Khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu năng lực trí tuệ và cảm xúc của sinh viên với khoa ngữ văn trường ĐHSP hà nội 2 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

= = = ỉ o O g ỉ ===
HÀ T H Ị TRANG

NGHIÊN CỨU NĂNG Lực TRÍ TUỆ
VÀ CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI
KHOA NGỦ VĂN - TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
ĐẠI
HỌC




C h u y ê n n g à n h : S in h lý n g ư ờ i và đ ộ n g y ậ t

Người hưÓTig dẫn khoa học
TS. Nguyễn Xuân Thành

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Thành, người đã
hết lòng giúp đõ' và chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.


Hà Thị Trang


MỤC LỤC
Trang

MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 3
1.1. Nghiên cứu về trí tu ệ ...................................................................................3
1.1.1. Những khái niệm chung trí tuệ.............................................................3
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu trí tu ệ .................................................................... 8
1.1.3. Các phương pháp đánh giá trí tu ệ ......................................................10
1.2. Nghiên cứu về cảm x ú c .............................................................................13
1.2.1. Các khái niệm về cảm x ú c ................................................................. 13
1.2.2. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vựccảm x ú c...........................14
1.3. Mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ và cảm x ú c ........................................ 16
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

c ứ u ............... 18

2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................ 18
2.2. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................18
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.............................................................................18
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn m ẫu ................................................................. 18
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số.................................................. 19
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN................................. 23
3.1. Năng lực trí tuệ của sinh viên..................................................................23
3.1.1. Chỉ số IQ trung bình của sinh viên theo tu ổ i................................... 23
3.1.2. Mức trí tuệ của sinh viên khoa Ngữ V ăn..........................................24

Hình 3.6. Cảm xúc và các trạng thái cảm xúc của sinh viên khoa Ngữ văn
trong từng lóp tu ổ i...............................................................................32
Hình 3.7. Cảm xúc và các trạng thái cảm xúc của sinh viên khoa Ngữ văn
giữa các lớp tuối...................................................................................33


CHỮ VIẾT TẮT
IQ
UNESCO

Chỉ số thông minh (Intelligence Quotient)
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên họp

quốc
WAIS

Wechsler Adult Intelligence Scale

Wise

Wechsler Intelligence Scale for Children


M Ỏ ĐẦU


Lí do chọn đề tài
Cảm xúc là thái độ chủ quan của con người đối với các sự vật và

hiện tượng của thế giới xung quanh. Dựa vào những biến đổi về sinh lý


Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội 2.
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về năng lực trí tuệ và
cảm xúc của sinh viên khoa Ngữ văn được nghiên cứu.


Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc xác định được mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ và cảm

xúc có vai trò rất quan trọng đối với những người làm công tác giáo
dục, qua đó chúng ta cần đối mới công tác giáo dục nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học.

2


C h ư ơ n g 1. T Ỏ N G Q U A N T À I L IỆ U
1.1. Nghiên cứu về trí tuệ
1.1.1. N hững khái niệm chung trí tuệ
Hiện nay có rất nhiều nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành
khác nhau quan tâm đến vấn đề trí tuệ. v ấn đề trí tuệ đã và đang được
coi là vấn đề quan trọng trong sinh lý học, tâm lý học, sinh lý học thần
kinh và nhiều khoa học khác. Tuy nhiên khái niệm trí tuệ vẫn còn nhiều
quan điểm khác nhau.
Theo Bogoxlopxki và các tác giả khác [1] thì trí tuệ là năng lực
chung đảm bảo cho khả năng nắm trí tuệ một cách rõ ràng. L. Terman
[5] lại còn coi trí tuệ là năng lực phát triến tư duy trừu tượng. Còn theo
V. V. Stem, trí tuệ là năng lực thích ứng tâm lý chung của con người
với những điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống. N. X. Rukinstrin
cho rằng trí tuệ là sự thích ứng tích cực, có hiệu quả. Qua các định

