
một mạng lới rộng khắp do đợc thừa hởng từ quá trình phát triển lâu đời của các
doanh nghiệp Nhà nớc. Cạnh tranh đó là chính sách hỗ trợ của Nhà nớc trong việc
thực hiện một số chính sách xã hội (mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không
đợc thực hiện) về vốn, về u đãi xuất nhập khẩu và cả chính sách giá do Nhà nớc
quy định. Những điều đó có ảnh hởng không nhỏ đến tình hình cạnh tranh trên
những thị trờng này. Ngời tiêu dùng đôi khi phải chịu những thiệt thòi về giá, về
chất lợng và đôi khi tạo ra những bất ổn trên thị trờng. Điều đó cũng làm giảm tính
cạnh tranh linh động vốn có của các đơn vị thành viên của các Tổng Công ty.
Một lĩnh vực tập trung khá nhiều doanh nghiệp Nhà nớc (theo mô hình
Tổng Công ty 90) hoạt động cạnh tranh diễn ra khá sôi động là lĩnh vực dịch vụ

Bối cảnh quốc tế trong giai đoạn tới theo một số dự báo sẽ có những diễn
biến phức tạp, kinh tế có xu hớng phục hồi nhng cha vững chắc. Cách mạng khoa
học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ và có tác động lớn đến nền kinh tế thế giới
cũng nh kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, xu hớng khu vực hoá và toàn cầu hoá dẫn
đến việc cơ cấu lại kinh tế khu vực và quốc tế. Cuộc đấu tranh về trật tự kinh tế
khu vực và thế giới sẽ diễn ra gay gắt, cơ hội phát triển và thành công chỉ đến khi
có một lộ trình hội nhập phát huy đợc các thế mạnh cạnh tranh của nền kinh tế
trong nớc.
- 9 -
Khu vực ASEAN trong giai đoạn tới kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi và phát
triển. Tuy nhiên, tốc độ tăng trởng sẽ không cao nh những năm đầu thập kỷ 90. Xu
hớng nhất thể hoá nền kinh tế khu vực sẽ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn 1995 -
2000 chúng ta đã chủ động tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế thì đến giai
đoạn này chúng ta phải từng bớc thực hiện các cam kết với các tổ chức kinh tế khu
vực và quốc tế. Theo những yêu cầu của các cam kết đó đòi hỏi sự bảo hộ của Nhà
nớc phải dần đợc dỡ bỏ, thị trờng trong nớc phải từng bớc đợc mở cửa cho các
doanh nghiệp nớc ngoài tham gia. Cơ hội tham gia thị trờng khu vực và quốc tế
đối với các doanh nghiệp Việt Nam cũng đợc mở ra rộng lớn hơn. Có thể nói giai
đoạn 2001 - 2005 kinh tế Việt Nam sẽ bớc đầu phải đối mặt với cạnh tranh khu
vực và quốc tế. Xu thế cạnh tranh trên thị trờng Việt Nam cũng nh sự cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam trên trờng quốc tế sẽ sôi động và khắc nghiệt hơn.
2.2. Một số xu hớng cạnh tranh trên thị trờng Việt Nam trong thời gian
tới.
Trên thị trờng Việt Nam trong thời gian tới sự cạnh tranh chắc chắn sẽ diễn
ra gay gắt hơn những năm qua. Cùng với việc đẩy mạnh đổi mới kinh tế thì các
thành phần kinh tế khác, nhất là thành phần kinh tế t nhân sẽ có nhiều điều kiện
phát triển trong các lĩnh vực sản xuất hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng (những lĩnh vực
có thị trờng rộng lớn và không yêu cầu vốn đầu t quá lớn); chủ trơng này đã đợc
cụ thể hoá bằng những quy định thông thoáng hơn trong Luật doanh nghiệp (năm
2000). Có thể nói lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân sẽ vẫn là lĩnh

do cạnh tranh (trong khuôn khổ pháp luật) do đó các hình thức, biện pháp cạnh
tranh cũng sẽ phát triển đa dạng và phong phú hơn. Đến năm 2005, môi trờng
cạnh tranh sẽ gần nh bình đẳng cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp đợc tự do
quyết định tham gia cạnh tranh và phải chấp nhận cạnh tranh với các doanh nghiệp
để chiếm lĩnh thị trờng.