về trí tuệ khác nhau nhưng không loại trừ nhau. Mỗi quan điểm đều
được xuất phát từ một dấu hiệu nào đó cho là quan trọng của trí tuệ. Vì
vậy, trong số những quan điểm trên, chưa định nghĩa nào chứa đựng hết
bản chất của hiện tượng phức tạp như trí tuệ.
Năm 1979, dựa trên sự phân tích về các mặt lý luận và phương
pháp luận của việc nghiên cứu trí tuệ, theo B. M. Blaykhan và L. p.
Barlachec đã đưa ra định nghĩa về trí tuệ được nhiều người thừa nhận:
“trí tuệ là một cấu trúc động tương đối đọc lập của các thuộc tính nhận
thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động do
những điều kiện văn hóa - lịch sử quy định và chủ yếu là việc đảm bảo
cho sự tác động qua lại phù họp với hiện thực xung quanh, cho sự cải
tạo có mục đích hiện thực ấy”.
Khi nói về vấn đề trí tuệ, các nhà nghiên cứu còn dùng các thuật
ngữ khác nhau như: trí khôn, trí lực, trí thông minh,...
Theo D. Wechsler trí khôn là một tổng thể của nhiều đon vị
chức năng trí tuệ, song không phải đơn thuần là tống số các khả năng
4


đó. Trí khôn của cá nhân phụ thuộc vào điều kiện văn hóa, xã hội, nơi
cá nhân đó sinh ra và lớn lên [7]. Trí khôn theo Claparede và Stern là
sự thích nghi của tinh thần đối với các hoàn cảnh mới. Còn Bushler cho
rằng trí khôn chỉ xuất hiện với những hành vi nắm hiểu đột ngột [20].
Trí lực là năng lực hoạt động tư não của cá nhân trong hoàn
cảnh nhất định. Đặng Phương kiệt [15] cho rằng, trí lực là khả năng
biết vận dụng trải nghiệm, biết vượt ra khỏi điều được tri giác và hình
dung ra những khả năng biểu tượng; trí tuệ là một cấu trúc mang tính
giả thuyết, thường tương đương với các quá trình tư duy trừu tượng ở
mức cao, toàn bộ những chức năng tinh thần có đối tượng là sự nhận
thức khác với nhận thức bằng cảm giác và trực giác; khả năng thích

Từ những trình bày trên đây có thể nói “trí tuệ” là năng lực hoạt
động trí óc của con người, các nhà khoa học đã dùng thuật ngữ “năng
lực trí tuệ” để biểu thị cho hoạt động đó. vấn đề này cũng có nhiều
quan điểm khác nhau.
Deraben thì coi trọng năng lực luyện tập. L . Terman nhấn mạnh
vào năng lực tư duy trừu tượng. V. V. Stem (1952) coi nó là năng lực
thích ứng với ngoại cảnh. A. Binet (1857 - 1911 ) lại xem năng lực trí
tuệ gồm nhiều năng lực riêng rẽ. N .X . Laytex cho rằng năng lực trí tuệ
trước hết phản ánh bản chất trí tuệ, biếu thị khả năng nhận thức lý luận
và hoạt động của con người. Một số tác giả khác lại khẳng định năng
lực trí tuệ thông qua hệ số thông minh (IQ). Sở dĩ năng lực trí tuệ được
biểu thi theo nhiều cách như vậy vì nó được biểu hiện ra nhiều mặt và
liên quan đến nhiều hiện tượng tâm lý khác nhau. Năng lực trí tuệ có
thế biếu hiện ở mặt nhận thức như: nhanh biết, nhanh hiếu, nhanh nhớ
hoặc biết suy xét nhanh chóng đế tìm ra quy luật. Năng lực trí tuệ liên
quan đến các chức năng tâm lý như nhận thức được đúng đặc điểm bản
chất của tình huống mới hoặc tự tìm ra những vấn đề cần giải quyết,
đồng thời sáng tạo công cụ mới, phương pháp mới, cách thức mới, phù
hợp với hoàn cảnh mới trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm vốn
có.
6


Ngoài ra, năng lực trí tuệ cũng được biểu hiện ở những phẩm
chất như: óc tò mò, lòng say mê, sự hứng thú, sự kiên trì, miệt mài,...
Menchinxkaia (1957): “trí tuệ là các chỉ số về độ nhanh và tính mềm
dẻo của tư duy. Nó là sự phát triển của các thành phần trực quan trừu
tượng, khả năng phân tích, tổng hợp của tư duy học sinh”. Năng lực trí
tuệ còn thể hiện qua hành động như nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng
tạo hay thể hiện ở khả năng tưởng tượng như: óc tưởng tượng phong