IV. Thực tiễn và kinh nghiệm cạnh tranh của một số tập
đoàn/ Công ty viễn thông trên thế giới.
Trên thế giới, cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông đã đợc thực hiện từ khá
lâu. ở mỗi nớc, mỗi tập đoàn/ công ty đều nhằm những mục tiêu sau:
- Nâng cao hiệu quả đầu t và khai thác: Cạnh tranh sẽ góp phần đáng kể
trong việc nâng cao chất lợng hoạt động của các doanh nghiệp bởi các doanh
nghiệp luôn phải hớng tới mục tiêu cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động
nhằm thu hút khách hàng, tìm kiếm lợi nhuận cho khoản đầu t của mình. Việc cho
phép cạnh tranh sẽ giúp cho các doanh nghiệp tiếp cận với những công nghệ, kỹ
thuật và nghiệp vụ hiện đại.
- Tiếp cận đợc những nguồn tài chính của t nhân: Có thể thu hút đợc
nguồn vốn đầu t của t nhân vào hai mảng đầu t kinh doanh mới và nhợng
quyền/bán những doanh nghiệp hiện có.
- 11 -
- Tạo tiềm năng lớn khuyến khích đầu t trực tiếp nớc ngoài: hiệu quả cao
hơn trong hoạt động của doanh nghiệp là yếu tố giúp nâng cao khả năng cạnh
tranh và từ đó càng thu hút thêm lợng vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài.
- Chiếm lãnh và mở rộng thị trờng nhằm tìm kiếm và thu hút khách hàng:
Với mục tiêu này, mỗi tập đoàn/Công ty không chỉ tối đa hoá lợi nhuận cho mình
mà xét về mặt tổng thể còn góp phần nâng cao sức cạnh tranh cho cả quốc gia.
Trong quá trình hội nhập và xu hớng toàn cầu hoá đang ngày càng đến gần,
mỗi tập đoàn/Công ty bu chính viễn thông muốn tồn tại và phát triển thì cần phải
có những bớc đi thích hợp cho riêng mình. Trong phạm vi đề tài này xin đợc giới
thiệu kinh nghiệm cạnh tranh của một số tập đoàn/Công ty viễn thông trên thế
giới.

rằng để duy trì vị thế chi phối trên thị trờng và cạnh tranh một cách có hiệu quả
nhằm giành đợc các thuê bao mới phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tăng cờng chất
lợng dịch vụ, hoạt động có hiệu quả của mạng lới và cần phải đi đầu trong việc đổi
mới công nghệ. Do vậy, Tập đoàn tiếp tục hoàn thiện các hệ thống mạng bằng
cách áp dụng các hệ thống quản lý mạng tiên tiến và hợp tác chặt chẽ với các nhà
cung cấp thiết bị di động hàng đầu tiên thế giới để phát triển một cơ sở công nghệ
vững chắc, cho phép tận dụng những hành tựu công nghệ trên thế giới. Để tăng c-
ờng hiệu năng tổng thể của mạng, Tập đoàn đang phát triển các dịch vụ giá trị gia
tăng, bao gồm th thoại, bản tin ngắn và các khả năng truyền dữ liệu tiên tiến mà
Tập đoàn cho rằng sẽ tăng mức sử dụng của thuê bao và tạo thêm các nguồn doanh
thu mới cho Tập đoàn.