chung và hoạt động nhận thức của người học nói riêng [22].
Trí tuệ điều khiển hành vi của con người, do đó việc nghiên cứu
được tiến hành từ lâu. Theo Phraste (372 - 287 TCN), J. R. Levater
(Thế kỷ XVIII) là những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu trí tuệ bằng
phương pháp chẩn đoán,

về sau, đến thế

kỷ XIX khoa học chẩn đoán

trí tuệ được xây dựng trên cơ sở thực nghiệm và xuất hiện với tư cách
là một khoa học. Đồng thời với nó là sự xuất hiện và ngày càng phát
triển rộng tư tưởng đo lường trí tuệ [25]. Điều này thể hiện rõ nhất là
sau năm 1905, khi nhà tâm lý học Pháp A. Binet cộng tác với nhà tâm
lý học T. Simon thực hiện các trắc nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ
của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau ( 3 - 5 tuổi). Các yếu tố thành phần
của trắc nghiệm chính là nhằm xác định óc phán đoán và sự thông hiểu
mà A. Binet cho đó là hai thành phần quan trọng của trí thông minh.
Như vậy, lần đầu tiên xuất hiện thang đo lường trí tuệ Binet Simon. Trắc nghiệm trí tuệ Binet - Simon được tiêu chuẩn hóa đầu tiên
không chỉ vì sự thống nhất hóa bài tập và thủ tục thực hiện chúng mà cả
việc đánh giá các tài liệu thu được.
Năm 1910, H. Munsterberg (1863 - 1916) xây dựng loạt trắc
nghiệm dùng trong công tác tuyển chọn nghề nghiệp. Nó đã góp phần
đáng kế vào việc phát triển rộng rãi việc sử dụng trắc nghiệm.
Năm 1912, nhà tâm lý học Đức V. V. Stern (1871 - 1938) đã
đưa ra khái niệm về “hệ số thông minh” (IQ) và xem nó như là chỉ số
của nhịp độ phát triển trí tuệ đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó. Hệ số

8


minh.
Từ sau năm 1980 đến nay, test trí tuệ được nghiên cứu và ứng
dụng nhiều ở Việt Nam như: công trình nghiên cứu của Trần Trọng
Thủy, công trình nghiên cứu của Ngô Công Hoàn [6],... Trong số các
công trình nghiên cứu về trí tuệ những năm gần đây nổi bật lên là các
công trình nghiên cứu của giảng viên các trường ĐHSP. Đặc biệt là ở
ĐHSP Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của Tạ Thúy Lan tiến hành từ năm

9


1989 cho đến nay, đối tượng nghiên cứu của các tác giả là học sinh,
sinh viên. Hiện nay, hai cơ sở có vai trò quan trọng trong việc nghiên
cứu test trí tuệ là Viện tâm lý lứa tuổi (thuộc Viện khoa học và giáo dục
Việt Nam) và trung tam nghiên cứu trẻ em Hà Nội (N - T).
Một số trường phổ thông cũng đã sử dụng test trí tuệ trong việc
tuyển chọn học sinh như trường dân lập Mari - Quri (test Raven),
trường dân lập Đông Đô (test Gille),...
Như vậy, việc sử dụng các loại trắc nghiệm sẽ cho phép giải
quyết một cách có cơ sở và quy mô hơn toàn bộ vấn đề có liên quan
đến sự phát triển tí tuệ.
1.1.3. Các phương pháp đánh giá trí tuệ
Đe nghiên cứu và chẩn đoán trí tuệ, người ta có thể sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau như: quan sát, điều tra, thực nghiệm, trắc
nghiệm, tìm hiếu sự biến đổi điện - hóa trong hệ thống thần kinh và cơ
thể khi tiến hành các thao tác trí tuệ khác nhau [28]. Tuy nhiên, trắc
nghiệm trí tuệ (Intelligence test) là phương pháp sử dụng phổ biến hơn
cả trên thế giới và ở Việt Nam.
Nhà tâm lý học người Anh G. Galton (1922 - 1911) cho rằng,
trí thông minh được quy định bởi tính di truyền và có thể đo được. Vì

so với tuối đời. Ngay sau đó, trắc nghiệm trí tuệ Stanford - Binet trở
thành công cụ chuẩn trong tâm lý lâm sàng, tâm thần học và tư vấn giáo
dục. Đồng thời, trắc nghiệm trí tuệ Stanford - Binet còn được dung làm
kiểu mẫu để phát triển nhiều trắc nghiệm khác như: test phân tích
nghiên cứu trí tuệ của R. Meili (1982), trắc nghiệm khuôn hình tiếp
diễn của J.