- Tăng cờng tập trung vào thiết bị và phân phối để mở rộng thuê bao: Việc
đa cạnh tranh vào thị trờng viễn thông di động ở Trung Quốc sẽ mở rộng các kênh
phân phối của các hoạt động khai thác viễn thông di động. Tập đoàn sẽ mở rộng số
thuê bao bằng cách phát triển hình ảnh của mình nh là một nhà cung cấp dịch vụ
có chất lợng thông qua việc xúc tiến các hoạt động quảng cáo mạnh mẽ hơn. Tập
đoàn cũng phát triển mạng phân phối rộng rãi đến các cửa hàng bán lẻ viễn thông,
các bu cục và tiếp tục mở rộng các cửa hàng bán lẻ của riêng mình, khai thác các
cơ hội để đa dạng hoá các kênh phân phối.
- Tiếp tục chú ý đến dịch vụ hậu mãi và củng cố lòng trung thành của
khách hàng: Tập đoàn tiếp tục nâng cao chất lợng hoạt động của các Trung tâm
Chăm sóc Khách hàng và tập trung vào việc hớng dẫn cho khách hàng về công
nghệ di động, các đặc tính về mạng cũng nh dịch vụ của Tập đoàn. Tập đoàn cung
cấp một loạt các dịch vụ khách hàng từ điểm bán hàng trở đi, bao gồm các đờng
dây trợ giúp khách hàng, các Trung tâm Chăm sóc khách hàng, trợ giúp trực tuyến
cho khách hàng có các câu hỏi về thanh toán, kỹ thuật và các khía cạnh khác về
khai thác và dịch vụ; hoàn thiện các khía cạnh khác của dịch vụ khách hàng, bao
- 13 -
gồm độ chính xác của hoá đơn, sự tiện lợi trong thanh toán và tính kịp thời của
việc giải quyết các trục trặc về mạng để củng cố lòng trung thành của khách hàng.

Trung Quốc: Với mức tăng trởng nhanh của ngành viễn thông Trung Quốc, Tập
đoàn nhận thấy sẽ có những cơ hội hấp dẫn cho đầu t mang tính chiến lợc với các
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác. Tập đoàn dự định tận dụng vị trí độc tôn
của mình để tiếp cận các thị trờng vốn quốc tế nhằm khai thác các cơ hội để dành
đợc các hợp đồng kinh doanh về thông tin di động hay viễn thông nói chung ở
Trung Quốc.
2. Korea Telecom (Hàn Quốc):
Theo hiệp định đợc ký kết với WTO, thị trờng viễn thông Hàn Quốc sẽ đợc
mở cửa từng phần bắt đầu từ tháng 1 năm 1998 và sẽ đợc tự do hoá hoàn toàn vào
năm 2001. Hiện nay, Korea Telecom - doanh nghiệp chủ đạo về viễn thông của
Hàn Quốc vẫn giữ độc quyền Nhà nớc trong lĩnh vực điện thoại nội hạt; đối với
dịch vụ điện thoại đờng dài, Korea Telecom vẫn giữ đợc một thị phần lớn là
91,3%. Trong lĩnh vực dịch vụ điện thoại quốc tế, nơi mà Korea Telecom phải đối
mặt với các đối thủ cạnh tranh khác nên Korea Telecom chỉ chiếm đợc 69,7% thị
phần.
- 14 -
Để có thể chuẩn bị tốt cho năm 2001, năm mà ngành viễn thông Hàn Quốc
sẽ đợc tự do hoá hoàn toàn, Korea Telecom đã và đang phải thực hiện một số
chính sách để có thể duy trì đợc vị trí dẫn đầu ngành viễn thông Hàn Quốc nh sau:
- Hớng tới khách hàng: Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn phát triển đều
phải quan tâm đến khách hàng. Cũng nh vậy, Korea Telecom đã thực hiện một ch-
ơng trình coi năm 1999 là "năm của khách hàng" và thực hiện các hoạt động
Marketing phù hợp để đem lại hiệu quả tốt hơn cho khách hàng.