c. Raven (1936) đã được sử dụng rộng rãi và hiệu quả, trắc

nghiệm trí tuệ đa dạng của R. Gille (1949), trắc nghiệm trí tuệ dung cho
trẻ từ 6 - 12 tuối

Wise (1949) và trắc nghiệm trí tuệ dùng cho người

lớn WAIS (1966) của D.Wechsler,...
Hiện nay trắc nghiệm trở thành phương pháp cơ bản của khoa
học chẩn đoán trí tuệ. Đen nay một số trắc nghiệm trí tuệ đã và đang
được thích nghi hóa và sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, trong số các trắc
nghiệm trí tuệ thì trắc nghiệm khuôn hĩnh tiếp diễn chuẩn (test Rave)
do J. c . Raven xây dựng và công bố năm 1936. Test Raven được xây


dựng trên cơ sở hai thuyết: “thuyết tri giác hình thể tâm lý học” của
Ghenxtan và thuyết “Tân phát sinh” của Getxtan và spearman.
Thuyết “tri giác hình thế” nhấn mạnh đên tính chỉnh thế, thống
nhất của các sự vật, hiện tượng được họp thành bởi các yếu tố có liên
hệ qua lại với nhau. Dựa trên quan điểm này mà J.

c. Raven đã xây


Từ thập kỷ 80 đến nay, các công trình nghiên cứu về trí tuệ ngày
càng nhiều, tiêu biểu các công trình nghiên cứu của một số tác giả như:
Trần Trọng Thủy (1989), Ngô Công Hoàn (1991), Tạ Thúy Lan (1993),
Trịnh Văn Bảo (1993 - 1994), Mai Văn Hưng (2003),...
1.2. Nghiên cứu về cảm xúc
1.2.1. Các khái niệm về cảm xúc
Mọi phản ứng của con người và động vật đều xuất hiện nhằm
đáp ứng một nhu cầu xuất hiện nào đó của cơ thế đối với tác động của
môi trường. Mỗi hành vi nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó
xảy ra đồng thời với nhũng thay đổi nhất định về mặt cảm xúc [16]. Có
rất hiều quan điểm khác nhau về cảm xúc.
Theo Palov, cảm xúc là việc đáp ứng sự đòi hỏi của cơ thể và
lòng ham muốn. Ông coi cảm xúc là các phản xạ không điều kiện. Theo
Hodge (1935). Cảm xúc chỉ xuất hiện khi ta còn nghi ngờ và do dự về
khả năng trả lời đúng với một hiện tượng nào đó. Cường độ cảm xúc tỷ
lệ nghịch với cường độ của khả năng trả lời đúng, trả lời họp lý của câu
hỏi đặt ra.
Trên cơ sở này, ông kết luận cảm xúc là sự tổng hợp không
thành công của cả bán cầu não. Năm 1946, Hebb cho rằng cảm xúc hay
hiện tượng sợ hãi xuất hiện với sự tham gia của hệ limbic.
Theo Pribram (1967), cảm xúc thế hiện mối quan hệ giữa khả
năng tiếp nhận với khả năng hành động, cảm xúc liên quan với các quá
trình thông tin và các cơ chế kiểm chứng. Điều này có ý nghĩa là cảm
xúc liên quan đến độ tin cậy của các hiện tượng, nếu độ tin cậy thấp thì
xuất hiện cảm xúc và ngược lại, nếu độ tin cậy cao thì không xuất hiện

13


cảm xúc. Do vậy, theo Pribram cảm xúc gồm hai yếu tố là nhu cầu và


Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cảm xúc như: Hà
Thanh, Ngô Công Hoàn,... Một trong những thành tựu khoa học
nghiên cứu về cảm xúc có ý nghĩa đối với tâm lý học đó là tác phẩm
“sự biểu hiện xúc cảm ở người và động vật” của