Các trung tâm Chăm sóc khách hàng của Korea Telecom đều đợc kết nối
thống nhất với nhau. Vì vậy, chỉ với một cuộc gọi, các thắc mắc, yêu cầu của
khách hàng sẽ đợc giải đáp. Tuy nhiên, nếu một thắc mắc hay yêu cầu nào của
khách hàng không giải quyết đợc trong ngày hôm đó thì khách hàng sẽ đợc bồi th-
ờng.
- Mở rộng thị trờng: Để hợp tác trên toàn thế giới trong xu hớng toàn cầu
hoá, Korea Telecom đang sử dụng mọi nỗ lực để tái tạo một Công ty viễn thông

nhằm bảo vệ thị phần trong nớc của mình, đổi hớng hoạt động hoặc bán hết các
doanh nghiệp kinh doanh ít có lãi. Doanh thu từ các hoạt động này sẽ đợc đầu t có
chọn lọc vào các hoạt động kinh doanh có mức tăng trởng cao. Korea Telecom
không chỉ sẽ thực hiện các chiến lợc liên minh với các doanh nghiệp nớc ngoài để
giúp Korea Telecom trở thành một Công ty viễn thông hàng đầu của Châu á và
phát triển thành Công ty dẫn đầu trong thông tin quốc tế và thị trờng truyền thông.
3. Deutsche Telecom (Đức)
Cũng giống nh các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác trên thế giới,
Deutsche Telecom - một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Nhà nớc của Đức cũng
đang phải đối mặt xu hớng có nhiều Công ty cạnh tranh mới thâm nhập vào thị tr-
ờng Đức sau quyết định 1994 của Liên minh Châu Âu (EU) về việc mở cửa các thị
trờng phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ viễn thông tại 15 quốc gia thành viên
của Liên minh Châu Âu (trong đó Đức là một thành viên) sau ngày 01-01-1998.
Quyết định này sẽ kết thúc sự tồn tại độc quyền lâu đời của Deutsche Telecom.
Sau quyết định này, một số Công ty cạnh tranh mới đã sẵn sàng thâm nhập thị tr-
ờng Đức. Các Công ty cạnh tranh đã nhận thấy rằng họ sẽ cung cấp các dịch vụ
thông tin di động, Internet và Multimedia bổ sung cho các dịch vụ viễn thông hữu
tuyến truyền thống.
Đứng tình hình đó, Chính phủ Đức đã tiến hành một số biện pháp để chuẩn
bị cho Deutsche Telecom trong môi trờng cạnh tranh mới này mà biện pháp trớc
tiên là thuê Tổng Giám đốc. Tiếp theo, Chính phủ Đức cũng bắt đầu việc t nhân
hoá Deutsche Telecom năm 1996 với giá bán cổ phiếu là 6,2 tỷ đô la Mỹ cho các
nhà đầu t thông qua việc niêm yết trên thị trờng chứng khoán Luân Đôn, Đức và
New York.
- 16 -
Sau khi có sự ra đời của các Công ty cạnh tranh mới, dự kiến giá cớc các
dịch vụ sẽ giảm ít nhất một nửa và để đảm bảo cho Công ty Deutsche Telecom vẫn
duy trì đợc lợi nhuận, Deutsche Telecom lập kế hoạch tăng cờng năng lực làm việc
của nhân viên Công ty lên 505. Nhằm thực hiện đợc kế hoạch này, Công ty đã phải
cắt giảm khoảng 60.000 lao động, chiếm khoảng 1/4 tổng số nhân viên của

Telecom và Sprint đang hớng tới.
Có thể nói, thực tiễn và kinh nghiệm cạnh tranh của các tập đoàn/Công ty
viễn thông trên thế giới đã cho chúng ta thấy nâng cao năng lực cạnh tranh là ph-
ơng pháp tốt nhất để có thể thực sự tham gia vào thị trờng thế giới. Và với mỗi một
tập đoàn/Công ty khác nhau thì có một phơng pháp thực hiện khác nhau nhằm đáp
ứng đợc những mục tiêu riêng của mỗi tập đoàn/Công ty. Vì vậy, việc tiếp thu
những kinh nghiệm cần dựa trên cơ sở phân tích đặc thù, khả năng áp dụng thành
công trong điều kiện cụ thể của ngời đi sau.
Qua xem xét thực tiễn và những kinh nghiệm cạnh tranh của một số tập
đoàn/Công ty viễn thông trên thế giới cho thấy ngoài việc mở rộng và nâng cao
chất lợng mạng lới (bằng một loạt các biện pháp nh đầu t đổi mới công nghệ, đồng
bộ và tiêu chuẩn hoá thiết bị, hỗ trợ đào tạo nhân viên...) để giành đợc thị phần và
phát triển vững vàng, các tập đoàn/Công ty đặc biệt chú ý đến vấn đề mở rộng thị
trờng, hạ thấp giá cớc, đào tạo đội ngũ nhân viên năng động và thành thạo chuyên
môn, làm tốt công tác marketing...
- 18 -
Chơng iI
Hiện trạng năng lực cạnh tranh của
tổng Công ty bu chính viễn thông Việt Nam
I.các yếu tố ảnh hởng đến năng lực cạnh tranh của tổng
Công ty
1. Các yếu tố thuộc chính sách của Nhà nớc
1.1. Chủ chơng, chính sách
Xét dới góc độ Nhà nớc, một trong những biện pháp quan trọng nhất thúc
đẩy doanh nghiệp tự nâng cao năng lực cạnh tranh là tạo ra các đối thủ cạnh tranh
cho doanh nghiệp đó trên thơng trờng, vì nếu duy trì môi trờng độc quyền, doanh
nghiệp không phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác nên sẽ không có động cơ
phát triển theo xu hớng cạnh tranh. Khi xuất hiện những đối thủ cạnh tranh, dù
muốn hay không doanh nghiệp cũng phải tự điều chỉnh lại hoạt động của mình để
có thể tồn tại và phát triển bền vững trong môi trờng mới.

chất quyết định thúc đẩy VNPT phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.2. Chính sách hội nhập quốc tế
Mở rộng quan hệ đối ngoại là một trong 9 nội dung cơ bản đợc Nghị quyết
Đại hội Đảng VIII đề ra. Để thực hiện nhiệm vụ này phải "tiếp tục thực hiện
chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phơng hoá. Mở rộng quan hệ
quốc tế, hợp tác nhiều mặt song phơng và đa phơng với các nớc, các tổ chức
quốc tế và khu vực".
Cuối năm 1997, chủ trơng hội nhập lại đợc thể hiện một lẫn nữa trong Nghị
quyết TWIV khóa "chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật
pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội
nhập thị trờng khu vực và quốc tế".
Thực hiện chủ trơng hội nhập quốc tế đợc TW Đảng đề ra, Việt Nam đã đa
ra cam kết về 5 dịch vụ viễn thông của Việt Nam trong ASEAN. Các cam kết này
quy định các Công ty nớc ngoài đợc tham gia vào lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn
thông ở Việt Nam dới hình thức BCC.
Ngày 13/7/2000 vừa qua, Việt Nam và Mỹ đã ký kết Hiệp định về các quan
hệ thơng mại giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ đợc gọi là Hiệp định Thơng mại Việt - Mỹ. Các quy định tơng đối đầy đủ và
toàn diện về 4 lĩnh vực chính là: Thơng mại hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ, thơng
mại dịch vụ, quan hệ đầu t. Hiệp định này sẽ có hiệu lực sau khi đợc Quốc hội của
2 nớc phê chuẩn. Các cam kết của Việt Nam nêu ra trong Hiệp định sâu và rộng
hơn nhiều so với cam kết trong ASEAN, cho phép 2 năm (3 năm đối với dịch vụ
- 20 -
Internet) sau khi Hiệp định có hiệu lực, phía Mỹ đợc tham gia trong các liên doanh
cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng với mức góp vốn tối đa 505 vốn pháp định và
4-6 năm đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản với mức góp vốn tối đa là 49% vốn
pháp định của liên doanh. Các doanh nghiệp và các nhà quản lý đều ý thức đợc
tầm quan trọng của Hiệp định này đối với sự phát triển và giao lu thơng mại, đặc
biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nớc chủ đạo của Việt Nam trong bối cảnh đất
nớc đang còn phát triển ở mức độ thấp. Yếu tố thách thức dờng nh nhiều hơn là

dịch vụ cơ bản.