c. Dawin (1872). Các

nhà tâm lý học xã hội đã đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu sự biểu
hiện cảm xúc và những giao lưu phi ngôn ngữ, những giao lưu thường
bao gồm cả giao lưu cảm xúc (E. Kamn (1972)); Mehrakian (1972),
Exline (1971).
Tri thức về lĩnh vực cảm xúc không ngừng được tăng lên trong
những năm gần đây, tri thức được làm giàu nhờ những chuyên ngành
hết sức khác nhau. Bởi vì cảm xúc thật sự là đối tượng khoa học liên
ngành.
Những nhà nghiên cứu sinh lý học, thần kinh học, phong tục
học, tâm lý học, tâm lý sinh học, nhân cách và tâm lý học xã hội, tâm lý
học lâm sàng và tâm thần học, y học, những người phục vụ việc điều trị
tại nhà và việc bảo trợ xã hội, những người phục vụ giáo hội - tất cả
những người ấy đều trực tiếp đụng chạm đến cảm xúc. Có những nghề
chang hạn như luật sư và kiến trúc sư, có liên hệ một cách rõ rệt với các
cảm xúc, bởi vì chúng ảnh hưởng đến những động cơ và nhu cầu của
con người.
Những lĩnh vực nghệ thuật khác nhau như nghệ thuật sân khấu,
có liên quan đến các cảm xúc, đặc biệt là sự biểu hiện các cảm xúc.
Trên thực tế, khó có thể hình dung được một hoạt động nào đó của con
người, mà bằng cách này hay cách khác, không liên quan đến các cảm
xúc. Vì đối tượng của các cảm xúc được làm phong phú bởi nhiều
ngành khoa học hết sức khác nhau, cho nên khó tìm được những vấn đề

ảnh hưởng đến những quá trình của cơ thể và lĩnh vực tri giác cũng như
tới trí nhớ, tư duy và tưởng tượng của con người, các cảm xúc và các
hành động. Các cảm xúc hay các phức hợp mà con người thể nghiệm ở
một lúc nào đó thực sự ảnh hưởng tới tất cả những gì mà người đó làm
trong lĩnh vực công tác, học tập vui chơi. Khi con người thực sự thích


thú môn học, trong con người tràn đầy một nguyện vọng cháy bỏng
nghiên cứu môn học đó một cách sâu sắc. Khi ghê tởm một đối tượng
nào đó người đó cố lảng tránh nó.
Cảm xúc và sự phát triển nhân cách. Có hai loại nhân tố quan
trọng khi xem xét vấn đề về mối tương quan giữa các cảm xúc và sự
phát triển nhân cách. Loại nhân tố thứ nhất, đó là những nhân tố di
truyền của cá thể giữ một vai trò quan trọng cho việc tự tạo các đặc
điểm (hay các ngưỡng) nhạy cảm đối với cảm xúc khác nhau. Nhân tố
thứ hai, đó là kinh nghiệm riêng của cá thể và sự học tập liên quan tới
lĩnh vực cảm xúc.
Các cảm xúc và ý thức. Nhiều ý kiến cho rằng, cảm xúc có thế
xem như là một trạng thái riên biệt của ý thức.
Những phản ứng cảm xúc không chỉ ảnh hưởng tới những nét
tính cách cá nhân và sự phát triển xã hội mà còn ảnh hưởng tới mặt trí
tuệ nữa [10].
Tomkins (1962) cho rằng, cảm xúc hứng thú cũng quan trọng
đối với sự phát triển trí tuệ của bất kì người nào như là sự luyện tập thể
dục đối với phát triến thể chất.

17


C h ư ơ n g 2. Đ Ố I T Ư Ợ N G V À P H Ư Ơ N G P H Á P N G H IÊ N

102

306

rp



(ngưòi)

Sinh viên của khoa Ngữ văn xuất thân từ nhiều đối tượng có
hoàn cảnh gia đình khác nhau, thuộc nhiều tỉnh thành khác nhau và có
mức điểm tuyển đầu vào trường khác nhau giữa các khóa học.
2.2. Phương pháp nghiên cún
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang (Cross
Sectional Design), có nghĩa là các nhóm đối tượng thuộc các lứa tuối
khác nhau được nghiên cứu tại cùng một thời điểm.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Tùy thuộc vào chỉ số nghiên cứu và độ tin cậy mong muốn, cỡ
mẫu được xác định theo phương pháp của Lê Nam Trà [24] và Nguyễn
Xuân Phách [19].
Mầu được lấy theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng. Chúng
tôi tiến hành lập danh sách 3 khóa học trong khoa, rồi lập danh dách


Trích đoạn Cảm xúc của sinh viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status