Từ 2013-2016:
- Có thể cho phép nâng cổ phần của nớc ngoài trong các doanh nghiệp chủ
đạo lên tối đa 30%.
Từ 2017-2020:
- Là giai đoạn cuối cùng của lộ trình, kết thúc việc xoá bỏ hầu hết các hạn
chế đối với việc cấp phép cung cấp dịch vụ và hình thức đầu t, vẫn đảm bảo quản
lý của Nhà nớc đối với các doanh nghiệp chủ đạo.
1.2. Môi trờng pháp lý
Dới góc độ quản lý Nhà nớc, để nâng cao có hiệu quả năng lực cạnh tranh,
doanh nghiệp phải đợc đặt trong một hành lang pháp lý phù hợp và môi trờng cạnh
tranh lành mạnh. Hành lang pháp lý là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp chủ
động phát triển kinh doanh, tránh việc gì cũng phải có sự chỉ đạo của các cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền. Đồng thời, đây cũng là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp
thực hiện quyền đợc kiến nghị/ khiếu nại về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của các doanh nghiệp khác, chống lại các hoạt động kinh doanh trái phép
của những đối tợng không đủ điều kiện hoặc không đợc phép kinh doanh, kiến
nghị với các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền về những mảng mà khung pháp lý
còn thiếu hoặc cha sát với thực tế.
Về hoạt động của VNPT có thể nói Nghị định số 51/CP ngày 01/8/1995 phê
chẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng Công ty Bu chính Viễn thông Việt
Nam là một trong những văn bản pháp quy có hiệu lực cao, quy định rõ cơ cấu bộ
máy, quyền hạn, trách nhiệm của VNPT trong lĩnh vực bu chính viễn thông. Nghị
định 51/CP là văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng pháp lý cho một loạt các
hoạt động cải cách của VNPT, cả về tổ chức và cơ chế sản xuất kinh doanh nhằm
tăng năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty.
Đối với lĩnh vực cung cấp dịch vụ, Chính phủ và các cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền đã kịp thời ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh hoạt động
trong lĩnh vực này.
Tháng 10/1997, Tổng cục Bu điện đã đồng thời cấp phép cho 5 nhà cung

Nghị định số 21/CP ngày 05/3/1997, ban hành Quy chế tạm thời về quản lý, thiết
lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam.
Đối với các dịch vụ cơ bản, trên cơ sở Nghị định số 109/1997/NĐ-CP ngày
12/11/1997 của Chính phủ, Tổng cục Bu điện đã trình Thủ tớng Chính phủ ban
hành, phối hợp với các bộ ngành có liên quan hoặc chủ động ban hành các văn bản
hớng dẫn thực dẫn thực hiện về mạng, dịch vụ, giá cớc, tần số, tiêu chuẩn kỹ
thuật... Tuy nhiên, dới góc độ là một doanh nghiệp có trách nhiệm thực thi các văn
bản pháp quy của Nhà nớc nh VNPT, hệ thống các văn bản điều chỉnh các dịch vụ
- 23 -
cơ bản vẫn còn thiếu nhiều, cha đáp ứng đợc nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp
trong bối cảnh kinh tế, công nghệ phát triển ngày càng mạnh nh hiện nay.
Việc thành lập các Tổng Công ty 91 và cả Tổng Công ty 90 của Nhà nớc là
nằm trong chơng trình Đổi mới quản lý DNNN. Sự đổi mới này không chỉ nằm ở
nội tại quản lý trong DNNN mà có quy mô, tính chất toàn xã hội. Khi đó, Nhà nớc
dự định tạo môi trờng pháp lý và môi trờng kinh doanh cho Tổng Công ty 91 bình
đẳng với các DNNN khác, phá bỏ sự quản lý kinh doanh của Bộ, ngành. Các Bộ,
ngành sẽ chỉ thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc. Tuy nhiên, Tổng Công ty 91
(trong đó có VNPT) nay lại chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ, và chính sự
quản lý trực tiếp này dẫn đến các Tổng Công ty 91 thờng xuyên xin Chính phủ
khoanh nợ nơi này, bảo hộ mặt hàng kia bằng biện pháp hành chính. Điều này đã
làm tăng thêm nhiều công việc, sự vụ cho Chính phủ phải giải quyết. Thế là, các
Tổng Công ty 91 cha bớc ra đợc khỏi chiếc nôi êm ấm, giảm sức cạnh tranh, giảm
nội lực tại chỗ.
Về nguyên lý, DNNN là một bộ phận sở hữu Nhà nớc, vì vậy vấn đề quản lý
đối với tài sản Nhà nớc đợc đặt ra một cách nghiêm ngặt. Sự nghiêm ngặt này th-
ờng xuyên gây ra sự mất cơ hội trong quá trình đầu t và cạnh tranh. Trong Tổng
Công ty 91, tồn tại hai bộ phận, đó là Hội đồng quản trị và bộ phận Giám đốc
cùng quản lý một tài sản Nhà nớc. Trong nhiều trờng hợp, họ đã không tạo đợc
tiếng nói chung, thậm chí vớng mắc nhau ngay cả trong quyết định đầu t cho các
dự án nhỏ xung quanh vấn đề tổ chức hệ thống sản xuất và sắp xếp cán bộ vào các

ngày càng cao về chất lợng và tăng về số lợng. Hệ thống mạng lới và cơ sở sản
xuất phát triển nhanh, rộng làm cho khối lợng sản phẩm bu chính, viễn thông tăng
nhiều. Những thay đổi này tất yếu dẫn đến sự thay đổi mọi mặt về lao động nh số
lợng, cơ cấu, tính chất lao động, nội dung lao động, phơng pháp lao động...
Đứng trớc sự phát triển của nền kinh tế tri thức đang đợc đề cao, vấn đề con
ngời càng trở nên quan trọng vì đó chính là nguồn sáng tạo tích cực nhất, năng
động nhất - yếu tố hết sức cần thiết và điển hình trong lĩnh vực công nghiệp thông
tin. Theo các số liệu mới nhất cho thấy, trung bình cứ 3 tháng ra đời một kỹ thuật
mới về thông tin, chu kỳ sống trung bình của sản phẩm thông tin chỉ có hai năm r-
ỡi. Do vậy, doanh nghiệp chỉ có không ngừng sáng tạo ra cái mới, không ngừng
dùng hành động đi trớc dẫn dắt trào lu phát triển của ngành nghề, mới có thể đứng
vững trong bão táp của cạnh tranh thị trờng. Việc sáng tạo mới của doanh nghiệp
nói cho cùng là phải dựa vào sự sáng tạo của con ngời. Tạo môi trờng tốt cho cán
bộ công nhân viên là nhiệm vụ trung tâm của doanh nghiệp trong điều kiện mới.
Yêu cầu của công cuộc đổi mới đang đặt ra những nhiệm vụ hết sức to lớn
đối với công tác quản lý nhân sự nói chung, từ khâu tuyển mộ đến việc đánh giá
nhân sự. Trong cạnh tranh, tuyển mộ cũng là tiến trình quan trọng và phức tạp để
thu hút ngời có năng lực và phẩm chất từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký và
- 25 -

Trích đoạn Các yếu tố về thị trờng Cạnh tranh trong cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng Cạnh tranh cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản. Tình hình cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của VNPT trong hoạt động cung cấp các dịch vụ bu chính. Những thuận lợi và khó khăn của VNPT trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status